Tỉnh thức (mindfulness) có là một dạng ảo giác không? Ta vẫn đang xét liệu rằng 'thức tỉnh" có phải ảo giác…
Ta vẫn đang xét liệu rằng 'thức tỉnh" có phải ảo giác hay không, trong khi ta có thể trả lời ngay rằng 'thức tỉnh' là một dạng của 'nhận thức - conciousness'.
Vậy Nhận thức có phải là ảo giác?
Cho dù các nhà khoa học có tìm hiểu sâu về não và hệ thần kinh đến đâu, tất cả những gì họ tìm thấy chỉ là các phân tử hữu cơ và cấu trúc tế bào tương tác thông qua các phản ứng hóa học. Hành động và phản ứng, thậm chí là 'nhân quả' có vẻ là những thứ hiếm hoi được lưu xuất ra bên ngoài, để cuối cùng sẽ giải thích mọi việc mà não bộ điều hướng chúng ta thực hiện. Nhưng làm thế nào để chúng ta giải thích được cách con người cảm nhận? Vấn đề khó khăn đó, được các nhà triết học cho là “nan đề”, là lý do tại sao ngay cả cho đến ngày nay với những tiến bộ vượt bậc trong khoa học thần kinh, nhiều nhà duy vật cứng rắn vẫn đang tìm kiếm một bóng ma trong cỗ máy, thứ gì đó vượt qua vật lý/hóa học nhằm trả lời câu hỏi : Nếu cái tôi là ảo giác thì là ảo giác trong tương quan với 'thực giác' nào? Liệu cái tôi không phải là một ảo ảnh, mà là một hư cấu rất có chủ ý - và hữu ích?
Hãy xem xét sự tiến hóa của não bộ. Bộ não chúng ta ngày càng lớn hơn và phức tạp hơn, ngày càng trở nên hiệu quả hơn trong việc tổ chức và lưu trữ thông tin, cuối cùng đến mức không chỉ kiểm soát được môi trường xung quanh mà còn quay trở lại thao túng chính...não bộ. Ta thử xét ví dụ sau: "Khỉ sử dụng đá để đập vỡ các loại hạt. Để điều đó xảy ra, bộ não của nó phải phát triển khả năng hoạt động trừu tượng. Hình ảnh được lưu trữ của một hòn đá phải gắn liền với ký ức đã được lưu trữ trước đó về các đặc tính của đá: mật độ, độ cứng và tác động 'phá vỡ' của nó khi dùng lực tác động lên bất cứ thứ gì mỏng manh hơn. Những nhận thức đó - hiện đã được trừu tượng hóa và hình thành - đến lượt nó cần phải được kết hợp với ký ức được lưu trữ về các loại hạt chứa các chất dinh dưỡng bên trong. Bộ não của khỉ đã trở nên đủ linh hoạt để hình dung cách một tảng đá có thể tương tác với vỏ hạt để giải phóng thức ăn bên trong - về bản chất, nó có thể vận hành một cái gọi là 'một mô phỏng tinh thần giữa đá và vỏ hạt', thu được kết quả giả định là hạt sẽ vỡ vụn, sau đó áp dụng nó vào thực tế.
Tất cả những quá trình rối rắm trên có thể được thực hiện mà không cần phải tự ý thức, giống như một bàn tay gãi ngứa theo phản xạ. Nhưng khi các cá nhân có khả năng thực hiện các mô hình phức tạp hơn sẽ lan truyền gen của họ bằng cách sống sót và sinh sản với số lượng lớn hơn, điều này cuối cùng sẽ dẫn đến chiến lược mô hình hóa phức tạp nhất: tạo ra bản ngã. Bản thân không phải là một thứ có thật, theo nghĩa là não bộ và hệ thần kinh của nó là những thứ có thật, nhưng đó cũng không phải là ảo ảnh. Đó là một mô hình (dạng thức), một 'hư cấu.' Không có gì liên tục về thực tại vật chất của chúng ta. Chúng ta tiêu thụ và loại bỏ các cấu trúc và vật liệu thực tế tạo nên cơ thể và bộ não của chúng ta cách không ngừng; kích thước, hình dạng và tình trạng của chúng ta thay đổi từ ngày này sang ngày khác. Nhưng sẽ rất hữu ích khi hình dung bản thân chúng ta như một thực thể liên tục từ thời thơ ấu cho đến khi chết hoặc lúc già nua, một 'bản sắc' có thể đã thống nhất và sắp xếp tất cả trải nghiệm lưu trữ trong não và cơ thể chúng ta. Bản sắc cá nhân cho phép chúng ta tạo ra các cấu trúc quan hệ họ hàng và xã hội cũng như định hướng về các mối quan hệ này. Lịch sử cá nhân là thứ để học hỏi và cũng được sử dụng để điều chỉnh hành vi của chúng ta trong những hoàn cảnh luôn đổi thay. Cảm giác - tình yêu, giận dữ, sợ hãi, ham muốn, tò mò - là những chữ viết tắt của các phép tính mô hình hóa phức tạp, vốn sử dụng dòng dữ liệu đầu vào cho giác quan. Bộ não của chúng ta tạo ra một 'cá tính' để đại diện cho lợi ích tổng thể tốt nhất của một sinh vật đang bị bao quanh bởi hàng tỷ xung lực cạnh tranh. Kết quả là 'cá tính' này trở thành nhân vật chính trong cuộc đời chúng ta.
Nói cách khác, về cơ bản nhất, chúng ta là một câu chuyện. Bạn có bao giờ tự hỏi tại sao chúng ta có thể quan tâm sâu sắc đến điều gì xảy ra với những nhân vật hoàn toàn được hư cấu trong tiểu thuyết và điện ảnh không? Có lẽ đó là bởi vì, với tư cách cũng là một nhân vật...hư cấu, chúng ta hiểu rằng câu chuyện về một cuộc đời, tuy hư cấu nhưng vẫn rất thực tế. Có một ảo tưởng về ý thức là chúng ta dường như đang trải nghiệm thực tế, trong khi sự thật là chúng ta đang trải qua một ảo giác có định hướng. Thực tại “ngoài kia” không có sáng hay tối, không có màu sắc, mùi vị, xúc chạm, đau đớn hay khứu giác. Não bộ tạo ra những yếu tố như vậy để cho phép một 'thực thể sống', luôn biến động về mặt sinh học, điều hướng trong thế giới hoá học một cách hiệu quả, sử dụng các cấu trúc tổng hợp để đơn giản hóa việc xử lý thông tin. Giấc mơ là trải nghiệm tương tự của một động cơ mô phỏng thực tế đó, vốn hoạt động mà không cần dữ liệu đầu vào.
Một ảo tưởng khác về ý thức là rằng: 'chúng ta là một thực thể tách biệt khỏi vũ trụ.' Sự tương phản giữa quan điểm về một trường hợp nhận thức bị khóa vào một cơ thể và cơ thể chuyển động "trong" vũ trụ cho phép chúng ta bỏ qua rằng vũ trụ, thông qua chúng ta, nhận thức được chính nó. Vậy nhận thức có thể là một ảo giác vì...là "một vật tự thân" mà qua đó con người xây dựng ảo ảnh nhị nguyên của thế giới là "vật chất" và "ý thức". Tình thế tiến thoái lưỡng nan này được giải quyết bằng cách thấy rằng vũ trụ là một ma trận luôn trong tình xử lý thông tin được kết nối với nhau (còn gọi là trường lượng tử) có tính chất phức tạp, phụ thuộc lẫn nhau.
"Ngày nay một số nhà thần kinh học cũng cho rằng nhận thức chỉ là ảo giác."
Mặc dù đúng là cơ thể và tâm trí thay đổi liên tục, nhưng dường như có 'điều gì đó' đang chứng kiến những thay đổi này. Làm cách nào khác để chúng ta có thể nhận biết được chúng ngay từ đầu? Suy cho cùng, để nhận thức được một sự thay đổi, một điều gì đó cần phải tồn tại theo thời gian để có thể so sánh trước và sau. Bất kể thứ đó tồn tại theo thời gian là gì - chứng kiến những thay đổi trong cơ thể, tâm trí và thế giới - là nhận thức hay bản ngã. Suy luận này là một trong những phản ứng thú vị của triết học Advaita Vedanta của Ấn Độ giáo đối với thách thức táo bạo của Phật học Anatta. Vậy Phật học chủ trương gì về nhận thức? Logic của triết lý Phật học đơn giản là: mọi thứ mà bạn có thể hình dung được liên kết với bản thân mình (cũng được gọi là Atman trong triết học Ấn Độ) đều thay đổi theo từng thời điểm. Cơ thể bạn thay đổi, nhận thức của bạn thay đổi và suy nghĩ của bạn thay đổi. Vì thế không có cái tôi. Học thuyết này được gọi là Anatman hay Anatta.
Một cách khác để diễn đạt...rườm rà hơn suy luận này là xem xét khái niệm 'ảo giác'. Ảo giác là những nhận thức sai lầm, những trải nghiệm không tương ứng với thực tại. Nhưng khái niệm về 'một nhận thức' lại ám chỉ đến 'một người nhận thức'. Người nhận thức này có thể không cố định theo thời gian, nhưng ít nhất rõ ràng tồn tại, phải vậy chăng? Vì vậy, các mệnh đề như “ý thức là ảo ảnh” hay “không có Ngã” thực sự nên được thông diễn như sau: "Không ai có bản chất ổn định và bất biến". Nhà vật lý đoạt giải Nobel Richard Feynman từng cả gan thể hiện khái niệm về 'ngã' cách khá thơ : “Vậy tâm trí của chúng ta là gì, những nguyên tử có ý thức này là gì? Là món khoai tây của tuần trước sao? Cái mà tôi gọi là cá tính của mình thật ra chỉ là một điệu nhảy. Các nguyên tử đi vào não tôi, nhảy một điệu nhảy rồi thoát ra ngoài - nhưng vấn đề là những nguyên tử mới đến lại vẫn nhảy điệu nhảy cũ rích ấy và không bao giờ quên điệu nhảy của ngày hôm qua."
Các nhà tư tưởng Advaita còn đi xa hơn. Họ khẳng định rằng người nhận thức sự thay đổi năng động trên thực tế là ổn định - đồng thời cũng có tính phổ quát và vĩnh cửu. Nhưng điều khó hiểu nhất là họ từng nói là "chủ thể của loại nhận thức này không có thuộc tính', đó là một loại nhận thức thuần túy nhưng không nhận thức được cụ thể bất cứ điều gì, có tên là Nirguna Brahman, nghĩa là không phải là 'nhận thức cá nhân' mà là 'nhận thức phổ quát'. Đây cũng là lý do tại sao triết lý này được gọi là 'Advaita', có nghĩa là bất nhị.
Thay vì một học thuyết bất nhị về ý thức và vật chất như phương Tây, Advaita, thú vị hơn nhiều, lại đề xuất thuyết bất nhị về Bản ngã cá nhân và Bản ngã phổ quát. Theo Advaita, các phương pháp thực hành như yoga, thiền định và thờ cúng là nhằm mục đích đạt được sự hiểu biết vượt xa tầm trí tuệ về ý tưởng này. Ta sẽ không việc gì phải thảo luận rằng các triết gia Advaita đúng hay sai vì chính việc hiểu cuộc tranh luận giữa các triết gia Phật giáo và Ấn Độ giáo sẽ mang lại một số bối cảnh thú vị cho những tuyên bố như "ý thức là ảo giác" hay "không có bản ngã".
Cr: rắn