Bệnh Vô Cảm, nhìn từ Đức Ái Kitô giáo - Phần Cuối
Thật sự ra, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cũng có thể thấy nhiều “triệu chứng” của bệnh vô cảm. Chẳng hạn khi ta mừng sinh nhật một người bạn, và ta tìm một món quà để tặng. Có ba tiêu chuẩn
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
2. Siêu âm tìm căn nguyên
Thật sự ra, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cũng có thể thấy nhiều “triệu chứng” của bệnh vô cảm. Chẳng hạn khi ta mừng sinh nhật một người bạn, và ta tìm một món quà để tặng. Có ba tiêu chuẩn :
- tìm món quà sang trọng.
- tìm món quà xứng đáng với địa vị của người tặng quà.
- tìm món quà nào mà người nhận quà cần và thích nhất.
Ở đây, ta đã có thể nhận ra những giá trị ưu tiên khác nhau, biểu lộ những cảm thức khác nhau : - Người tìm món quà sang trọng, đó là con người bám cứng vào sự hợp lý, nhất thiết phải thực hiện với sự đúng đắn nghiêm cẩn của phương cách diễn tả; - Người tìm món quà xứng đáng với địa vị của mình, đó là người con người quá “tự trọng”, luôn bảo vệ “tư cách” của mình và tìm khẳng định chính mình trong mọi tình huống; - Người tìm món quà thích hợp cho người bạn nhận quà, đây lại là người nhậy cảm, có nhiều khả năng thông hiệp, thấu cảm vui buồn với ai khác. Trong thái độ của hai mẫu người thứ nhất và thứ hai, chúng ta có thể thấy mầm mống của một thứ vô cảm.
Khi người mẹ cho con cái bánh, thì sự trao ban ấy không phải để chứng tỏ bản thân mình, mà chính vì tình thương đối với đứa con. Tình thương của mẹ mời gọi đứa con, không phải chỉ nhận cái bánh vì cái bánh ngon mà thôi, nhưng nhận ra tấm lòng của mẹ. Đứa con nào chỉ vui thích hay buồn phiền vì cái bánh, đứa con ấy có nguy cơ không sống nên người, vì có thể, trong suốt cả cuộc đời, nó chỉ làm, chỉ học, chỉ hưởng thụ vì những thứ đồ vật, những thứ qui về cho bản thân mình. Ngược lại, nếu đưa con vui mừng vì tình thương của mẹ, đứa con đó có cơ may biết sống, biết làm việc, biết vui buồn vì ai khác…
Cũng thế, khi Chúa ban một ơn nào cho con người, thì điều quan trọng là Chúa mặc khải tình thương của Chúa. Nhưng người nào chỉ biết đón nhận ân huệ mà không biết tìm đến nguồn mạch của ơn huệ là chính Chúa, thì người ấy bỏ mất nguồn mạch chính yếu của ân sủng, tức là đón nhận “ân sủng bất thụ tạo”.
Con người sống trong thân xác, đón nhận mọi sự việc qua kinh nghiệm giác quan, nên cần diễn tả hoặc đón nhận mối tương quan của mình với tha nhân qua trung gian của những sự vật cụ thể. Nhưng con người không phải chỉ có thân xác, phẩm chất con người không phải là duy-vật, con người không được quy tất cả ý nghĩa đời mình vào việc chiếm hữu hoặc hưởng thụ sự vật. Hơn nữa, con người không phải chỉ là một hữu thể đơn độc có thể tự hoàn thành ý nghĩa đời mình trong những phẩm chất đạo đức của chính mình, nên con người cũng phải vượt qua cả những thứ trung gian mang tính sự-vật (vật chất). Sự vật trung gian đó có thể là những lợi lộc vật chất, nhưng cũng có thể là những thứ phẩm chất “tinh thần” như danh giá, luật pháp, giá trị luân lý, … Do đó, trong ánh sáng đức Ái Kitô giáo, cần phải nhận ra rằng con người còn phải vượt qua mọi thứ mang tính sự vật, vì phẩm chất căn bản của con người cũng không phải là duy-sự-vật. Sự vật là tất cả những gì khác với bản-thân của một ngôi vị; sự vật có thể là sắc đẹp, tài năng, và cả đức độ nữa.
Con người được sáng tạo trong tình thương. Phẩm chất chính yếu của con người yêu thương là có khả năng và khao khát dính dáng đến ai-khác. Ơn gọi và sứ mạng cao quý của con người là được sống trong tình yêu của Chúa và tình yêu thương của nhân loại. Điều đó có nghĩa là con người luôn phải vượt qua sự vật trung gian (vượt qua thái độ vô cảm) để đụng chạm được đến cõi lòng của ai khác. Có thể nói, đóng góp đặc sắc của truyền thống Do Thái Kitô giáo chính là mối tương giao ngã vị, được thanh lọc tinh tuyền và được nâng lên tới tầm mức tuyệt đối, gần giống như một thứ “trao thân gửi phận” cho nhau (trao tặng bản thân và đồng hành trọn cả cuộc đời).
Khi người ta, từ cái tôi của mình, vượt qua sự vật trung gian, đạt đến ai khác, thì đó là một sự nhậy cảm có khả năng thông hiệp. Ngược lại, khi người ta vẫn qui về mình, hoặc chỉ đạt đến sự vật trung gian, thì đó đã là dấu hiệu biểu lộ sự vô cảm. Có thể nói, khi tâm hồn một ai đó đặt trọng tâm vào sự vật trung gian, vào phương thức diễn tả cho đúng đắn thì đó đã là một thứ vô cảm, những thứ “vô cảm lịch sự”, “vô cảm đức độ”, hoặc “vô cảm siêu thoát”. Nhưng khi người ta, chẳng những không động lòng về sự khổ đau của người khác, mà cũng không có được một thái độ, một hành vi đúng đắn, nhưng lại còn lợi dụng tai hoạ của người khác để kiếm lợi cho bản thân mình, thì đây là một thứ “vô cảm thấp hèn” đang lan rộng trong đất nước chúng ta.
* Nói như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn : sống trong đời sống, cần có một tấm lòng… để làm gì em biết không ? Để gió cuốn đi.
Nói rằng “sống trong đời sống cần có một tấm lòng”, đó là điều mà mọi tôn giáo, các học thuyết đạo đức luôn đồng ý với nhau. Nhưng có tấm lòng đến độ chịu “để gió cuốn đi”, thì đây lại là một phẩm chất đặc biệt của Kinh Thánh, của Kitô giáo. Bệnh vô cảm xuất phát từ thái độ không để cho những khổ đau của người khác đụng chạm được đến lòng của mình, vì sợ rằng mình sẽ bị lôi kéo vào những chuyện làm mất bình an, mất ổn định, mất sự thanh thản.
3. Bệnh trạng của xã hội Việt Nam hiện nay
Làm sao xã hội Việt Nam lại nẩy sinh ra bệnh vô cảm trầm trọng như hiện nay ? Có lẽ có nhiều nguyên nhân tương tác lẫn nhau. Chúng ta thử truy tìm một số nguyên nhân :
3.1 Xã hội hiện đại
Người ta thấy rằng, cuộc sống càng văn minh, người ta càng muốn giải quyết mọi vấn đề một cách hợp lý, và một cách nào đó, cái lý dần dần lấn át cái tình. Xã hội văn minh, để tránh những sai phạm, ngày càng chuẩn hoá hành vi lối sống của con người với nhau, sự chuẩn hoá được xác định qua luật pháp. Điều đó khiến cho con người, từ chỗ sợ những hành vi sai luật, đến chỗ tìm sự an toàn cho mình, tránh dính dáng đến người khác. Khi gặp một đứa bé bị tai nạn, người ta gọi cấp cứu chứ không dại gì dính tay vào. Hình thức vô cảm này phát triển mạnh ở những nước văn minh.
3.2 Xã hội nhiễu nhương
Khi xã hội nhiễu nhương, luật pháp không nghiêm minh, cá nhân mỗi người không còn dám tin vào ai hay tin vào cái gì, con người không cảm thấy an toàn, và người ta phải lo bảo vệ chính mình, thì bệnh vô cảm gia tăng nhiều.…. Ta có thể chẩn đoán căn bệnh này khi thấy bầu khí xã hội tạo nên một thái độ căn băn của cá nhân mỗi người, thái độ đối phó.
Khi cuộc sống chung quanh có nhiều sự dòm ngó, dò xét và khi thấy sự hiện diện cũng như công việc của mình có thể bị đe doạ, thì cá nhân mỗi người hình thành nên một thứ phản ứng gọi là bản lĩnh đối phó. Ngược lại, khi cá nhân được hỗ trợ, được chấp nhận và khuyến khích, thì người ta sẽ có được thứ bản lãnh sáng tạo. Chúng ta có thể thấy thứ bản lĩnh đối phó phát triển quá mức trong guồng máy xã hội Việt Nam hiện nay, tạo nên thứ khôn vặt, những biện pháp giải quyết nửa mùa chỉ mang tính đối phó với tình huống trước mắt chứ không phải là một sự trân trọng những giá trị căn bản, những giá trị “thiêng liêng” trong tâm hồn.
Con người sống trong bầu khí xã hội nhiễu nhương phải chụp giựt, cướp thời cơ, bon chen, mánh khoé, chà đạp lên mọi lẽ phải, mọi thứ luân thường đạo lý, và nếu cần thì chà đạp cả người khác… để giành lấy sự sống cho mình. Điều đó đương nhiên tạo nên và nuôi dưỡng căn bệnh vô cảm.
3.3 Xã hội nhiễm độc
Nếu tình trạng xã hội nhiễu nhương, là khi không có một trật tự bên ngoài đúng đắn, và cá nhân bộc lộ những khuynh hướng ích kỷ vốn tiềm tàng trong mỗi con người; thì tình trạng nhiễm độc lại là tình trạng chính cơ chế và tưởng hướng dẫn trong xã hội lại góp phần làm tăng thêm sự hư hoại trong bản chất người.
Mạnh Tử nói rằng khi người ta thấy một đứa bé sắp rơi xuống giếng, thì ai cũng xót thương mà ra tay cứu vớt. Hành vi tốt này không do tính toán tư lợi hay tìm kiếm công danh, nhưng là tình cảm trắc ẩn mà bình thường trong con người ai cũng có. Đó chính là nền tảng tính thiện của con người. Từ tâm tình tối thiểu và căn bản ấy, nếu người nào biết phát triển rộng lớn thì đều có thể trở thành thánh nhân; hoặc nếu làm cho nó tiêu tán thì trở nên chẳng khác gì con vật.
Làm tiêu tán tính thiện là thế nào ?
Trước tiên, ta thấy một hệ quả đương nhiên của chủ trương vô thần là phải chọn nguyên tắc sống : bạn ra bạn, thù ra thù. Nguyên tắc ấy được nhấn mạnh, được nâng lên thành đường lối giáo dục, được tuyên truyền trong một bầu không khí chính trị hoá toàn bộ cuộc sống con người. Hệ quả đương nhiên là, từ lúc thơ ấu, những đứa trẻ đã được nhồi nhét tư tưởng chính trị để biết căm thù, để biết nhìn với con mắt “mang hình viên đạn”… và điều đó chắc chắn là tiêu tan mối thương cảm tự nhiên giữa người với người. Chúng ta từng thấy trong phim ảnh những đứa bé “kim Đồng”, bắn chết “thằng Mỹ” và nhẩy lên vỗ tay reo hò khoái trá…
Xã hội nhiễm độc làm gia tăng sự vô cảm từ hai nguyên nhân nói trên, và đưa đến những hệ quả đau lòng của căn bệnh vô cảm hiện nay.
4. Đâu là thuốc chữa ?
4.1. Tương quan nhân thân
Khi thấy có những tội phạm ra trước toà tỏ vẻ ăn năn sám hối, người ta nói rằng : họ chỉ sám hối khi không có điều kiện phạm tội nữa. Điều đó có lẽ có nhiều phần đúng. Nhưng người ta cũng có thể nói : những người chưa phạm tội, chẳng qua vì họ chưa có điều kiện phạm tội đấy thôi. Quả thật, cuộc sống đầy rẫy những quy luật nghiệt ngã của thế giới, của những áp lực xã hội, của những tương tác chính trị chi phối. Qui luật ấy có vẻ lấn áp, lôi kéo, xô đẩy con người như một sức mạnh lớn hơn tự do, lớn hơn lương tâm, lơn hơn lòng ao ước sự thiện của con người.
Ta cũng thấy điều đó trong cuộc đời đức Giêsu, đặc biệt trong cuộc thương khó của Chúa:
- Qui luật xã hội khiến những người vừa hoan hô Chúa mấy ngày trước, thì sau đó lại hò hét đòi đóng đinh Chúa vào thập giá;
- Qui luật chính trị khiến cho Philatô, mặc dầu biết Đức Giêsu vô tội, cũng đã phải trao đức Giêsu cho người Do Thái đem đi đóng đinh; và qui luật chính trị cũng thúc đẩy Caipha nói rằng thà một người chết thay cho toàn dân (Xc. Ga 11,49; 18,13-14)…
- Áp lực của xã hội khiến cho Phêrô và các môn đệ, trước đó tuyên bố sống chết với Thầy, rồi chẳng bao lâu sau đó thì bỏ trốn hết, và Phêro thì chối Thầy đến ba lần.
……………………….
Thế nhưng, trong trình thuật Thương Khó, ta có thấy được một sức mạnh nào khác có thể đối đầu với những áp lực xô đẩy nghiệt ngã của cuộc đời không ?
Có chứ !!!
- Phêrô oà lên khóc, Phêrô thoát ra khỏi áp lực đang xô đẩy ông chối Thầy, khi nhớ lại lời Chúa đã nói : “Ngay lúc đó, gà gáy lần thứ hai. Ông Phê-rô sực nhớ điều Đức Giê-su đã nói với mình : "Gà chưa kịp gáy hai lần, thì anh đã chối Thầy đến ba lần." Thế là ông oà lên khóc.” (Mc 14,72).
- Đặc biệt nhất là Chúa Giêsu, trong vườn Cây Dầu, đã thốt lên lời Abba, Cha ơi… Chính trong mối tương quan cá vị, mối tương quan nhân thân thâm sâu ấy đã giúp Đức Giêsu tìm được sức mạnh để không bị xô đẩy bởi áp lực bên ngoài, nhưng thiết tha tìm thực hiện ý Cha :
Người nói : "Áp-ba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn." (Mc 14,36)
Chỉ có một mối tương quan nhân thân (mối tình thân cụ thể của ai đó), nghĩa là thoát khỏi thái độ ataraxia, mới có thể tạo nên sức mạnh giúp con người tìm lại bản chất người trong tự do, tìm lại được thái độ đúng đắn như một con người biết yêu thương.
4.2. Tìm lại ý nghĩa lòng từ bi thương xót
Người ta nói nhiều, nói quá nhiều về tình yêu… nhưng có lẽ cũng chẳng có gì hàm hồ cho bằng tình yêu. Mỗi người hiểu và sống tình yêu một kiểu, thể hiện tình yêu một kiểu…và với nhãn hiệu tình yêu, đôi khi người ta làm những chuyện hết sức tàn ác. Cha ông chúng ta đã từng nói : yêu nhau lắm, cắn nhau đau…
Đức Gioan Phaolô II, trong thông điệp Thiên Chúa Giầu Lòng Từ Bi Thương Xót, nói rằng : có một danh hiệu thứ hai của Tình yêu, đó là lòng nhân hậu (từ bi thương xót).
“Vì lòng nhân từ là chiều kích không thể thiếu của tình yêu; nó như là danh hiệu thứ hai của tình yêu”.
Chúng ta hiểu rằng điều căn cốt của vận hành yêu thương trong Kitô giáo là : mối tương quan con người với nhau phải được đặt trong thế tay ba. Có Thiên Chúa ở đó; và tình yêu con người với nhau chỉ có thể vững bền, quảng đại khi được nối kết vào nguồn mạch tình thương nhân hậu của Thiên Chúa. Khi nói “tôi yêu anh”, thì trong niềm tin Kitô giáo, điều đó có nghĩa là : từ căn nguyên, tôi và anh đều “đáng thương” trước mặt Chúa. Phẩm chất căn bản của tình nghĩa “tôi thương anh” hay “anh thương tôi” thì cũng đều xuất phát từ phẩm chất lòng nhân hậu, lòng từ bi thương xót của Chúa.
Tạm kết
Thật ra, căn bệnh vô cảm không phải chỉ là chuyện của ngày hôm nay và cũng không phải chỉ là chuyện của thời đầu Kitô giáo. Vô cảm là chuyện của con người mọi thời và mọi nơi. Vô cảm có mầm mống trong tội tổ tông. Khi nguyên tổ loài người từ chối một hành trình cuộc sống được kết dệt bằng sống với, sống thân tình với Chúa và trở nên “một xương một thịt” với nhau (Xc. St 2,24), thì đã chọn phương thức để hoàn thành cuộc đời mình bằng một “trái cấm”. Nguyên tổ chọn trái cấm để trở nên như thần thánh:
“…ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác. (St 3,5)
Đằng sau trái cấm không có ai khác. Chọn trái cấm là chọn phương thức sống cho mình, vì mình, để hoàn thành cuộc đời mình.
Vô cảm là cám dỗ sâu xa nhất của cuộc đời con người. Khi người ta ngại sống với ai khác; khi người ta sợ bị thua lỗ mất mát khi phải sống vì ai khác; khi người ta từ chối con đường yêu thương, khởi từ thái độ để cho lòng mình được rung cảm vì ai khác, thì mầm mống sự ác đã tìm thấy kẽ hở để có thể thoát ra và hoành hành trong cuộc sống nhân sinh.
Chú thích:
[7] Xc. Giuse Lê Minh Thông, O.P. Tình Yêu và Tình Bạn trong Ga 15,9-17,Trung Tâm Học Vấn Đa Minh, 2009, trang 129-148.
[8] Thần học phân biệt “ân sủng bất thụ tạo”, tức là chính Chúa; và “ân sủng thụ tạo”, tức là những ân huệ khác với chính bản thân Chúa. Khi lãnh nhận ân sủng, dù là ân sủng thụ tạo, người tín hữu được nhắc nhở phải biết tìm trở về với ân sủng bất thụ tạo…
[9] T/đ Thiên Chúa giầu lòng từ bi thương xót, số 58. Một Danh Hiệu Khác Của Tình Yêu.