Bệnh Vô Cảm, nhìn từ Đức Ái Kitô giáo - Phần 1
Nếu trở lại lịch sử Kitô giáo, chúng ta sẽ thấy vấn đề mà chúng ta gọi là “vô cảm” đã là một vấn đề xa xưa. Kitô giáo khi loan báo Tin Mừng đến chư dân, đặc biệt là đến với người Hy Lạp, đã phải đối diện với vấn đề “vô cảm” như một thách đố căn bản.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
Xã hội Việt Nam chúng ta hiện nay có rất nhiều căn bệnh trầm kha, bệnh tham nhũng, bệnh thành tích, bệnh gian dối, bệnh sa đoạ…, nhưng có lẽ căn bệnh sâu xa và trầm kha hơn hết lại chính là bệnh vô cảm… Đây là căn bệnh trầm kha hơn cả vì, một cách nào đó, căn bệnh này không phải chỉ nằm trong một tầng lớp cá biệt nào, nhưng đã trở nên bệnh của quần chúng; và vì thứ bệnh này đã đụng vào những gì căn cốt nhất của phẩm chất làm người, phá huỷ chữ Nhân đối với Khổng Giáo, phá huỷ lòng từ bi đối với Phật giáo và phá huỷ lòng bác ái đối với Kitô giáo…
Chúng ta có thể kể ra một danh sách thật dài những chuyện vô cảm mà báo chí đã đăng tải và có thể kể ra một lô những bài phân tích hoặc lời cảnh báo về căn bệnh này. Ở đây, tôi xin đóng góp một lối nhìn từ đức Ái Kitô giáo.
1. Mầm bệnh sâu xa
Nếu trở lại lịch sử Kitô giáo, chúng ta sẽ thấy vấn đề mà chúng ta gọi là “vô cảm” đã là một vấn đề xa xưa. Kitô giáo khi loan báo Tin Mừng đến chư dân, đặc biệt là đến với người Hy Lạp, đã phải đối diện với vấn đề “vô cảm” như một thách đố căn bản.
Xin đọc lại bản văn thánh Phaolo viết trong thư 1 Corintho:
“22 Trong khi người Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, 23 thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. 24 Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do-thái hay Hy-lạp, Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. 25 Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người. (1 Cr 1, 22-25)
Để hiểu được hậu trường của bản này, chúng ta cần hiểu được bối cảnh văn hoá của người Hy Lạp. Đối với người Hy Lạp, Thượng Đế là Đấng hoàn toàn hạnh phúc. Hạnh phúc của Ngài hệ tại việc Ngài là nguyên lý của vũ trụ và muôn loài phải hướng về Ngài như mẫu mực; nhưng chính Ngài thì lại không cần quan tâm đến sự gì khác bên ngoài mình.
Từ quan niệm ấy, người Hy lạp đã sớm đồng nhất bản thân Thượng Đế với những qui luật, những quy luật đều đặn của vũ trụ. Thượng Đế bày tỏ mình trong một vũ trụ trật tự, được điều hành theo những quy luật đều đặn và trật tự, nhất là trong các tinh tú. Vì thế, các tinh tú cũng được tôn trọng như là thần thánh. Triết gia Anaxagore (khoảng 500-428 tcn) đã bị kết án là vô luân vì chủ trương rằng mặt trời chỉ là một khối đá cháy đỏ. Ngược lại, triết gia Socrate bị lên án vì ba tội, trong đó có tội du nhập thần mới, vì Socrate cho rằng ông có một vị thần hộ mệnh riêng, hướng dẫn và chỉ bảo cho ông trong những lúc khó khăn…
Nếu Thượng Đế đã bị giản lược thành quy luật, thì chính lý trí khôn ngoan là yếu tố căn bản để con người có thể hiểu và sống theo Thượng Đế. Do đó, trong xã hội Hy Lạp, chính triết gia, chứ không phải tầng lớp tăng lữ, là những người có khả năng sống giống như Thượng Đế hơn hết. Vai trò của triết gia, xét như là những người tìm biết chân lý và chỉ dẫn người ta đi tìm chân lý, là vai trò quan trọng nhất trong xã hội Hy Lạp.
Từ đó, ta thấy xã hội Hy Lạp cổ xưa có một số giá trị căn bản, theo đó, những khái niệm Thượng Đế, thiên nhiên, khôn ngoan, hạnh phúc, nhân đức, và thanh thản (ataraxia)… có ý nghĩa liên lập và thông hiệp chặt chẽ với nhau. Thượng Đế tỏ hiện trong các quy luật điều hoà của vũ trụ, người khôn ngoan là người biết sử dụng lý trí để hiểu được Thượng Đế và biết sống hoà hợp với thiên nhiên để nên giống với Ngài. Sống nhân đức hoặc sống giống với Thượng Đế, chính là biết tìm thấy hạnh phúc trong tình trạng thanh thản ataraxia.
Chữ ataraxia được đề cao đặc biệt như là một lý tưởng sống của những trường phái triết học sau Aristote, nhưng đó không phải là một điều mới lạ, vì thực sự chủ trương này vẫn biểu lộ nét thống nhất của một tinh thần Hy Lạp nói chung trong suốt dòng lịch sử. Đối với người Hy Lạp nói chung, người khôn ngoan là người tránh được mọi xáo trộn, không bị đam mê lôi cuốn (Apathès). Người khôn ngoan là người biết cách sống làm sao để không đau khổ, không giận dữ, không bực mình, không bị trói buộc. Các triết gia “sau-Aristote” như các trường phái khoái lạc, hoài nghi, hoặc thần bí sau đó đều thiết tha tìm phương thức sống đạo đức trong tinh thần khôn ngoan ấy. Có lẽ Démocrite (khoảng 460 tcn) là người đầu tiên đã tìm cách diễn giải ý nghĩa của từ ataraxia, theo Stobée, ông nói rằng : “Ataraxia là tình trạng bình an, hoà điệu và cân bằng (nội tâm)”. Triết gia khoái lạc Épicure (341-270) thì cho rằng ataraxia hệ tại “được giải thoát khỏi mọi sợ hãi”. Tuy nhiên, chính các triết gia Khắc Kỷ mới là những người hết lòng ca ngợi phẩm chất của ataraxia hơn cả. Trong tình trạng có được ataraxia, người khôn ngoan không bị lay chuyển, thản nhiên đối với những gì đến từ bên ngoài; người khôn ngoan không bị xáo trộn trong tâm hồn. Lý tưởng sống của triết gia khắc kỷ được phát biểu : nếu anh có một người bạn đau khổ, anh hãy tỏ vẻ cảm thông, nhưng lòng anh đừng rúng động. Điều đó có nghĩa là, mặc dù tỏ vẻ cảm thông, anh vẫn có thể ăn ngon, ngủ ngon và giữ được tình trạng thanh thản của chính mình. Lý trí khôn ngoan phải hướng dẫn để người ta biết cách dung hoà giữa trạng thái an ổn trong lòng và những biến động bên ngoài. Người Hy Lạp khôn ngoan phải biết giữ gìn sự thanh thản cho bản thân mình như yếu tố căn bản, rồi sau đó tìm phương thế diễn tả mối tương quan của mình với tha nhân, diễn tả cách nào đó để không rơi vào tình trạng sai lạc hoặc ác độc. Thật ra, lý tưởng khôn ngoan Hy Lạp, cách thức sống cao cả theo khuôn mẫu của một Thượng Đế thanh thản như thế, tự bản chất đã là một thái độ vô cảm, và ataraxia ở đây có thể hiểu là một sự thanh thản, hoặc là “vô cảm siêu thoát”.
Dựa theo tiêu chuẩn giá trị về sự khôn ngoan theo kiểu ataraxia như thế, người Hy Lạp cho rằng thập giá là sự điên rồ. Một Thiên Chúa yêu thương đến độ nhập thể làm người, hy sinh chịu chết khổ đau vì yêu thương… đó là điều chẳng những không khôn ngoan mà còn trái ngược hẳn với sự khôn ngoan, đó là sự điên rồ :
Đây không phải chỉ là một sự khác biệt văn hoá, không phải là một sự đa dạng làm cho phong phú kho tàng văn hoá của con người, nhưng là một sự đối nghịch căn bản và sâu xa về giá trị, khiến cho điều tốt của bên này lại chính là sự sa đoạ của bên kia.
Kinh Thánh Do Thái Kitô giáo cho thấy một Thiên Chúa khác hẳn với hình ảnh Thượng Đế của người Hy Lạp. Thiên Chúa của Kinh Thánh không an vị, thanh thản trong thế giới hạnh phúc của Ngài, nhưng Ngài dính dáng vào thụ tạo, đặc biệt là con người. Ngài sáng tạo con người trong yêu thương, Ngài tuyển chọn Dân riêng và đem lòng quyến luyến với Dân :
“ĐỨC CHÚA đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em, không phải vì anh em đông hơn mọi dân, thật ra anh em là dân nhỏ nhất trong các dân”. (Dnl 7,7; xc. Dnl 10,15…)
Thiên Chúa nhất quyết giành lấy Dân riêng cho mình, không muốn chia phần cho bất cứ ai khác :
”Vậy ngươi không được phủ phục trước một thần nào khác, vì ĐỨC CHÚA mang danh là Đấng ghen tương, Người là một Vị Thần ghen tương”. (Xh 34,14; xc. Dnl 4,24…)
Thiên Chúa tự buộc mình trong lời hứa (St 3,15…), và đặc biệt trong Giao ước (Xc. Xh 24, 1-18); rồi Thiên Chúa thể hiện phẩm chất trung tín của Ngài trong lời hứa và giao ước :
“Nếu ta không trung tín, Người vẫn một lòng trung tín, vì Người không thể nào chối bỏ chính mình”. (2Tm 2,13)
Mối thâm tình của Thiên Chúa với Dân của Ngài không phải là một sự “ích kỷ”, mà là sự “rung động” của tình thương. Truyền thống Kinh Thánh đề cao phẩm chất cao cả nhất của Giavê Thiên Chúa là lòng từ bi thương xót :
- CHÚA là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương. (Tv 145,8)
- ĐỨC CHÚA đi qua trước mặt ông và xướng : "ĐỨC CHÚA ! ĐỨC CHÚA ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6)
Trong Tân Ước, đức Giêsu cũng khẳng định phẩm chất từ bi thương xót như thế trong sứ vụ của Ngài. Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng bằng những lời đã được tiên báo trong ngôn sứ Isaia:
“Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giê-su trở về miền Ga-li-lê, và tiếng tăm Người đồn ra khắp vùng lân cận. Người giảng dạy trong các hội đường, và được mọi người tôn vinh. Rồi Đức Giê-su đến Na-da-rét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh. Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ I-sai-a. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng : Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa. (Lc 4, 14-19)
Khi Tân Ước nói Chúa Giêsu chạnh lòng thương, thì điều đó không chỉ tỏ bày một phẩm chất đạo đức luân lý, nhưng còn hàm nghĩa Chúa Giêsu chính là Đấng tỏ lòng nhân hậu của Giavê Thiên Chúa.
Mt 9,36 : Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt.
Mt 14,14: Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ.
Mt 15,32: Đức Giê-su gọi các môn đệ lại mà nói : "Thầy chạnh lòng thương đám đông, vì họ ở luôn với Thầy đã ba ngày rồi và họ không có gì ăn. Thầy không muốn giải tán họ, để họ nhịn đói mà về, sợ rằng họ bị xỉu dọc đường."
Lc 7,13: Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói : "Bà đừng khóc nữa !"
Lòng từ bi thương xót chính là dấu hiệu căn bản để nhận ra Đấng Mêsia. Do đó, những ai không đi vào mạch nguồn của Kinh Thánh sẽ có nguy cơ không nhận ra và không tin vào đức Giêsu :
“Ông Gio-an lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Ki-tô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng : "Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác ?" Đức Giê-su trả lời : "Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe : Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi." (Mt 11, 2-6)
Chúa Giêsu đã thể hiện đến cùng lòng “yêu thương điên rồ” của Thiên Chúa khi chấp nhận đường lối cứu độ bằng cách trao ban chính bản thân và cả cuộc đời mình cho nhân loại (trao thân gửi phận). Thập giá và bí tích Thánh Thể là thứ tình yêu “điên rồ” như vậy.
Ta có thể thấy từ ngữ Hy Lạp ataraxia chính là phản nghĩa với các từ ngữ được Kinh Thánh dùng để chỉ tấm lòng của Thiên Chúa : - Splagchnizomai (chạnh lòng thương); hoặc từ rahamim {lòng yêu thương bắt nguồn nơi tấm lòng người mẹ (rekhem) hoặc nơi tâm can (rakhamim) của người cha}…
Có thể nói được tinh thần của Kinh Thánh chính là điều gọi là sống-với. Ý nghĩa sống-với là ý nghĩa xuyên suốt trong tinh thần Kinh Thánh và đạo lý Giáo Hội. Sống-với không phải chỉ là Ta có thể tóm tắt ý nghĩa sống với đó trong hai đoạn văn tiêu biểu:
1) Ý nghĩa căn bản của phẩm giá con người trong Kinh Thánh : “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ”. (St 1,27), mà ý nghĩa trọn vẹn nhất phải hiểu là con người chỉ có thể sống trọn bản chất của mình khi sống hiệp thông với Chúa và với nhau.
2) Trong Tin Mừng Gioan, cho chữ “như” có nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên, ý nghĩa căn bản, ý nghĩa thần học của từ “như” phải được hiểu, không phải chỉ là một sự tương tự trong so sánh, nhưng có nghĩa là “nền tảng”, “nguồn gốc”, “phát sinh”. Chẳng hạn :
“Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy.(…) Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. (Ga 15,9.12)
Ở đây, không phải là tình yêu của Chúa Giêsu đối với các môn đệ dựa theo khuôn mẫu tình yêu của Chúa Cha với Đức Giêsu; và cũng không phải là tình yêu của con môn đệ với nhau dựa theo khuôn mẫu của tình yêu Chúa Chúa Giêsu với môn đệ. Nhưng tình yêu của Chúa Cha đổ tràn trên đức Giêsu chính là “nền tảng”, “nguồn gốc”, “phát sinh” ra tình yêu của Đức Giêsu với môn đệ; và tình yêu của Chúa Giêsu với các môn đệ là “nền tảng”, “nguồn gốc”, “phát sinh” ra tình yêu của các môn đệ với nhau.
Sống-với nghĩa là để cho cuộc đời mình, tấm lòng của mình được dính dáng, được liên luỵ, được hiệp thông với những vui buồn sướng khổ của ai khác. Trong thái độ sống-với, điều quan trọng không phải là làm cái gì, không phải làm cho đúng với một khuôn mẫu nào, mà là tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình là vì ai, cho ai với ai. Chính vì thế, trong tinh thần tôn giáo chân chính của truyền thống Do Thái Kitô giáo, được các ngôn sứ công bố, điều nguy hiểm nhất không phải là không giữ luật nhưng là giữ luật chỉ để hoàn thiện chính mình; không phải là không làm việc phượng tự mà là dâng lễ vật phượng tự chỉ để tìm sự thanh thoả cho mình. Khi người Biệt Phái giữ luật, cho dù là giữ luật tỷ mỷ, kỹ lưỡng, nhưng chính yếu chỉ là để hoàn thiện con người mình mà thôi, thì đó là sự hư hoại của lề luật. Khi người Sa đốc chăm chú vào nghi lễ phượng tự, nhưng phượng tự chỉ là thứ trao đổi “hàng hoá” để bảo vệ sự công chính cho mình thì đó là sự hư hoại của phượng tự…
Như thế, chúng ta thấy bệnh vô cảm, một cách nào đó, chính là điều trái ngược một cách căn bản với tinh thần Kinh Thánh, trái ngược một cách căn bản với Tin Mừng của Chúa Giêsu.
Chú thích:
[1] Épictète, Entretiens, III, XIII, 11. Trích lại trong Ivan Gobry, Le Vocabulaire grec de la philosophie, ellipses, 2002
Stobée, Éclogues, II, VII, nt.
[2] Diogène Laerce, Vies, doctrines et sentences des philosophes illustres, VII, 117. nt
[3] Marc Aurèle, IX,31, nt.
[4] Épictète, Manuel, XXIX,7; Cicéron, Tusculanes. V,VII,17, nt.
[5] Xc. Văn kiện Hiệp thông nhân vị và quản lý tạo vật, Uỷ Ban Thần Học Quốc Tế, 2002.