TÔN GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG HIỆN ĐẠI VẤN ĐỀ THẾ TỤC HÓA TRONG KITÔ GIÁO TÂY PHƯƠNG
Khái niệm “thế tục hóa” [sécularisation] xuất phát từ văn hóa Tây phương và được khảo cứu đặc biệt trong lòng thế giới Tây phương chịu ảnh hưởng sâu xa của Kitô giáo. Như thế, hiện tượng “thế tục hóa” trước tiên nhằm diễn tả sự giảm sút ảnh hưởng của Kitô giáo trên nhiều phương diện, trong một tiến trình lịch sử lâu dài và trải rộng trong nhiều lãnh vực.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
1. Tình hình chung hiện nay
Khái niệm “thế tục hóa” [sécularisation] xuất phát từ văn hóa Tây phương và được khảo cứu đặc biệt trong lòng thế giới Tây phương chịu ảnh hưởng sâu xa của Kitô giáo. Như thế, hiện tượng “thế tục hóa” trước tiên nhằm diễn tả sự giảm sút ảnh hưởng của Kitô giáo trên nhiều phương diện, trong một tiến trình lịch sử lâu dài và trải rộng trong nhiều lãnh vực.
Tuy nhiên, cùng với trào lưu hiện đại hóa của thế giới, cũng như ảnh hưởng lấn át của văn hóa Tây phương trên toàn thế giới, người ta cũng thấy hiện tượng tương tự trong hầu hết các tôn giáo hiện nay.
Trước khi là một lý thuyết, thế tục hóa là một hiện tượng thực tế của cuộc sống, một sự kiện xã hội, một tình trạng tâm lý, một xu hướng tư duy khá phổ biến. Có thể nói đây là một trong những nét đặc trưng của xã hội và con người thời đại. Trào lưu thế tục hóa gắn liền với thời đại khoa học kỹ thuật, với tinh thần duy lý, với thái độ thực dụng, với tinh thần hưởng thụ, với khuynh hướng đô thị hóa, với nền kinh tế thị trường, với xã hội tiêu thụ… Tất cả những yếu tố ấy làm nên một tổng thể, một trào lưu chung của thế giới; chúng gắn liền với nhau, tương tác lẫn nhau và tạo môi trường phát triển cho nhau. Do vậy, muốn nghiên cứu hoặc muốn tác động lên một yếu tố nào, chúng ta cần phải nhìn ra những mối liên hệ chằng chịt của những hiện tượng xuanh quanh ấy.
Hơn nữa, ngay chính trào lưu thế tục hóa cũng bao gồm nhiều khía cạnh, nhiều yếu tố khác nhau :
- Các sinh hoạt tôn giáo càng ngày càng ít người tham dự, nhiều nhà thờ bị bán đi để dùng vào mục tiêu khác, hoặc đóng cửa và để cho khách tham quan như một di tích lịch sử. Tại Tây phương, người ta nói rằng nhiều người tín hữu chỉ còn đến nhà thờ ba lần trong đời : sinh ra – kết hôn- và qua đời; những lần đến nhà thờ hiếm hoi như thế cũng chỉ còn là một hình thức văn hóa truyền thống hơn là xuất phát từ niềm tin tôn giáo. Cuộc sống thực tế ngày càng tất bật, đua tranh, nhu cầu thăng tiến xã hội trở thành một nhu cầu cấp bách, nên thời gian dành cho sinh hoạt tôn giáo của người tín hữu cũng thưa dần, mọi lễ nghi đều phải rút ngắn, gọn gàng…
- Đối với một số khá đông tín hữu, việc tìm đến tôn giáo như một sự trợ đỡ trên hành trình cuộc sống cũng không còn thiết thực. Người ta không còn hoặc ít cần đến các ân phúc của Chúa qua các sinh hoạt phượng tự; ít mong chờ nơi Chúa một sự hướng dẫn trên đường đời; người ta không tìm thấy nơi đời sống cầu nguyện một sự gặp gỡ thân tình để tỏ bày những u uẩn sâu xa trong tâm hồn. Ngược lại, tất cả cuộc sống được tính toán theo tinh thần thực dụng, mọi giải quyết đều có thể tìm được từ khoa học, mọi nhu cầu đều có thể được thỏa mãn bằng các phương tiện kỹ thuật tân tiến….
Mặt khác với những ưu tư đầy ắp trong tâm trí, nhiều tín hữu cảm thấy bầu khí, ý nghĩa, các giá trị tôn giáo như thuộc về một thế giới khác, thế giới “khảo cổ”. Nhiều người chỉ giữ đạo vì thói quen hoặc vì sợ hãi hình phạt chứ không còn là một lòng thành kính đối với Thiên Chúa.
Về phương diện lịch sử, trào lưu thế tục, ban đầu, chính là một phản ứng chống lại chuẩn mực giá trị thời Trung Cổ Tây Âu. Trong xã hội-tôn giáo Trung cổ Tây Âu, người ta phân chia người Kitô hữu thành hai loại, những “con người thiêng liêng” [gồm các tu sĩ và sau đó là hàng giáo sĩ] và “con người xác thịt” [là các người giáo dân]; hai loại người này sinh hoạt trong hai lãnh vực khác nhau, lãnh vực những ơn phúc thiêng liêng và lãnh vực những công việc trần thế. Khi ấy, việc phân chia như thế cũng diễn tả một cách đánh giá theo một chuẩn mực giá trị : chỉ những gì là thiêng liêng mới có giá trị; sinh hoạt trần thế chỉ là chuyện bất đắc dĩ, là lãnh vực của những thực tại “chóng qua”, của vũng lầy nước mắt, lãnh vực của người giáo dân. Sinh hoạt trần thế phải qui hướng về những thực tại liêng thiêng; những người sống trong trần thế không tìm thấy ý nghĩa tôn giáo trong trách vụ hằng ngày của mình, và ai muốn nên thánh phải bắt chước càng nhiều càng tốt cách sống của những “con người thiêng liêng”. Khi ấy, trong số những sinh hoạt trần thế, chỉ có một trách vụ duy nhất được chúc phúc, đó là trách vụ làm vua để cai quản đất nước.
Trong bối cảnh tôn giáo - xã hội ấy, thế tục hóa là một trào lưu đi ngược lại chuẩn mực giá trị thời Trung cổ; trào lưu này, nói chung, có tính như một phản ứng và đi đến những lập trường triệt để : những giá trị tôn giáo không còn hấp dẫn; người ta muốn làm giầu và muốn thăng tiến hơn là muốn nên thánh; giá trị một con người thánh thiện cũng bị coi nhẹ so với những giá trị cụ thể “sờ thấy được” như giầu có, thành đạt; người ta không còn mấy mơ ước cuộc sống mai sau, nhưng phấn đấu để đạt đến nước thiên đàng trong cuộc sống hiện tại …
Tuy nhiên, trào lưu ấy cũng có tác dụng như một sự thay đổi lành mạnh để tái lập thế quân bình : lãnh vực trần thế tìm thấy giá trị của nó, đời sống của người giáo dân được đề cao, những trách nhiệm xây dựng cuộc sống, làm đẹp bộ mặt trần gian được công nhận và khuyến khích. Đặc biệt, nhiều giá trị của Kitô giáo, trước đây được nhìn trong bầu khí thánh thiêng, huyền hoăc, như một thứ công đức để được phần thưởng mai sau, nay được nhìn trong khía cạnh những giá trị nhân bản có khả năng biến đổi cuộc sống tốt đẹp hơn, chẳng hạn đức khó nghèo, đức khiết tịnh, sự tha thứ . . .
2. ý nghĩa thế tục hóa
2.1. Tầm nguyên
Các từ ngữ sécularisation [thế tục hóa] hay sécularisme [duy thế tục] đều bắt nguồn từ tiếng la tinh saeculum; hạn từ này, theo nguồn gốc, có nghĩa là “hành vi sinh sản” [acte de génération]; rồi phát xuất từ đó, nó còn mang ý nghĩa là “quãng thời gian của một thế hệ” [la durée d’une génération], và sau cùng nó mang ý nghĩa “kỷ nguyên”, hay “niên đại” [ère].
Đây là một từ ngữ có ý nghĩa đặc thù trong môi trường thần học Kinh Thánh – Kitô giáo, đặc biệt là trong thần học của St. Paul, để chỉ “thế giới hiện tại bị tội lỗi thống trị”. Sau đó, trong thời đầu của thời Trung cổ, từ ngữ saeculum được các giáo phụ sử dụng để chỉ thế giới mà người ta phải xa lánh, thế giới của những chuyện trần gian như chính trị, kinh tế, gia đình.... Như thế, từ một quan niệm trong Kinh Thánh có tính chất luân lý [không phải tất cả thế giới, nhưng là một lối sống của một thế giới hư hỏng vì tội lỗi] từ ngữ đã chuyển sang ý nghĩa không gian và thời gian cụ thể, nghĩa là tất cả những sinh hoạt trần thế trong cuộc sống trần gian đều trở thành xấu xa.
Đây là một sự thay đổi ý nghĩa quan trọng, có tầm ảnh hưởng rộng lớn. Trong ba thế kỷ đầu tiên, Kitô giáo bị nhiều cuộc bách hại do chính quyền Roma, người tín hữu và hàng giáo sĩ phải sống chui rúc, trốn tránh trong những hang toại đạo, và một số lớn bị bắt, bị giết chỉ vì niềm tin của mình. Khi ấy người Kitô hữu nhìn xã hội trần thế, mà đại diện chính là đế quốc Rô-ma, như một thế lực xấu xa, gian ác cần phải bị loại trừ. Mặt khác, trong khi tìm cách giải thích niềm tin của mình với thế giới bên ngoài, Kitô giáo đã tìm đến với tư tưởng của triết gia Platon, nhất là trào lưu tân- Platon [tức học thuyết của Plotin]. Tư tưởng Platon vốn đề cao thế giới ý tưởng và coi tất cả thế giới cụ thể, vật chất, hữu hình là “vật giới”, là ảo ảnh, là lầm lạc, là xấu xa cần phải xa tránh. Chính những ảnh hưởng này đã làm nên tiêu chuẩn giá trị căn bản cho tôn giáo - xã hội thời Trung Cổ Tây âu. Người ta đồng hóa cái thiện với cái thiêng liêng, cái thuộc về Giáo hội; và đồng hóa cái ác với cái vật chất, với trần thế. Con đường nên thánh trở thành con đường xa lánh ba lực cản trở chính : ma quỉ – thế gian – xác thịt.…
Từ đó, suốt thời Trung Cổ, Giáo Hội Công giáo sử dụng từ ngữ thế tục như một phạm trù đối lập với đời sống tu sĩ [khi ấy từ ngữ thế tục hóa có nghĩa như là giáo dân hóa / laicisation]; hoặc đối lập với thẩm quyền của Giáo hội về phương diện chính trị.
Các tu sĩ từ bỏ đời sống tu, trở về cuộc sống giáo dân được gọi là hồi tục [saecularisatio/ sécularisation].
Rồi khi các các thế lực chính trị chống lại Giáo Hội và xâm chiếm những tài sản của Giáo Hội, thì từ ngữ thế tục hóa [saecularisatio/sécularisation] được dùng để chỉ việc lấy các đồ dùng thánh để sử dụng trong cuộc sống thường ngày. Từ hậu trường chính trị ấy, người ta ghi nhận rằng chẳng có gì ngạc nhiên khi những người trong Giáo hội, bị tước đoạt tài sản, đã quan niệm mọi thứ tiến trình thế tục hóa theo nghĩa xấu và đáng lên án.
Do ảnh hưởng của triết học Hy Lạp, dần dần từ ngữ thế tục hóa được chuyển sang ý nghĩa văn hóa và tinh thần. Chẳng hạn, từ sécurisation trong Pháp ngữ xuất phát trực tiếp từ “séculier”, và có nghĩa là phàm tục [profane], thuộc về thế giới [mondain], đối lập với “thánh thiêng”. Từ ngữ thánh thiêng [sacré] chỉ điều gì thuộc về một trật tự dành riêng, tách biệt, không thể vi phạm và cần phải được người tín hữu tôn kính một một thái độ tôn giáo. Ngược lại, từ ngữ séculier lại bao hàm việc quan tâm đến những gì bên ngoài cái thiêng thiêng. Sự phân biệt phạm vi như thế mở rộng ra thành một sự đấu tranh của hai bình diện : khi chân trời trần tục mở rộng thì chân trời thánh riêng hạn hẹp và ngược lại. Đường ranh giữa cái thánh thiêng và cái trần thế nằm giữa một bên là cái gì vững bền, còn một bên là những gì mau qua.
2.2 Ý nghĩa thế tục hóa ngày nay
2.2.1 Theo nghĩa chung
Trong sự đối lập với cái thánh thiêng ta có thể hiểu thế tục hoá là tiến trình làm cho những điều trước đây không thuộc về trần thế - cái thánh thiêng, cái siêu nhiên, tính chất thần thánh - nay trở thành những sự kiện, sự vật của trần thế này.
Thế tục hóa diễn tả một quá trình tách lìa tất cả những lãnh vực hiện hữu của con người ra khỏi mối tương quan với niềm tin Kitô giáo mà trước đây nó từng vay mượn ý nghĩa. Đây là một cách đánh giá lại về thế giới và cấu trúc của thế giới. Thế giới được xem xét trong sự tự lập và trong những giá trị nội tại của nó.
2.2.2 Theo nghĩa triệt để
Thế tục hóa theo nghĩa triệt để, thường được diễn tả bằng từ “sécularisme” [duy thế tục], nghĩa là lập trường cắt đứt một cách dứt khoát với tôn giáo, hoàn toàn đặt mình trong thế giới trần thế, từ chối mọi ý nghĩa tôn giáo hoặc ý nghĩa siêu việt trong cuộc sống. Đôi khi nó cũng được dùng để chỉ lập trường chống lại thực tại thánh thiêng, ủng hộ cho những thực tại trần thế. Từ giữa thế kỷ XIX, người ta hiểu ý nghĩa từ “duy thế tục” theo ý một ý thức hệ được xác định rõ ràng, đó là thái độ chống tôn giáo.
2.2.3 Theo nghĩa văn hóa
Thế tục hóa dùng để chỉ những gia sản văn hóa trước đây của Kitô giáo [thái cử, ngôn ngữ, những biểu tượng về thế giới] nay được hiểu, được sử dụng hoàn toàn độc lập với văn mạch của đức tin. Chẳng hạn việc sử dụng những điển tích trong văn chương Kitô giáo, những đề tài, những con số, những hình ảnh biểu tượng, niên lịch Kitô giáo, những phong tục trong các dịp lễ . . . Nguồn gốc tôn giáo của chúng chỉ có ý nghĩa lịch sử, không còn là nguyên lý giải thích. Việc sử dụng công lịch, trưng bầy cây thông và ông già Noel trong dịp lễ Giáng Sinh chẳng hạn không đương nhiên có nghĩa là bày tỏ niềm tin Kitô giáo.
2.2.4 Theo nghĩa tôn giáo chuyên biệt
Trong nội bộ Kitô giáo, nhất là với giáo hội Tin Lành, nhiều nhà thần học coi trào lưu thế tục hóa như một cơ may để tìm lại niềm tin chân chính, gạt bỏ khỏi niềm tin những râu ria, những cặn bã, những lệch lạc. Có một vài cách hiểu như sau :
+ Tiến trình thế tục làm cho ta thấy rõ niềm tin đích thực khác với các hình thức biểu hiện có tính tôn giáo. Niềm tin là thái độ của tâm hồn chứ không phải chỉ là những tổ chức, những lễ nghi. Như thế, những người này muốn đối nghịch giữa niềm tin và [sinh hoạt] tôn giáo.
+ Một số người lại muốn tìm một diễn ngữ khác, họ phân biệt giữa tôn giáo và thánh thiêng. Trào lưu thế tục hóa góp phần bảo vệ những đòi hỏi chân chính của tôn giáo, chống lại những úy kỵ mơ hồ, những giá trị thánh thiêng nặng nề, những biểu hiện rườm rà dựa vào sức mạnh thánh thiêng nào đó.
+ Giới công giáo lại coi trào lưu thế tục hóa là một tiến trình hợp pháp và cần thiết, đó là một nẻo đường đúng đắn giúp ta khám phá khuôn mặt của Thiên Chúa trong cuộc sống thực, miễn là đừng rơi vào thái độ “duy thế tục”. Công Đồng Vatican II xác định :
“Sự độc lập đúng mức của các thực tại trần thế.
“Tuy nhiên, nhiều người đương thời dường như e ngại rằng sự liên kết chặt chẽ giữa hoạt động của con người và tôn giáo sẽ làm ngăn trở sự độc lập của con người, của xã hội hoặc của khoa học.
“Nếu sự độc lập của các thực tại trần thế có nghĩa là các tạo vật và các xã hội đều có những định luật và những giá trị thiêng liêng mà con người phải khám phá dần dần, sử dụng và điều hòa, thì đòi hỏi một sự độc lập như thế là một việc hoàn toàn chính đáng : đó là ý muốn của Tạo Hóa. Thực vậy, chính vì được tạo dựng mà mọi vật đều có sự vững chãi, chân thực và tốt lành cùng những định luật và trật tự riêng. Con người phải tôn trọng tất cả những điều ấy, phải nhìn nhận các phương pháp cá biệt của mỗi khoa học và kỹ thuật {. . . ].
“Nhưng nếu “sự độc lập của thực tại trần thế” có nghĩa là : các tạo vật không lệ thuộc Thiên Chúa và con người có thể xử dụng chúng mà không cần qui hướng về Đấng Tạo Hóa, thì không một ai nhìn nhận Thiên Chúa lại không thấy rằng lập trường đó hết sức sai lầm…”.
3. Những nguyên nhân và hoàn cảnh
3.1 Giáo lý căn bản của Kitô giáo
Người ta thấy rằng, trào lưu thế tục hóa, cũng như trào lưu vô thần [xét như một học thuyết vô thần], là những sản phẩm đặc trưng của Kitô giáo. Chính giáo lý Kitô giáo đã góp phần đặt nên những vấn đề, tạo nên những tình huống làm nẩy sinh trào lưu vô thần cũng như trào lưu thế tục hóa.
Nhiều tôn giáo khác nhìn thấy thần thánh trong các sự vật thiên nhiên, cây đa, ngọn núi giòng sông, … con người phải cung kính và tôn trọng những sự vật ấy. Còn người Hy Lạp thì quan niệm trật tự của thiên nhiên chính là trật tự của thần thánh, và một số những vật thiên nhiên, các tinh tú chẳng hạn, chính là thần thánh, cao trọng hơn con người. Trước thế giới thiên nhiên ấy, con người cần phải cung kính và học hỏi và tuân phục.
Trong khi đó, Do thái - Kitô giáo, ngay từ nguyên thủy đã cho rằng Thiên Chúa sáng tạo con người để làm chủ tất cả thế giới thiên nhiên. Con người là kẻ đặt tên cho muôn vật, là kẻ được giao nhiệm vụ thống trị, uốn nắn và sử dụng thiên nhiên. Do đó, thiên nhiên bị tước bỏ mọi sự huyền bí, thánh thiêng. Tất cả vấn đề đối với thiên nhiên chỉ còn là làm chủ, theo ý muốn của Chúa mà thôi. Chính quan niệm của Kinh Thánh và giáo lý Kitô giáo trong những thế kỷ đầu của kỷ nguyên đã là một thái độ thế tục hóa sâu xa.
Mặt khác, cũng chính giáo lý căn bản của Kitô giáo đã vẽ nên một chiều kích lịch sử xuyên suốt toàn bộ thế giới : thế giới được Thiên Chúa sáng tạo tốt đẹp, rồi thế giới bị hư họai do tội lỗi, thế giới ấy lại được cứu độ để hoàn tất trong ngày chung cuộc. Sơ đồ căn bản ấy vẽ nên một chiều hướng lịch sử theo đường thẳng, theo đó, chính thế giới, chính cuộc sống trần gian phải được hoàn thành trong viễn tượng chung cục, chứ không một thế giới đi theo vòng tròn vô tận, không phải một thế giới bị bỏ mặc để tiêu tan trong hư vô. Ý nghĩa ấy, cho dù có bị phôi pha trong thời Trung Cổ do ảnh hưởng của triết học Platon, vẫn luôn là giáo lý căn bản, theo đó, chính cuộc sống, chính dòng lịch sử của nhân loại cần phải được cải tạo, dìu dắt và được cứu độ. Điều đó đã trở thành một ngòi nổ sẵn sàng cho trào lưu thế tục hóa về sau.
“cần phải hiểu toàn diện tính cách hiện đại như một hệ quả trần tục hóa của niềm tin Kinh Thánh”.
3.2 Lịch sử
Trong chiều kích lịch sử, trào thế tục hóa đã được sinh ra từ sự tan rã tính thống nhất của thời Trung cổ. Trong thời Trung cổ, toàn bộ thế giới, dù được nhìn dưới khía cạnh nào, triết học, văn hóa, khoa học, mỹ thuật… được giải thích ăn khớp với nhau trong một hệ thống; toàn bộ sinh hoạt xã hội, chính trị, luật pháp đều liên kết mật thiết với nhau và qui hướng về một mục tiêu chung. Thế nhưng, thời Phục hưng đã phá vỡ sự thống nhất ấy, và xuất hiện từng bước chân phiêu lưu của con người ra ngoài khuôn khổ truyền thống : thiên văn học, vật lý học, y học, văn học, nghệ thuật đều dần dần tìm thấy nẻo đường riêng, nguyên lý riêng, phương pháp riêng, “niềm vui” riêng. Điều đó có dáng vẻ như một sự “bừng tỉnh của thế giới”, theo từ ngữ của Weber. Từ nay, người ta không còn hiểu thế giới và con người khởi từ nhãn quan Kitô giáo. Người ta lao vào các lãnh vực phiêu lưu theo tư cách là những lãnh vực độc lập hóa và khác biệt.
Tiến trình này đương nhiên làm cho Giáo Hội Kitô giáo không còn là thế lực bao trùm toàn bộ đời sống, nhưng dần dần trở thành một nhóm có tính cách thành phần và riêng biệt bên cạnh những nhóm khác trong xã hội.
3.3 Chính trị
Trên bình diện chính trị, sau một thời gian đấu tranh giữa thần quyền và thế quyền, dần dần, các quốc gia tìm được sự độc lập của mình đối với giáo hoàng Rô-ma. Cuộc cách mạng Pháp 1789 đã là một biến cố khởi đầu tạo nên một làn sóng lan tỏa khắp nơi để đi đến chỗ tách rời hoàn toàn giữa Giáo hội và nhà nước. Quốc gia trở thành một thực thể độc lập, có những phương cách tổ chức và đường lối chính trị hoàn toàn theo qui luật tự nhiên.
3.4 Văn hóa
Sự phát triển mau chóng của khoa học thực nghiên khiến cho các hiện tượng không còn được giải thích theo tính chất huyền nhiệm như là sự tỏ hiện của của thực tại siêu nhiên. Người ta có thể thí nghiệm, chứng minh, và tìm thấy những định luật thiên nhiên vững bền chứ không phải ý muốn ngẫu hứng của Thượng Đế trong khoa học.
Rồi cả những môn khoa học nhân văn như tâm lý, sư phạm, nghệ thuật và văn chương và triết học cũng dần dần tìm thấy mảnh đất riêng của mình tách khỏi sự chi phối của tư tưởng tôn giáo,
Nói chung, người ta nhận thấy có thể tìm thấy sự hợp pháp hoàn toàn trong việc giải thích sự kiện bằng những qui luật nội tại của trần gian mà không cần nại đến những yếu tố tôn giáo hay thánh thiêng. Các qui chiếu tôn giáo dần dần trở thành những tiêu chuẩn ngoại tại chứ không còn là tiêu chuẩn thế giá căn bản như thời Trung cổ. Quá trình ấy không khỏi gây nên một số khác biệt, một số xung đột với uy quyền của Giáo Hội Công Giáo Rô-ma.
3.5 Triết học
Từ thế kỷ XIII, học thuyết Aristote thay thế học thuyết Platon trong vai trò chỉ đạo bầu khí triết học Trung cổ. Khác với tinh thần siêu thoát của Platon, tinh thần của Aristote là tinh thần thực nghiệm, khoa học. Học thuyết Aristote từ chối qui chiếu bản chất thế giới này vào thế giới ý tưởng, nhưng tìm thấy qui luật hữu thể ngay trong lòng thực tại cụ thể trần gian. Sự vật được nhìn trong chính nó với cấu trúc nội tại của nó. Khi triết học Kinh viện chấp nhận học thuyết Aristote, đây đã là một khúc quanh có tính quyết định về phương diện tư tưởng cho trào lưu thế tục hóa, bởi vì nó mang lại một lối nhìn lạc quan về thế giới và về lịch sử nhân loại. Tiến trình này, đặc biệt chịu ảnh hưởng của St. Thomas.
Tuy nhiên thời điểm bùng phát mạnh mẽ nhất chính là có ý nghĩa nhất trong tiến trình này chính là việc du nhập những phương pháp khoa học vào phong cách suy tư triết lý Trung Cổ vào thế kỷ XVI và XVII [Descartes, Bacon, Galilée…]. Khoa học trở nên tiêu chuẩn của chân lý, điều gì đúng thực là điều phù hợp với kinh nghiệm. Điều huyền nhiện trở thành “có vấn đề” cần phải giải quyết. Khoảng không giành cho thần thánh bị giới hạn dần đến chỗ biến mất.
Các ý tưởng của thế kỷ Ánh sáng [thế kỷ XVIII] càng thúc đẩy mạnh mẽ hơn tiến trình này. Người ta thấy việc tìm cách giải thích thế giới, giải thích những huyền nhiệm của thế giới bằng lý trí là một sứ mạng của triết gia. Vị Thiên Chúa của mạc khải trở thành vị Thiên Chúa của lý trí con người, hoặc chỉ là một phóng ảnh của chính những khao vọng sâu xa trong con người mà thôi [Feuerbach]…
Thêm vào tiến trình phức tạp này, người ta còn nhận thấy hai trào lưu tư tưởng :
- Giải trừ huyền nhiệm : nghĩa là giản lược tất cả những thực tại tôn giáo vào điều gì có thể diễn tả theo lý trí. Người ta loại trừ chân lý tôn giáo khỏi lớp vỏ huyền nhiện và thay thế nó bằng một sự hợp lý cao.
- Chủ nghĩa duy nhiên [naturalisme] muốn giải thích lại kinh nghiệm tôn giáo bằng những thuật ngữ hòan toàn tự nhiên. Các khái niệm lâu đời của tôn giáo được thay bằng khái niệm thuộc lãnh vực “nhân tính” và “xã hội”. Khuynh hướng này đã nở rộ vào thế kỷ XIX, với chủ nghĩa Kitô giáo mới của Saint Simon, với tôn giáo thờ nhân loại của A. Comte và sự đồng hóa giữa đối tượng của tôn giáo với xã hội của E. Durkheim.
3.6 Tâm thức con người hiện đại
Trong xã hội hiện đại, trào lưu thế tục hóa được tiếp sức và trở nên như một trào lưu không thể đảo ngược. Rất nhiều yếu tố của đời sống hiện đại tạo nên một thế lực chống lại cái thánh thiêng.
Sự phát triển của khoa học là mỗi ngày mỗi lớn mạnh hơn. Khoa học chẳng những giải thích mọi sự, nhưng còn có thể chứng minh nhiều điều bằng những thành quả cụ thể, rõ ràng. Thêm vào đó, khoa học tạo nền tảng cho những phát triển phong phú, độc đáo, của kỹ thuật. Tất cả đời sống con người được vây bọc trong những thành quả của kỹ thuật, những bộ máy càng ngày càng tự động hóa… Mặc dù, hai cuộc thế chiến của thế kỷ XX khiến cho người ta có phần bớt hứng thú đối với khoa học; mặc dù trào lưu hiện sinh luôn nhắc nhở con người về một khía khía cạnh huyền nhiệm, phi lý, bi đát của cuộc sống, nhưng khoa học vẫn không ngừng tiến bộ, tinh thần lạc quan của khoa học lại có thể mau chóng lấy lại sức lực. Thêm nữa, khoa học được tiếp sức bằng những phát triển tột bực của kỹ thuật, xây dựng nên một nền văn minh khoa học kỹ thuật xâm chiếm mọi lãnh vực.
Tinh thần duy lý càng ngày càng phổ biến. Mọi lý giải về mọi vấn để đề phải đạt mức độ hợp lý và trở thành tiêu chuẩn duy nhất của chân lý.
Tiến trình đô thị hóa, xã hội hóa, kỹ nghệ hóa… càng ngày càng lớn và đưa đến não trạng tiêu thụ, khởi dậy niềm khao khát sống thoải mái, hưởng thụ..
Tất cả những điều ấy được nhân lên gấp bội nhờ các phương tiện truyền thông hiện đại, phong phú.
Tất cả những điều ấy làm cho trào lưu thế tục hoá, từ là một trào lưu của những người ưu tuyển, trở thành hiện tượng của quần chúng; từ lập trường triết lý chống lại Thiên Chúa, dần dần trở thành một sự từ chối trong thực tế, dửng dưng trước tôn giáo, không thấy cần đến thần linh trong đời sống thường ngày. Người ta không cần chống lại thần thánh, người ta chỉ không cần đếm xỉa đến thần thánh nữa.
4. Thái độ của các Tôn giáo
Với một cái nhìn sơ lược, người ta dễ cho rằng tiến trình thế tục hóa thực sự thực hiện điều A. Comte, với qui luật tạm trạng, đã tiên báo. Tuy nhiên, trong thực tế, người ta thấy vấn đề phức tạp hơn nhiều.
“Những nếu quan niệm rằng thế tục hóa là quá trình phát triển của các định chế thoát khỏi ảnh hưởng của tôn giáo, thì cũng cần tránh thái độ xem quá trình bành trướng của lãnh vực thế tục là chỉ báo của vô tôn giáo [irreligion]”.
Ngược lại, đứng trước những biến đổi của thời đại, các tôn giáo cũng chuyển mình để thích ứng. Nói chung, qua trào lưu thế tục hóa, người ta thấy các tôn giáo tỏ ra quan tâm đến nỗ lực xây dựng trần thế nhiều người, người tín hữu thay vì tìm cách thoát tục, lại nhận ra sứ mệnh xây dựng cuộc sống để “làm đẹp bộ mặt trần gian”.
“đó là việc hướng tôn giáo quan tâm đến các vấn đề trần thế hơn, thay vì chỉ chú trọng tới cuộc sống bên kia, một ý tưởng sẽ được tiếp nối trong những thập kỷ cuối thế kỷ này trong xu thế mà các nhà nghiên cứu gọi là “thế tục hóa tôn giáo”.
Các nhà lãnh đạo ở Malaysia đã biết vận dụng giáo lý Hồi giáo nhằm ổn định tình hình chính trị cũng như phát triển kinh tế, đây là một thực tế mà người ta “có thể nghiên cứu và kiệm nghiệm”
Cũng thế, sự ra đời của Tông phái Phật giáo Viên ở Hàn quốc, tìm cách cải cách Phật giáo thành một tôn giáo nhập thế, nỗ lực hành động để xây dựng Niết Bàn trần thế, trong đó, con người sống no đủ trong yêu thương và hạnh phúc.
Giáo Hội Công giáo, mà công cuộc đổi mới được bộc lộ rõ nét nhất trong Công Đồng Vatican II, cũng xác định một chiều hướng “mở ra với thế giới” và góp phần xây dựng cuộc sống trần gian.
“Nhưng sự trông đợi trời mới đất mới không được làm suy giảm, trái lại phải kích thích nỗ lực phát triển trái đất này, nơi mà Thân thể gia đình nhân loại mới đang tăng trưởng và tiến báo một vài hình ảnh của thời đại mới”.
Kết
Có lẽ chúng ta dễ dàng chấp nhận rằng trào lưu thế tục hóa như một hiện tượng có thật và đang chi phối đời sống tôn giáo cũng như đời sống xã hội hiện đại.
“Rõ ràng hiện nay xu thế thế tục hóa đang hình thành, đã được thử nghiệm, thực thi ở một số nơi, và những kết quả đạt được có thể cho phép nhận định rằng đó là một xu thế cập nhật và có thể có sự hưởng ứng rộng rãi”.
Tuy nhiên, việc lý giải nó không phải là chuyện đơn giản. Bằng những phương pháp xã hội học, người ta thấy có nhiều hiện tượng cho thấy đây là một trào lưu phức tạp chứ không phải là môt diễn tiến theo đường thẳng và ta khó có thể dễ dàng tiên báo các kết quả.
Tại Băng Đảo [Iceland], một quốc gia được xem là chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của trào lưu thế tục hóa, vì số tín đồ đi nhà thờ hàng tuần chỉ còn 2%. Nhưng cuộc điều tra năm 1990 lại cho thấy có 88% cư dân tại đây tin con người có linh hồn, 81% tin vào kiếp sau, 82% vẫn còn cầu nguyện ngoài các lễ nghi tôn giáo, chỉ có 2,4% cư dân xác tín mình là người vô thần.
Tại Hunggary, tỉ lệ số tín đồ đi nhà thờ mỗi tháng mỗi tăng thêm, từ 16% năm 1981 lên đến 25% vào năm 1991. Tại Nga, năm 1991, có 53 % người trả lời là không có tôn giáo, nhưng năm năm sau, tỉ lệ này chỉ còn là 37%. Người ta cũng thấy nước Mỹ, được coi là một quốc gia hiện đại nhất, lại ít chịu ảnh hưởng của trào lưu thế tục hóa.
Có lẽ chính tính chất phức tạp của trào lưu thế tục hóa như thế lại là một điều lý thú cho các nhà nghiên cứu và nó đòi hỏi chúng ta phải cận thận hơn trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến tôn giáo.
Chú thích:
[1] X. T Goffi, đề mục Homme spirituel, Dictionaire de la vie spirituelle, Cerf, Paris 1987.
[2] X. Johann Figl, đề mục Sécularisation trong Dictionaire de Théologie, sous la direction de Peter Eicher, Les Éditions du Cerf, Paris 1988, p. 695.
[3] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Mục Vu Vui Mừng và Hy Vọng, số 36; bản dịch của Giáo Hoàng Học Viện Pio X, 1972.
[4] X. Kinh Thánh, sách Sáng Thế, chương I.
[5] Do vậy, một số học giả đã cho rằng Kitô giáo là một trong những nguyên nhân đưa đến sự hủy hoại môi trường hiện nay.
[6] X. Johann Figl, Sđd, trang 696.
[7] Theo A. comte, lịch sử con người diễn tiến theo ba trạng thái : tôn giáo – triết lý – và khoa học. Chiều hướng này sẽ dần dần làm biến mất những trạng thái trước để thay vào bằng những trạng thái sau.
[8] Nguyễn Xuân Nghĩa, Tôn giáo và quá trình thế tục hóa, sđd, trang 10
[9] Nguyễn Văn Kiệm, “Mấy nét đại cương về tôn giáo”, trong tác phẩm Tôn giáo và Đời sống Hiện đại I, sđd, trang 21.
[10] Nguyễn Văn Kiệm, “Mấy nét đại cương về tôn giáo”, trong tác phẩm Tôn giáo và Đời sống Hiện đại I, sđd, trang 21.
[11] Công Đồng Vatican II, MV, Sđd, s 39.
[12] Nguyễn Văn Kiệm, “Mấy nét đại cương về tôn giáo”, trong tác phẩm Tôn giáo và Đời sống Hiện đại I, sđd, trang 22.
[13] Các số liệu được trích lại trong Nguyễn Xuân Nghĩa, Tôn giáo trong thời Hiện đại, Thế tục hóa hay Phi thế tục hóa ?
Tài liệu tham khảo
1. Võ Kim Duyên và các đồng tác giả, Tôn giáo và đời sống Hiện đại, tập I và II, viện Thông Tin Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1997.
2. Nguyễn Xuân Nghĩa, Tôn giáo và quá trình thế tục hóa, Tạp Chí Xã Hội Học số 1 [53], 1996, trang 8-14.
3. Nguyễn Xuân Nghĩa, Định nghĩa về Tôn giáo và những hệ luận trong nghiên cứu quá trình thế tục hóa, Nghiên cứu Tôn Giáo, số 2 –2002, trang 21-26.
4. Nguyễn Xuân Nghĩa, tôn giáo trong thời hiện đại : Thế tục hóa hay phi thế tục hóa ? Nghiên cứu Tôn giáo số 2 – 2003, trang 21-30.
5. Johann Figl, đề mục Sécularisation trong Dictionaire de Théologie, sous la direction de Peter Eicher, Les Éditions du Cerf, Paris 1988.
6. Piana Giannino, đề mục Sécularisation trong Dictionaire de Théologie chrétienne, Édition francaise dirigée par Joseph Doré, Desclée.
7. Công Đồng Vatican II, Bản dịch của Giáo Hoàng Học Viện Pio X, 1972.