ẢNH HƯỞNG CỦA XÃ HỘI TRÊN NGƯỜI TRẺ - PHẦN 2 (PHẦN CUỐI)
Nhìn những người trẻ lớn lên trong bầu không khí xã hội chủ nghĩa, chúng ta có thể thấy khá rõ một sự thiếu hụt sự sống nội tâm. Các bạn trẻ bận tâm về những chuyện bên ngoài hơn thế giới bên trong; tìm giải quyết vụ việc của thế giới bên ngoài hơn là khám phá ý nghĩa của chính sự việc để chọn giá trị sống cho chính mình; vui vì những thành quả bên ngoài và ít để ý đến tiếng nói của lương tâm; tìm mọi cách để đạt được điều mình muốn một cách khá lì lợm mà ít thấy “xấu hổ”. Thiếu đời sống nội tâm, người trẻ ít tự trọng, ít bị dằn vặt lương tâm; các bạn giải quyết một sự việc theo bài toán của lượng tính chứ không phải từ cảm nhận chân thật của lương tri ngay thẳng về phẩm tính... Nói chung, so với những người lớn lên trong một bầu không khí khác, ta có thể thấy các bạn trẻ Việt Nam hiện nay thiếu “tính chủ thể”, ít có khả năng đặt lại vấn đề từ cội nguồn chân lý, dễ sa vào thái độ đoàn lũ, tìm sự ganh đua trên bề mặt sự kiện hơn là lặn xuống tầng ý nghĩa nhân sinh.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
3. Hệ quả trong tâm thức con người
3.1 Thiếu hụt đời sống nội tâm
Nhìn những người trẻ lớn lên trong bầu không khí xã hội chủ nghĩa, chúng ta có thể thấy khá rõ một sự thiếu hụt sự sống nội tâm. Các bạn trẻ bận tâm về những chuyện bên ngoài hơn thế giới bên trong; tìm giải quyết vụ việc của thế giới bên ngoài hơn là khám phá ý nghĩa của chính sự việc để chọn giá trị sống cho chính mình; vui vì những thành quả bên ngoài và ít để ý đến tiếng nói của lương tâm; tìm mọi cách để đạt được điều mình muốn một cách khá lì lợm mà ít thấy “xấu hổ”. Thiếu đời sống nội tâm, người trẻ ít tự trọng, ít bị dằn vặt lương tâm; các bạn giải quyết một sự việc theo bài toán của lượng tính chứ không phải từ cảm nhận chân thật của lương tri ngay thẳng về phẩm tính... Nói chung, so với những người lớn lên trong một bầu không khí khác, ta có thể thấy các bạn trẻ Việt Nam hiện nay thiếu “tính chủ thể”, ít có khả năng đặt lại vấn đề từ cội nguồn chân lý, dễ sa vào thái độ đoàn lũ, tìm sự ganh đua trên bề mặt sự kiện hơn là lặn xuống tầng ý nghĩa nhân sinh.
Đối với Kitô giáo, “thế giới tinh thần” của con người được Thiên Chúa trao sứ mạng khám phá và làm tỏ lộ chân lý của thực tại đã được Thiên Chúa ghi khắc. Tuy nhiên, đó không phải là một thứ trò chơi tìm mật thư, vì chân lý Thiên Chúa đặt trong thực tại không phải là một công thức cố định và đã hoàn thành, nhưng là một thứ chân lý có thể được triển nở phong phú nhờ khả năng sáng tạo mà chính Thiên Chúa ban cho con người. Ta có thể tạm gọi chân lý khách quan trong thực tại là “cái chân” hay “cái lý”, còn điều con người khám phá và sáng tạo là “cái thực” hay “cái lẽ”. Cái chân là một nhưng lại có thể triển nở phong phú trong cái thực qua muôn vàn cảm nhận tinh tế và riêng tư của chủ thể người; cái lý là căn bản, nhưng lại được tiếp thu ở những khía cạnh khác nhau làm nên lẽ sống cho mỗi con người. Một đức Giêsu lịch sử duy nhất nhưng lại được đón nhận trong kinh nghiệm đức Tin khác nhau qua bốn tác giả Tin Mừng, hoặc qua thánh Phaolo và thánh Phêro… Sự phong phú ấy chẳng những không phá huỷ chân lý duy nhất khách quan, nhưng đúng là vận hành chân thực của sự sống, sao cho thực tại được chính con người nhân hoá và thánh hoá.
Sứ mạng ấy chỉ có thể có được khi con người có một thế giới nội tâm với những giá trị nhân bản và siêu nhiên chân thật, phong phú. Ngược lại, một khi bị lệch lạc trong giá trị, con người sẽ bóp méo thực tại, không tìm được ý nghĩa căn bản của thực tại và, hoặc rơi vào duy tâm, hoặc thường xuyên hơn, rơi vào thái độ duy-thực-tiễn, nghĩa là chỉ thấy những giá trị dính chặt vào mối tương tác thực nghiệm của thực tại thô. Một khi không được giáo dục những giá trị nhân bản đích thực, khi tính tập thể lấn át đời sống riêng tư, khi người ta không có hoặc thiếu hụt đời sống nội tâm, người trẻ hôm nay dễ bị cuốn hút vào cái lợi ích, cái sung sướng bên ngoài. Không có đời sống nội tâm, con người dễ đánh mất khả năng phản tỉnh và cuộc sống chỉ là chạy theo những mục tiêu thực tiễn, thực dụng, theo từng vụ việc. Có thể điều đó giải thích được phần nào tình trạng “đa nhân cách xã hội học” của con người XHCN (tạm dùng từ này để diễn tả tình trạng con người Việt Nam hiện nay quá dễ dàng thay đổi thái độ của mình trong từng hoàn cảnh mà không hề cảm thấy ngượng ngùng. Người ta có thể vừa nói đạo đức trên bục giảng rồi ngay sau đó vẫn có thể làm những điều hoàn toàn trái ngược với điều mình đã nói…).
3.2 Nỗi sợ và tâm thức đối phó
Vì cuộc sống con người luôn là một bài toán chưa có đáp số, là một hành trình chưa tới bến bờ, nên tâm hồn con người luôn có một thứ “bản năng phòng vệ”. Mỗi cuộc gặp gỡ không chân chính là mỗi lần người ta phải chiến đấu, phải suy tính cách nói, phải tìm thái độ thể hiện… Thế giới hiện đại đã đẩy khuynh hướng phòng vệ ấy lên cao, đến độ con người hiện nay luôn sống trong nỗi sợ.
Henri Nouwen, trong cuốn “Những Dấu Chỉ Của Sự Sống” nói rằng: “…trong phần lớn thời gian, người công dân thế kỷ XX sống trong nỗi sợ. Nó trở thành căn hộ thường trú của chúng ta, trở thành nền tảng của những quyết định và hoạch định của chúng ta. Cuộc sống có quá nhiều nỗi sợ; người ta hầu như lúc nào cũng có một cái gì đó làm cho sợ; chúng ta gần như không tìm thấy được một người không sợ…”
Nỗi sợ khắp nơi làm cho người ta không còn là mình, không còn có khả năng tìm lại chính nét độc đáo thân thương của mình. Đúng ra, khi chọn vào đại học, hoặc khi chọn môi trường làm việc, chọn ơn gọi gia đình hay ơn gọi tu trì…, người ta đang chọn chính mình, chọn phương cách mình là… Tuy nhiên, nỗi sợ, cùng với sự thiếu hụt tính chủ thể, khiến cho người trẻ vẫn tiếp tục chọn “cái gì” (what), chọn làm “thế nào” (how)… để đối phó với thách đố bên ngoài…; và cho dù đạt đến trình độ học vấn cao, người ta vẫn không thể đặt được câu hỏi tại sao (why) để duyệt chính cho lý do hiện hữu của mình.
Quả thật, con người chỉ là mình trong tương quan, nhưng đó là tương quan hiệp thông chứ không phải tương quan cạnh tranh. Tương quan cạnh tranh dễ làm cho người ta đánh mất ý nghĩa bản thân mình, vì lo khẳng định mình “theo đuôi” người khác; tương quan hiệp thông lại giúp ta khám phá khát vọng bên trong và giúp ta khẳng định mình trong hoàn cảnh riêng của chính mình.
Trong tương quan cạnh tranh, ta nhìn tha nhân như một người đe dọa và ta đi vào cuộc đời như một cuộc đấu tranh; trong đó, sự vươn lên của tha nhân làm cho ta sợ hãi, và sự sụp đổ của tha nhân lại làm ta khoái chí. Khi ấy, lòng ta luôn bất an, vì ta giỏi thì có người giỏi hơn ta : ta sợ người đẹp hơn ta, ta sợ người giỏi hơn ta, ta sợ người tài hơn ta, ta sợ người giàu hơn ta…; khi ấy người ta rơi vào căn bệnh “đứng núi này trông núi kia cao”, luôn thấy người khác có điều hơn mình khiến mình phải thèm thuồng; khi ấy, ngấm ngầm trong ta là một ý nghĩ ghen tỵ, cái tình cảm nhỏ nhen ấy làm cho ta buồn với sự lành và vui với sự ác nơi người khác, chứ không phải là “vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12, 15). Người ta dễ chia buồn và khó chia vui là như vậy.
Văn hoá cạnh tranh và nỗi sợ làm cho người ta không thực sự thanh thản để có thể sống-với. Khi nào con người không còn bận tâm về việc khẳng định trước mặt người khác, nghĩa là khi được thoát khỏi nỗi sợ thì con người mới có thể hiện diện với người khác một cách thanh thản và chân thật. Khi con người khám phá ra mình trong tương quan hiệp thông, người ta khám phá ra nét đẹp của bản thân mình, người ta vui thích với chính mình, và nhận ra mình có thể cống hiến cho người khác phẩm chất của riêng mình. Biết chính mình, biết hoàn cảnh và con người của mình, biết khát vọng và ý nghĩa thực sự của bản thân mình, người ta không cảm thấy tha nhân như một người đe dọa, nhưng như một người nâng đỡ; và khi đó, sự hiệp thông mới có thể bắt đầu.
3.3 “Trao đổi” lấn lướt “trao tặng”
Trao đổi là một khả năng đặc biệt của con người. Chính nhờ trao đổi mà con người có thể xây nên những công trình lớn lao của nhân loại. Tuy nhiên, trao đổi không giải quyết được tất cả vấn đề của cuộc sống con người và nhất là thế giới của sự trao đổi không phải là mục tiêu tối hậu của phận người. Thật ra, trên thế giới, chẳng nơi nào có được một sự trao đổi hoàn toàn công bằng; và nói chung, trao đổi là phương thức của kẻ mạnh. Chỉ có sự trao tặng và đón nhận với lòng tri ân mới là đời sống nghĩa tình và là tương giao chân thật ở mức độ người.
Chúng ta có thể thấy rõ sự khác biệt của hai phương thức ấy khi so sánh thế giới trong nhà và thế giới ngoài đường. Khi ta đi ra đường, mọi sự đều là đổi chác. Trong thế giới ngoài đường, từ những đồ vật cho đến thân xác con người, từ những tài năng cá nhân cho đến vị thế xã hội, và cả đức độ của một con người, tất cả đều được đưa vào bài toán kinh tế thị trường, nghĩa là được đặt lên một bàn cân để cân nhắc lời lỗ cho một cuộc trao đổi. Nét đặc trưng của việc buôn bán này là làm sao hai bên cùng có lợi. Mặt khác, việc mua bán đổi chác ấy luôn là chuyện thời vụ, hiểu theo nghĩa là trong từng “hợp đồng” có tính tương đối ngắn hạn, bởi vì đó không phải là giao ước đụng chạm đến bản thân.
Trong khi đó, khi về đến gia đình, người ta sống trong một bầu không khí khác, bầu không khí của một sự chấp nhận bản thân của nhau. Khi đó, những tương quan hằng ngày không còn phải là đổi chác nhưng là trao tặng.
Cuộc trao đổi của thế giới ngoài đường không đụng đến được bản thân của con người, chỉ là những trao đổi những sự vật (sự vật là tất cả những gì không phải là chính bản thân của con người). Trong thế giới trao đổi sự vật đó, nếu người ta có xúc phạm đến phẩm giá tha nhân, hoặc đối xử lịch sự với nhau, thì thật ra đó cũng chỉ là chuyện “lễ nghĩa” mà thôi. Trên nền tảng ấy, cuộc đối thoại ngoài đường thật ra cũng chẳng phải là cuộc đối thoại thoả mãn được khát vọng sống với của con người.
Ở trong gia đình, người ta chấp nhận bản thân của nhau. Nơi đây, những gặp gỡ, trao đổi hằng ngày, không phải là trao đổi nhưng hướng mở tới một sự liên kết sâu hơn, làm dày lên nghĩa tình trong hành trình cuộc sống. Trong gia đình, mọi “trao đổi sự vật” chỉ là một cách diễn tả của bản thân cho nhau; trong khi đó, nơi thế giới ngoài đường, chính bản thân lại có nguy cơ bị giản lược vào “sự vật” để đổi chác.
Có thể nói chiều sâu của cuộc khủng hoảng xã hội hiện nay chính là sự đảo lộn giá trị giữa trao đổi và trao tặng. Từ thập niên 60 của thế kỷ trước, khi cô sinh viên 19 tuổi Francoise Sagan đưa ra một thứ chủ trương mà người ta gọi là “sự vật hoá tình dục”, tình dục không còn là “trao thân – gửi phận” cho nhau trong đời sống hôn nhân như truyền thống, mà chỉ đơn giản là món đồ chào mời nhau, như điếu thuốc hay một ly nước…, từ khi đó đến nay, thứ văn hoá trao đổi đã càng ngày càng xâm chiếm mảnh đất của trao tặng. Người ta trao đổi mọi thứ, “cái gì không mua được bằng tiền thì mua được bằng rất nhiều tiền”. Hiện nay, chính tình yêu cũng bị sự vật hoá thành một hợp đồng trao đổi sòng phẳng. Tình yêu theo quan niệm Kitô giáo, không bao giờ có thể trao đổi được, vì tình yêu đích thực hướng tới việc hình thành một “cộng đồng ngôi vị”, mà ngôi vị là một phẩm giá vô giá không thể trao đổi được, chỉ có trao tặng trong tự do và chỉ được lãnh nhận với lòng tri ân. Giới trẻ hiện nay phải chăng đã đánh mất ý nghĩa của trao tặng bản thân trong tương quan tình nghĩa?
Nếu Đức Giêsu đã công bố Nước Trời trong thế giới của “chữ Phúc”, thì người Kitô giáo cũng tin chắc rằng cuộc sống nhân sinh chỉ có thể được giải quyết trong nguyên lý trao tặng, nhờ nối kết vào sự trao tặng của Thiên Chúa, Thiên Chúa đã trao tặng chính Con Một của Ngài cho nhân loại.
“Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hoà giải với Người, phương chi bây giờ chúng ta đã được hoà giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy” (Rm 5,10).
3.4 Bài toán thay thế câu chuyện
Bình thường, một bài toán đúng chỉ có một kết quả. Trong bài toán, khi có những dữ kiện, thì kết quả gần như đã có rồi. Những cách giải toán dù có biến thiên hay khác biệt nhau thế nào, thì cũng vẫn chỉ là một lô-gíc cố định, đưa tới đáp số đã có và chỉ có thể đi đến đáp số ấy mà thôi.
Câu chuyện thì khác. Câu chuyện luôn bất ngờ. Người ta tò mò hoặc say sưa đọc truyện, nghe chuyện vì muốn biết được kết cục của câu chuyện, vì muốn nhìn thấy một kết cục mới lạ... Khi mà tác giả tìm thấy những tình tiết vừa chân thực, vừa "hợp lý", lại vừa tạo nên một sự chuyển hóa thật ly kỳ thì câu chuyện trở nên hấp dẫn và có giá trị...
Cuộc đời con người không phải là một bài toán đúng nghĩa, nhưng là một câu chuyện đúng nghĩa. Một con người là một huyền nhiệm và một cuộc đời luôn hàm chứa những bất ngờ, luôn ẩn chứa một hoặc nhiều khả năng "sáng tạo". Sự có mặt của một con người nào đó chính là dấu chỉ xuất hiện một cái mới, một bắt đầu mới và luôn có thể trở nên mới...
Câu chuyện của mỗi con người có những tình tiết riêng và mỗi tình tiết, cho dù là những tình tiết xấu hay tốt về mặt thể lý hay luân lý, cũng đều góp phần làm nên bản sắc và vận mạng của chính nhân vật ấy. Cái mới đích thực của đời người luôn gắn liền với “con người tại thế”, nó nẩy sinh từ chính những dữ kiện cụ thể của lịch sử và cách mỗi người lý giải những dữ kiện ấy trong tự do. Câu chuyện đời luôn đón nhận nguồn cội trong dòng lịch sử thật, nhưng lại luôn hàm chứa những yếu tố, những cách lý giải có thể khác, luôn có thể vượt qua thứ lô-gíc toán học để bay lượn trong bầu trời của tự do. Con người ta có tự do, và phương thức giải toán đời người trở nên thiếu sót; đáp án đời người trở thành một tác phẩm nghệ thuật được sáng tạo với tất cả tài năng của người nghệ sĩ chứ không phải là một thành quả kỹ thuật được xếp hạng cao thấp...
Mỗi con người chính là người kể chuyện đời mình. Mỗi người là một đạo diễn, là một tiểu thuyết gia, là người nghệ sĩ đích thực trên chất liệu cuộc đời mình. Thiên nhiên và xã hội cung cấp cho con người những dữ kiện, nhưng chính con người mới là kẻ cấu trúc nên câu chuyện đời mình. Người ta thường nói "xấu nhưng cấu trúc đẹp", đó cũng là cách nói thay cho kiểu nói "nhất dáng nhì da"... và cách nói chơi đùa ấy cũng có thể hàm một ý nghĩa "triết lý" sâu xa. Chất liệu làm nên bức tranh hoặc pho tượng nào đó có thể không tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là người ta không thể tạo nên được một tác phẩm nghệ thuật tuyệt hảo. Với con người, điều đó càng đúng hơn rất nhiều, nếu người ta bỏ đi được cách nhìn so sánh thô thiển, nếu người ta đừng đánh giá được thua theo tiêu chuẩn của một thứ thành đạt xã hội nào đó.
Thế giới hiện đại càng ngày đánh mất ý nghĩa của câu chuyện và càng ngày người ta càng chuẩn hoá cuộc sống theo một bài toán. Các bạn trẻ là những người bị thúc bách do bài toán cuộc đời nhiều hơn hết. Các bạn vừa không có được kinh nghiệm của một nếp sống an hoà như các cha anh, lại vừa phải bước vào đời trong sự cạnh tranh khốc liệt, nên càng dễ rơi vào cách nhìn cuộc đời như một bài toán, tính toán cuộc đời như một kỹ thuật, và văn hoá thời đại lại cung cấp cho các bạn mọi thứ “kỹ thuật” (hiểu là mưu mẹo) phi nhân.
3.5 Sung sướng mà không Hạnh phúc
Nói chung, người ta đồng ý với nhau về khát vọng sâu xa nhất của con người là hạnh phúc, nhưng người ta lại khó đồng ý với nhau về bản chất của hạnh phúc. Chính sự mập mờ ấy đưa đẩy con người vào những nẻo đường tìm hạnh phúc khác nhau, và dĩ nhiên cũng đưa đến những kết quả khác nhau. Chúng ta thử tiếp cận vấn đề bằng cách so sánh hạnh phúc với sung sướng:
- Hạnh phúc thì không đo đếm được, trong khi sung sướng thì đo đếm được;
- Hạnh phúc xuất phát từ ý nghĩa và đó là ý nghĩa dính dáng tới vận mạng của cả một phận người, trong khi sung sướng chỉ là kết quả của một bài toán so sánh;
- Hạnh phúc mang lại động lực sung mãn cho sự sống trong khi sung sướng chỉ làm thoả mãn và làm cạn kiệt sinh lực;
- Hạnh phúc và sung sướng không đương nhiên tỷ lệ thuận với nhau; nhưng thường là tỷ lệ nghịch với nhau. Con người có cứu cánh là hạnh phúc và sung sướng chỉ chân chính khi được bao bọc trong hạnh phúc. Người nào đi tìm sung sướng ngoài hạnh phúc thì sẽ dần mất khả năng nếm cảm hạnh phúc đích thực.
Trong thế giới xô bồ nhiễu nhương ngày nay, ta thấy phần lớn các bạn trẻ không phân biệt được hạnh phúc và sung sướng, không đủ sức mạnh để dám sống niềm hạnh phúc trước sức mạnh nghiệt ngã của qui luật xã hội và dư luận… nên cũng buông theo cuộc chạy đua tìm sung sướng mà không hạnh phúc…
Một số bạn trẻ khác, để đối phó với thế giới xô bồ và nhiễu nhương, đã cố gắng tìm những hoàn cảnh an ổn, tận hưởng những niềm vui đơn giản và thanh thản khi có thể… đó là những phương cách tìm hạnh phúc bằng những “chuyện trong tầm tay”…
Ta cũng thấy một số khác, ít hơn, khao khát muốn tìm hạnh phúc bằng những phương thức rèn luyện nội tâm, thiền hay yoga… để tìm hạnh phúc bằng một tâm hồn thanh thịnh, vững vàng trước áp lực của cuộc sống quá xô bồ… Đây là những nỗ lực đáng trân trọng…
Như thế, nếu quả thực hạnh phúc là khát vọng sâu xa nhất của đời người, thì tình trạng hiện nay trong đất nước Việt Nam cũng có thể thấy các bạn trẻ ngày nay đang đứng trước một sự rối rắm, hỗn độn về chính ý nghĩa của đời người.
Thật ra, hạnh phúc là khát vọng sâu xa và trọn vẹn của đời người, hạnh phúc ấy gắn liền với cứu cánh. Người ta được hạnh phúc khi bắt đầu nếm cảm được ý nghĩa trọn đời mình đã được hé lộ, nghĩa là sự thành toàn của cả một vận mạng đời người, mặc dù chỉ mới ở dạng “men”, dạng “hạt”. Tình trạng lầm lộn hạnh phúc với sung sướng cho thấy rõ sự thiếu hụt cảm quan về cứu cánh của con người ngày nay.
4. Thử khám phá những nguyên nhân gây bùng phát
Đọc nhật báo, người ta có thể thấy những sự kiện nóng bỏng của thời cuộc, nhưng đó là những sự kiện đơn lẻ. Đọc tạp chí, người ta sẽ dễ thấy hơn mối liên kết của nhiều sự kiện đơn lẻ và có thể nhận ra những “vấn đề”. Tuy nhiên, những vấn đề xã hội hoặc tâm lý luôn nằm trong giới hạn của một loại đối tượng, trong một không gian và thời gian xác định, chẳng hạn tình trạng xuống cấp đạo đức nơi giới trẻ (đối tượng cụ thể) tại Việt Nam (không gian) hiện nay (thời gian). Nếu lặn xuống sâu hơn nữa, người ta có thể khám phá những vấn đề thật ra cũng chỉ là biểu lộ những thách đố muôn thuở của phận người. Chính ở tầng sâu này, người ta có thể khám phá ra một thứ khủng hoảng chân lý chứ không phải chỉ là khủng hoảng xã hội hoặc chỉ là khủng hoảng tâm trạng của một con người. Chính ở tầng sâu này, người ta không chỉ khám phá ra “phẩm tính luân lý” mà còn nhận thấy “phẩm tính siêu hình” của phận người.
Thật ra, hầu hết những “sự kiện” lẻ tẻ đều gắn liền với “vấn đề”; và các vấn đề thì luôn dính dáng đến “thách đố muôn thuở” của phận người. Một khi triết lý về con người bị lệch lạc, xã hội sẽ nẩy sinh vấn đề và sẽ bùng phát thành những sự kiện. Những thách đố muôn thuở của nhân loại luôn xuất phát từ quan niệm triết học về con người, quy luật ấy hình như được kiểm nghiệm một cách rõ ràng trong bầu khí một quốc gia xã hội chủ nghĩa, khi mà tất cả triết học và tất cả những ngành nghiên cứu hoặc những giá trị được cổ võ trong cuộc sống đều được hướng dẫn do một nền triết học duy nhất. Ở Việt Nam hiện nay, chúng ta cũng có một “cơ may” đặc biệt để thử khảo sát đời sống của các bạn trẻ được sinh ra, lớn lên và được giáo dục hoàn toàn trong môi trường xã hội chủ nghĩa; nơi mà, ở các lớp phổ thông, triết học duy vật là triết học duy nhất được giảng dạy; ở các lớp đại học, triết học duy vật là triết học duy nhất đúng; trong đời sống xã hội, triết học duy vật là nguyên lý duy nhất hướng dẫn và giải quyết mọi vấn đề…
Con người vẫn luôn là kẻ đi đường. Con người phải mò mẫm và sai lạc thì cũng vẫn là chuyện bình thường của đời người. Nhưng người ta có thể nhận ra một sự bùng phát về sự ác trong đất nước chúng ta trong vài thập niên gần đây. Có một hoặc nhiều nguyên nhân nào trực tiếp làm gia trọng tình trạng đạo đức xã hội không?
4.1 Con người cần quy chuẩn tuyệt đối và chân thực
Con người hiện diện trong thế giới này luôn phải đối diện với nhiều cái mênh mông vô tận, cái mênh mông vô tận của không gian, của thời gian, của biết bao giá trị và của chính bản thân con người. Những tiến bộ về khoa học thực nghiệm của thời Cận đại Tây phương đã từng tạo ra ảo tưởng rằng con người có thể khám phá tất cả mọi sự và thống trị mọi sự. Tuy nhiên, đến thế kỷ XX, người ta đã thấy tham vọng đó là một ảo tưởng khá ngây ngô.
Trong cái mênh mông vây bọc, làm sao con người có thể sống được nếu không có điểm quy chiếu tuyệt đối? Không có điểm quy chiếu tuyệt đối mang tính siêu hình, có tính cách vững bền, thì cuộc sống con người sẽ chỉ là những tình huống đối phó nhất thời. Điều đó sẽ phân mảnh chính thân phận con người nói chung và phân mảnh mỗi con người. Đó là điều mà Thomas Hobbes nói tới con người ở giai đoạn tự nhiên, khi đó, con người là chó sói đối với con người (homo homini lupus).
Chính vì con người không thể sống trong thế giới ấy, ta thấy, theo ghi nhận của K Jaspers, xuất hiện Thời Trục, từ khoảng thời gian từ thế kỷ VIII tcn đến thế kỷ II tcn, khoảng thời gian mà, trong các nền văn minh lớn, Trung Hoa, Ấn Độ, Ba Tư, Hy Lạp, Israel…, con người bắt đầu tìm được những quy chuẩn siêu hình làm nền tảng cho dòng lịch sử, và toàn bộ lịch sử phát triển của nền văn minh sau đó đều xoay quanh những quy chuẩn ấy…
Nếu theo nhận định của Jaspers, Thời Trục là thời gian “xuất hiện những con người đích thực mà chúng ta còn chịu ảnh hưởng cho đến ngày nay”, và đó là quãng thời gian “đâu đâu cũng thấy con người ý thức về toàn diện sự hữu, về chính họ và về những giới hạn của họ”, thì chúng ta có thể nhận ra thời kỳ này là giai đoạn con người thực hiện được những cuộc đột phá mang tính “siêu hình”, nghĩa là con người không còn hoàn toàn bị dính vào những hoàn cảnh cụ thể, những ứng xử tuỳ thời, nhưng khám phá ra những giá trị căn bản của “sự hữu”, của bản chất con người, vượt qua cả sự sống và cái chết.
Quả thật, người ta nhận ra trong Thời Trục sự “lên ngôi” của một số giá trị làm nên nền tảng căn bản cho cuộc sống nhân sinh và đồng thời, cũng chân nhận hành trình đời người gắn liền với những giá trị “siêu hình” ấy. Từ đây, giá trị nhân tính được xác định và là mục tiêu tối hậu trong cuộc sống, trở thành chuẩn mực nhân linh căn bản. Dù hoàn cảnh lịch sử có tạo nên nhịp điệu “lắc lư” của giá trị ấy, nhưng cuộc sống vẫn không thể tách rời cái giá trị căn bản mang ý nghĩa như căn tính của phẩm giá con người.
Chính điểm quy chiếu tuyệt đối và vững bền ấy là hạt nhân cho triết học về con người, hạt nhân của “thách đố muôn thuở của phận người” có tầm quan trọng nền tảng của mọi thực trạng xã hội.
Theo triết học Mác-xít, con người vừa là thành phần của giới tự nhiên, vừa mang bản chất xã hội. Hai yếu tố tự nhiên và xã hội tương tác làm nên ba hệ thống chi phối toàn bộ đời sống con người: 1/ Hệ thống các quy luật tự nhiên, đó là con người sinh học; 2/ Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội, với yếu tố quan trọng nhất là lao động sản xuất; 3/ Hệ thống các quy luật tâm lý, đó là con người trong ý thức với những yếu tố tình cảm, khát vọng, ý chí.
Ba yếu tố ấy hoà với nhau để làm nên cuộc sống con người, trong đó, những khát vọng sinh học của con người cần được nhân hoá để mang những giá trị văn minh của xã hội con người. Nhưng ngược lại, nhu cầu xã hội không thể tách biệt khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học…
Tuy nhiên, điều ta có thể thấy rõ là, theo triết học Mác, tất cả những yếu tố làm nên con người, chỉ có điểm quy chiếu tuyệt đối là tính vật chất. Có thể, trong một thời đại mà cuộc sống tương đối ổn định và có một đại đa số những con người trong xã hội có thể sống những giá trị “văn minh” một cách hài hoà với nhu cầu sinh học, thì người nào không hoà được vào cuộc sống ấy sẽ bị loại trừ, và lợi ích chung được bảo đảm. Khi đó, chính nề nếp xã hội là quy chuẩn cho cá nhân và cho từng tình huống mà cá nhân phải xử lý. Tuy nhiên, từ khoảng giữa thế kỷ XX, cuộc sống của thế giới không còn ổn định nữa. Thế giới biến chuyển quá nhanh, mọi dự đoán tương lai đều có nguy cơ sai lạc, hình ảnh phát triển của lịch sử không còn là một đường thẳng uốn lượn nhưng là sự phát triển hình nan quạt, trong đó một yếu tố bất ngờ nào đó bỗng có thể trở thành đường hướng chủ đạo. “Lý thuyết hỗn độn” đã trở thành nguyên lý giải nghĩa vận hành của thế giới hiện đại… Trong thế giới này, mọi xã hội, tự nó, vốn đã không thể là quy chuẩn tuyệt đối cho chính mình, và nếu không tìm thấy một quy chuẩn nào khác bên trên mình, chắc chắn sẽ trở nên hỗn độn và không thể trở thành quy chuẩn cho những cá nhân trong xã hội.
Chúng ta có thể thấy rất nhiều hiện tượng bộc lộ tình trạng mất quy chuẩn trong xã hội Việt Nam hôm nay:
- mặc dù theo nguyên tắc, đạo đức Mác-xít gắn liền với lợi ích, nhưng để cổ võ một thái độ hy sinh anh hùng, hoặc đề cao một giá trị tốt đẹp trong xã hội, người vô thần cũng lại phải nại vào những nguyên lý hy sinh, vô vị lợi... là những điều khó có thể dung hợp được với quy chuẩn vật chất;
- không ít người chủ trương vô thần trong lý thuyết nhưng lại tìm an toàn cho đời sống hằng ngày bằng đủ mọi hình thức mang tính mê tín;
- con người quá dễ dàng giết nhau, triệt hạ nhau bằng những trò bẩn thỉu, hiện tượng tiền bạc làm “mờ mắt” hầu hết các người có chút điều kiện để ăn bẩn;
- hiện tượng gian dối như chuyện thường ngày;
- hiện tượng tràn lan những người dám làm những chuyện độc hại nguy hiểm đến tính mạng và sức khoẻ của người khác chỉ để kiếm lợi…
Rõ ràng là những hiện tượng ấy biểu lộ tình trạng mất quy chuẩn vững bền của xã hội. Tình trạng đó có dính dáng đến chủ trương chỉ dạy duy nhất một học thuyết vô thần trong các trường trung học không ? Quả thật, để sống trọn học thuyết vô thần, con người phải có một “trình độ” tư cách rất rất cao. Trong xã hội nhiễu nhương, mọi nỗ lực gọi là “nhân hoá theo đà văn minh”… sẽ đổ sụp, tạo nên một tình trạng bùng phát sự ác.
Đức Gioan Phaolô II nói: “Ở đâu con người nghiệm thấy lời mời gọi đi đến cái tuyệt đối và siêu việt, là nó đã được thoáng nhìn thấy chiều kích siêu hình của thực tại: như trong điều chân và mỹ, trong những giá trị luân lý, trong ngôi vị của tha nhân, trong chính hữu thể, trong Thiên Chúa”. Quả thật, luân lý, hoặc nói chung chân thiện mỹ, phải gắn liền với chiều kích tuyệt đối, gắn liền với dấn ấn “siêu việt”, và điều đó làm nên nét đặc trưng của phẩm giá con người.
Ngược lại, trong xã hội nhiễu nhương của đất nước chúng ta, hoặc là người ta mất quy chuẩn, hoặc là người ta phải trở về với quy chuẩn vật chất, và cả trong hai trường hợp đó, trong lòng con người, mọi sự đều “được phép”, nếu như, bên ngoài, người ta có thể tránh được sự trừng trị của luật pháp. Trong tình trạng ấy, một số người sẽ phải biến những chuẩn mực nào đó của Đảng trở thành tuyệt đối, một cách giáo điều và đầy tính “siêu hình”. Ngược lại, một số khác sẽ vận dụng tính biện chứng như phương cách để phá đổ mọi nguyên tắc siêu hình về đạo đức, chứ không phải để phát triển một giá trị chân chính nào cả. Tóm lại, trong một thế giới hỗn độn hiện nay, nếu không có chuẩn mực siêu hình chân thật, người lại phải trở về với nguyên lý vật chất như một nguyên lý “phi-nhân” (theo ý nghĩa nền tảng là không có con người), cùng với tất cả những hệ luỵ “phi-nhân” tất yếu (với ý nghĩa không xứng đáng với phẩm giá con người).
Quy định chỉ dạy duy nhất một học thuyết duy vật trong giáo dục và chỉ áp dung duy nhất một nguyên lý duy vật cho toàn xã hội, chắc chắn, hoặc đưa đến như một hậu quả đương nhiên, hoặc được xác định rõ ràng như một chính sách, thái độ thù hận với mọi tôn giáo và loại trừ mọi tư tưởng khác. Điều đó, về bản chất, có lẽ không khác gì với “toà án dị giáo” trong thời Trung Cổ Tây Âu mà các sách triết học và sử học trong xã hội này không ngừng chửi rủa.
Có lẽ nhận ra được nguyên nhân sâu xa của tình trạng xuống cấp đạo đức của đất nước Việt Nam hiện tại bắt nguồn từ những nền tảng triết lý, nên đã có một số tác giả khẳng định phải tìm lại yếu tố siêu hình. Tác giả Trần Nguyên Việt, trong khi cố gắng nối kết những giá trị truyền thống của dân tộc với những giá trị của nhân loại nói chung để lý giải sự khủng hoảng đạo đức hiện nay, đã viết:
“Cái được toàn thể loài người chấp nhận từ các nền văn minh khác nhau, trong đó có cái đạo đức mà chúng ta đang đề cập tới luôn mang tính bền vững và ổn định cao, đồng thời tồn tại một cách khách quan, không phụ thuộc vào tính dân tộc, tính giai cấp và thể chế xã hội của bất cứ dân tộc nào. Nó mang tính giá trị cao bởi vì tính chất nền tảng của đạo đức nhân văn trong việc ổn định và phát triển các mối quan hệ giữa các cộng đồng người trên hành tinh, giữa toàn thể nhân loại với môi trường sinh thái hoàn cầu”.
Những giá trị phổ biến ấy đặt nền tảng luân lý mang tính “siêu hình” trong lương tâm con người chứ không phải là những giá trị ngẫu nhiên và tùy thời của môi trường kinh tế hay hoàn cảnh xã hội. Chính vì thế, Đỗ Minh Hợp khẳng định “siêu hình học, về nguyên tắc, là không thể loại ra khỏi tồn tại người”, và sau khi đã minh chứng trong suốt bài viết về khẳng định ấy, tác giả Đỗ Minh Hợp kết luận:
“Trong con người luôn có nhu cầu siêu việt hoá – vượt ra khỏi giới hạn của tồn tại hiện có. Và chỉ có siêu hình học mới đáp ứng bằng cách tìm tòi các nền tảng văn hoá của tồn tại người. Văn hoá tồn tại người được coi là con đường siêu việt hoá của con người, và do vậy, siêu hình học biến thành siêu hình học văn hoá. Toàn bộ nhân học hiện đại, về thực chất, là cái đóng vai trò siêu hình học hiện đại”
Chúng ta có thể thấy dấu ấn “siêu việt” trong trong những nền văn hoá khác nhau như một giá trị tuyệt đối vượt trên những biến thiên của môi trường, của hoàn cảnh, vượt trên “bài toán” phản ánh của thế giới hiện thực khách quan vào ý thức con người. Con người cần phải thực hiện vận mạng của mình, cần phải bảo vệ phẩm giá của mình, và điều đó là một đòi hỏi vượt trên cả chính sự sống của mình nữa.
4.2 Con người cần lãnh nhận chân lý
Một nền triết học lấy quy chuẩn tuyệt đối là vật chất đương nhiên cũng không thể đạt đến được thái độ tôn trọng. Không có Thượng Đế, nhân phẩm và nhân quyền chỉ còn dựa vào tính-loài như một thành phần của thiên nhiên và nhờ vào sự công nhận của Nhà Nước về phẩm giá người. Nhưng nhà nước cũng chỉ là một hiện tượng không vững bền trong dòng lịch sử, nó đến và nó đi, nó có thể thế này và thế kia… tuỳ theo lực lượng và tương quan sản xuất của xã hội…. Con người như thế không có phẩm giá người như một giá trị tự tại và vững bền. Từ đó, nếu để ý phân tích theo kiểu hiện tượng luận, người ta có thể thấy hệ quả trong thực tiễn của lập trường giản lược quy chuẩn tuyệt đối vào vật chất đưa tới sự thiếu hụt tính tôn trọng, thiếu hụt sự tôn trọng đối với con người như một phẩm giá bất khả xâm phạm và thiếu hụt sự tôn trọng thực tại đích thực. Trong khi thế giới, cụ thể là triết học Tây phương, từ thế kỷ XX, đã cảm nhận được, và tương đối đồng thuận với nhau, về một chiều kích “huyền nhiệm” của thực tại, thì học thuyết Mác vẫn còn duy trì hầu như nguyên si một “niềm tin” quá lạc quan về sức mạnh của khoa học thực nghiệm. Mặc dù khoa nhận thức luận Mác-xít luôn khẳng định về nền tảng hiện thực và qui chuẩn của hiện thực, nhưng hiện thực ấy lại không thể thoát ra khỏi chân trời vật chất và chỉ là một hiện tượng mỏng manh trong quá trình biện chứng, nên người ta dễ dàng sử dụng hiện thực, thậm chí là thường xuyên tuyên truyền để bẻ quặt ý nghĩa khách quan của hiện tượng cho mục tiêu chính trị.
Đối với con người, nền tảng duy vật khó lòng giúp người ta tìm được một nền tảng siêu hình cho phẩm giá một con người, một phẩm giá cần được tôn trọng hơn mọi kết quả thực nghiệm nào. Người theo chủ nghĩa Mác-xít khó lòng đạt được nhận thức về “chữ nhân” như giá trị siêu việt nơi mỗi cá nhân, nhưng chỉ giải quyết tương quan con người bằng lập trường “bạn ra bạn, thù ra thù”, và cũng bấp bênh theo thời cuộc để đổi bạn thành thù, đổi thù thành bạn, chứ không tìm được thái độ tôn trọng mọi người, trong khát vọng “tứ hải giai huynh đệ”. Không đạt đến giá trị của chữ nhân, người ta quá dễ dàng sử dụng những “con dê tế thần” để đạt được mục đích chính trị. Những quyết định theo kiểu “phải giết 200 ngàn người để đổi lấy 20 năm ổn định” (quyết định của Đặng Tiểu Bình trong cuộc thảm sát Thiên An Môn) dĩ nhiên là giải pháp trong những tình huống khó khăn; tình huống khó khăn đối với những người lãnh đạo như thế cũng giống như tình trạng xã hội nhiễu nhương đối với người dân, và phần nghiêng ngả về mục tiêu chính trị dễ dàng chiếm nhiều ưu thế hơn phần giá trị nhân bản.
Học giả Đỗ Duy Minh nói về việc khám phá khái niệm “nhân” nơi đức Khổng Tử:
“Sự tập trung vào tính chất quan trọng hàng đầu và tính đa diện phong phú của khái niệm nhân trong Luận Ngữ là một biến cố vĩ đại trong vũ trụ, biểu tượng của tư duy Trung Quốc thời cổ và rõ ràng cho thấy rằng sự đột phá này mang tính siêu nghiệm theo ý nghĩa là khái niệm Nhân, lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, nhằm chỉ định một giá trị tối hậu vượt qua cả sự sống và cái chết. Khổng Tử nói: “Một bậc thức giả cương quyết và một con người có lòng nhân sẽ không bao giờ tìm cách sống mà để làm hại lòng nhân. Anh ta thà là hi sinh cuộc sống của mình để thực hiện lòng nhân”.
Nói tóm lại, vì thiếu sự tôn trọng, nhận thức luận Mác-xít, cả trong lý thuyết và trong hiện thực, vẫn thường mang dáng dấp “đánh ai vì cái gì” chứ không phải lập trường “đánh cái gì vì ai”, chiều hướng ấy phản ảnh thái độ đối phó hoặc bằng cách chế tạo ra chân lý, hoặc quá dễ dàng cho rằng mình đã chiếm hữu được chân lý; ngược với thái độ trân trọng chân lý, khiêm tốn lãnh nhận chân lý và buông mình theo chân lý.
Người dân miền nam, khi bắt đầu tiếp xúc với văn hoá XHCN sau biến cố tháng 4-1975 đã dùng kiểu nói mô tả cung cách mới là “nói dzạy mà không phải dzạy”; nguyên bí thư thành uỷ Nguyễn Thiện Nhân đã nói với đồng bào cử tri quận 2 chiều 20-6-2018 : “tôi nói giọng Bắc, nhưng tôi người Nam, tôi không gạt bà con đâu”, ông Nguyễn Phú Trọng nói chức tổng bí thư “phải là người miền Bắc, có lý luận”…, những điều đó vừa phản ảnh văn hoá vùng miền, vừa phản ảnh lich sử chính trị tại Việt Nam, nhưng chắc cũng phản ảnh một cảm nhận về nét tư duy của người sống trong nền văn hoá “xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa”. Ngay trong cung cách sống hằng ngày, người ta vẫn có thể nhận ra người thấm nhuần lối sống XHCN vẫn thường tỏ ra khôn khéo, giỏi tính toán làm thế nào để đạt được mục đích của mình hơn tinh thần tôn trọng, “chiều theo” phẩm tính chân thực của thực tại khách quan.
Những lệch lạc như thế ảnh hưởng trên mọi người trong các nước XHCN, nhưng chắc chắn là ảnh hưởng sâu xa và mạnh mẽ nhất nơi giới trẻ.
Tạm kết
Nếu con người Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ, đã chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực của xã hội, trong đó có phần không nhỏ của học thuyết Mác, ít là trong chủ trương độc quyền tư tưởng của nhà nước, thì thật ra, ta cũng phải nói là Giáo hội Việt Nam cũng liên đới trách nhiệm không nhỏ với tình trạng ấy.
Vấn đề sâu xa mà đức J. Ratzinger đã nói trong tác phẩm “Đức Tin Kitô giáo, hôm qua và hôm nay”, có lẽ là vấn đề “ngôn ngữ thần học”. Theo ngài, ngôn ngữ thần học, giáo lý của chúng ta giống như ngôn ngữ của một anh hề, và mặc dù chúng ta muốn công bố ý nghĩa thực tại, nhưng người nghe lại cứ tưởng ta đang diễn kịch…
Giáo hội Công giáo Việt Nam chắc chắn là đã chưa giải gỡ được thách đố này, vì đó là vấn đề khó khăn của cả Giáo hội toàn cầu, nhưng điều quan trọng hơn là hình như Giáo hội Công giáo Việt Nam vẫn chưa nhận ra hoặc chưa nhìn thấy tầm quan trọng của thách đố ấy.
Có lẽ vì chưa nhận ra được thách đố ấy nên đời sống đức Tin vẫn mang dáng vẻ đi bên lề cuộc sống thực, và chúng ta vẫn không thấy được dấu hiệu của một chiến lược để đối phó với trào lưu trần tục hoá nói chung và những thách đố nguy hiểm trong xã hội Việt Nam.
Trong bài thuyết trình tại đại học Sorbonne năm 1999 (bài số 5), hồng y J. Ratzinger, lấy lại lập trường của thánh Âu-tinh để khẳng định bản chất của đức Tin trong truyền thống Do thái - Kitô giáo là đồng hành với các triết gia trong thứ “thần học tự nhiên” (theologia naturalis) để đi tìm ra logos đích thực của thực tại và mang lấy trách nhiệm dẫn đưa lịch sử nhân loại đến thành toàn trong nhiệm cục Cánh Chung chứ không phải là thứ “làm thần học thần bí” (theologia mythica), hoặc “làm thần học dân sự” (theologia civilis). Có lẽ mỗi người giáo sĩ Việt Nam đều phải “đấm ngực” vì đã “làm thần học” không chuẩn trong kinh nghiệm đức Tin và trong lời giảng của mình, và vì thế mà Giáo hội Việt Nam cũng chưa thể trở nên lời chứng cho ơn cứu độ mang tầm mức biến đổi thực tại xã hội.
Giuse Nguyễn Trọng Viễn O.P
Chú thích:
[17] Henri Nouwen, Những dấu chỉ của sự sống, tr. 11-12.
[18] Tạm nói có ba loại lịch sử: Khoa “sử học” tìm cách sắp xếp những dữ kiện trong quá khứ; “sử quan” hay triết học về lịch sử là những quan niệm triết học về diễn tiến của lịch sử nhân loại; và “sử tính” là tính lịch sử như một chiều kích căn bản của hữu thể người. Con người chỉ là mình trong sử tính, qua chính lịch sử cuộc đời mình… Cách nói “câu chuyện” là một cách trình bày về sử tính của con người và thế giới của con người.
[19] Xc. Phần 1.3, Dáng đi đích thực của con người.
[20] Karl Jaspers, Triết Học Nhập Môn, bản dịch của Lê Tôn Nghiêm, Nxb. Ca Dao 1974, trang 194.
[21] Như trên, trang 194.
[22] X. Edward N. Lorentz – Cha đẻ của Lý thuyết hỗn độn (Chaos theory). https://www.mathvn.com/2009/03/edward-n-lorentz-cha-e-cua-ly-thuyet.html
[23] Gioan Phaolô II, Thông điệp Đức Tin và Lý trí, số 83.
[24] Tiến sĩ triết học, Trưởng phòng Nghiên cứu Triết học Việt Nam, Viện Triết Học.
[25] Trần Nguyên Việt, Giá Trị Đạo Đức Truyền Thống Việt Nam và Cái Phổ Biến toàn Nhân Loại của Đạo Đức trong nền Kinh tế Thị Trường. Triết Học, 5/2002, Viện Triết Học, Trung Tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Quốc Gia, trang 20.
[26] Đỗ Minh Hợp, “Siêu Hình Học: tồn tại hay không tồn tại”, Tạp chí Triết Học, Viện Triết Học, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, số 7/2002, trang 53.
[27] Đỗ Minh Hợp, Sđd, trang 53.
[28] Giáo sư Đỗ Duy Minh, Đại học Harvard, bài tham luận “The Way, Learning, and Politucs in classical Confucian Humanism”, tại hội nghị về “The Axial Age and its Diversity”, Hamburg, Germany, từ ngày 4 đến 8 tháng Giêng, 1983. Xc. Dương Ngọc Dũng – Lê Anh Minh, Triết giáo Đông Phương, Nxb. Đại Học Quốc Gia, Tp Hồ Chí Minh, 2003, trang 242-243.
[29] Luận Ngữ 15:8.
[30] Xc. http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/bi-thu-nguyen-thien-nhan-can-bo-phai-biet-so-khi-dan-khong-hai-long-371977.html
[31] Xc. Joseph Ratzinger, Đức Tin Kitô giáo Hôm qua và Hôm nay, bản dịch của Athanasio Nguyễn Quốc Lâm, NXB Tôn Giáo Hà Nội, 2009, trang 38.
[32] Xc. Phan Tấn Thành, “Tuyên xưng Chân lý Kitô giáo trong một thế giới đa nguyên theo quan điểm của Đức Bênêđictô XVI”.