Cái Chân lý và kinh nghiệm - Phần Cuối

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Cái gì chân-thực bao hàm hai khía cạnh, “cái chân” như một chân lý khách quan và “cái thực” như một sự xác tín chủ quan. Lịch sử nhân loại đã từng chứng những bước đi lệch lạc khi thì qua thiên về cái chân, khi thì quá thiên về cái thực. Khi mà Protagoras khẳng định chân lý hữu thể giản lược vào chân lý cảm nhận; rồi chân lý cảm nhận giản lược vào chân lý cảm giác, thì Socrate đã phải nỗ lực đấu tranh cho một thứ chân lý khách quan, đặc biệt là chân lý đạo đức. Khi mà truyền thống Thomiste được Giáo hội công nhận, vốn đeo đuổi khuynh hướng tìm chân lý khách quan, thì Luther và trào lưu nhân bản thời đó lại tố cáo một sự “suy phục triết lý” của chân lý đức Tin, và Luther đưa ra nguyên tắc “tự do thể nghiệm điều mình xác tín khi đọc Kinh Thánh” (libre examen de L’Écriture). Khi mà thế giới Trung Cổ cung cấp cho con người những khuôn khổ mẫu mực, toàn diện và cá nhân mỗi người cứ việc tuân theo những mô hình chân lý ấy để sống; thì thời Phục Hưng và Cận đại, lại muốn tìm trở lại với kinh nghiệm sống động, muốn tự mình đi lại hành trình chân lý khởi từ xác tín của chính mình. Montaigne, Descartes…đã đi vào nẻo đường này.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

3. Biện chứng giữa “chân lý” và “kinh nghiệm”

Cái gì chân-thực bao hàm hai khía cạnh, “cái chân” như một chân lý khách quan và “cái thực” như một sự xác tín chủ quan. Lịch sử nhân loại đã từng chứng những bước đi lệch lạc khi thì qua thiên về cái chân, khi thì quá thiên về cái thực. Khi mà Protagoras khẳng định chân lý hữu thể giản lược vào chân lý cảm nhận; rồi chân lý cảm nhận giản lược vào chân lý cảm giác, thì Socrate đã phải nỗ lực đấu tranh cho một thứ chân lý khách quan, đặc biệt là chân lý đạo đức. Khi mà truyền thống Thomiste được Giáo hội công nhận, vốn đeo đuổi khuynh hướng tìm chân lý khách quan, thì Luther và trào lưu nhân bản thời đó lại tố cáo một sự “suy phục triết lý” của chân lý đức Tin, và Luther đưa ra nguyên tắc “tự do thể nghiệm điều mình xác tín khi đọc Kinh Thánh” (libre examen de L’Écriture). Khi mà thế giới Trung Cổ cung cấp cho con người những khuôn khổ mẫu mực, toàn diện và cá nhân mỗi người cứ việc tuân theo những mô hình chân lý ấy để sống; thì thời Phục Hưng và Cận đại, lại muốn tìm trở lại với kinh nghiệm sống động, muốn tự mình đi lại hành trình chân lý khởi từ xác tín của chính mình. Montaigne, Descartes…đã đi vào nẻo đường này.

3.1 Trong bối cảnh Giáo hội hiện nay

Hình như những suy nghĩ trên đây đã đụng chạm đến một vấn đề lớn, vấn đề nóng bỏng trong Giáo hội hiện nay ? Các vị giáo hoàng gần đây nhất, đức Gioan Phaolô II và đức Bênêđictô XVI, đứng trước nguy cơ của thuyết tương đối, trước nguy cơ của một thứ giản lược khát vọng chân lý siêu việt của lý trí con người vào thứ lý trí khoa học giới hạn, đã phải hết sức minh định cho một mối tương quan giữa đức Tin và lý trí. Đối với các vị hữu trách trong Giáo hội, trong tầm nhìn vĩ mô về thế giới, mối bận tâm lớn nhất là cứu vãn một tình trạng ly dị giữa đức Tin và lý trí của con người hiện đại.

Đức Gioan Phaolô II, khi ban hành thông điệp “Đức tin và lý trí”, ngài đứng trước một thách đố về một cơn khủng hoảng chân lý; và cuộc khủng hoảng chân lý kéo theo cuộc khủng hoảng về ý nghĩa đời sống con người. Đó là vấn đề lớn của thế giới, đặc biệt là thế giới Tây phương. Đức Gioan Phaolô II đã mở đầu thông điệp Đức Tin và Lý Trí như sau :

“Đức Tin và lý trí ví được như dôi cánh giúp cho trí khôn con người vươn lên chiêm ngăm chân lý. Thiên Chúa đã đặt vào trái tin con người niềm khao khát được biết chân lý, tựu trung là được biết chính Người, ngõ hầu một khi đã biết và yêu mến Thiên Chúa, con người cũng có thể biết được sự thật trọn vẹn về chính mình (Xc. Xh 33,18; Tv 27,8-9; 63,2-3; Ga 14,8; 1 Ga 3,2)”

Đức Bênêdictô XVI, trong bài diễn văn tại đại đọc Regensburg, đã khẳng định “sự hoà hợp sâu xa giữa cái mang tính Hy lạp theo nghĩa tốt nhất và niềm tin vào Thiên Chúa đặt cơ sở trên Kinh Thánh”. Đức Bênêdictô XVI cho thấy Kitô giáo đã chọn đứng về phe logos (vừa có nghĩa lý trí vừa có nghĩa là lời) và không đứng cùng bên với các tôn giáo cổ thời mà người Hy lạp xếp vào dạng mythos (huyền thoại), và chiều hướng ấy không phải là sự tình cờ của lịch sử nhưng nằm trong sự quan phòng của Thiên Chúa. Ngài nhắc lại lời của hoàng đế Byzantin Manuel II Paleologos : “không hành động theo lý trí là trái nghịch với Thiên Chúa”.

Đức Bênêdictô XVI dành nhiều nỗ lực khẳng định với thế giới Châu Âu về căn tính Kitô giáo; và trong vai trò lãnh đạo Giáo hội, ngài ưu tư nhiều về vị thế của Kitô giáo trước những trào lưu của thế giới hiện đại. Giải pháp lớn của ngài là tìm cách để “lý trí và đức tin lại gặp nhau một cách mới mẻ”, bằng cách “vượt qua được tình trạng của lý trí tự giới hạn mình vào cái có thể bị bác bỏ trong thí nghiệm – và lại mở ra cho lý trí tất cả không gian của nó”.

Quả thật, có một đường nét khá đặc trưng của niềm Tin Kitô, đó là tinh thần dấn thân, tinh thần nhập thể. Từ chiều hướng nhập thể trong lịch sử ơn cứu độ, nhất là từ mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể, Giáo hội vẫn luôn tìm thấy nẻo đường chân chính của mình trước những ngã ba đường, trước cám dỗ rút lui về thế giới thuần tôn giáo. Chẳng hạn, vào thế kỷ thứ II, nếu Giáo hội đã không chọn đường hướng của thánh Giúttinô, can đảm đón nhận triết học Hy lạp và dùng khái niệm của nền triết học ấy để diễn tả đạo lý Kitô giáo, thì có lẽ hiện nay Kitô giáo chỉ còn là một nhóm nhỏ của một thứ tôn giáo tách biệt, hoặc đã mất tăm trong dòng lịch sử từ lâu. Tình hình cũng giống y như vậy, nếu như thánh Thomas đã không đón nhận triết lý Aristote đang quá thịnh hành và rửa tội cho nó. Tình hình cũng giống y như vậy nếu như Giáo hội đã không can đảm đón nhận những phương pháp phê bình văn bản cách khoa học vào cuối thế kỷ XIX, để hình thành được một khoa chú giải Kinh Thánh cách “khoa học” như hiện nay. Nhưng tất cả vẫn chỉ là “nếu”, vì Thánh Thần vẫn ở trong dòng lịch sử của Giáo hội…

3.2 Kinh nghiệm đức Tin trong sinh hoạt đạo tại Việt Nam

Nếu như trong bối cảnh Âu châu và trong tầm nhìn vĩ mô về vai trò của Giáo hội hiện nay thúc đẩy các vị giáo hoàng gần đây thiết tha nhấn mạnh đến tầm quan trọng của một lý trí toàn vẹn trong việc đi tìm chân lý khách quan, thì Giáo hội Việt Nam đang phải đối diện với vấn đề gì ?

Nếu đặt vấn đề trong thế đứng của Kitô giáo đối diện với thế giới hiện đại, chắc chắn rằng vấn đề mà đức Gioan Phaolô II và đức Bênêđictô XVI đã nêu lên, vấn đề chân lý khách quan và toàn vẹn, là vấn đề quan trọng nhất. Nhưng nếu đặt vấn đề về “thế đứng” giữa lòng Giáo hội, có lẽ vấn đề lớn lại chính là vấn đề sai lệch giữa chân lý khách quan và kinh nghiệm đức Tin.

Có một sự thiếu hụt “văn hoá cái thực” trong Giáo hội Việt Nam không ? Xin kể ra một vài dấu hiệu : trong những tài liệu học tập trong “năm Lời Chúa 2006”, ta ít thấy những tài liệu học tập nhắc nhở về ý nghĩa căn bản trong hiến chế tín lý về Mạc khải như : mạc khải chính yếu là việc Thiên Chúa mạc khải bản thân của Ngài, qua Lời và qua Hành động. Lời Chúa là lời ngỏ chứ không phải lời nói đông đổng và Hành động của Chúa cũng là hành động gửi cho ai, chứ không phải hành động trống không. Nói chung, người Kitô hữu Công giáo thường dừng lại tiến trình đọc Lời Chúa ở bài giảng của các linh mục về ý nghĩa của Lời Chúa. Các buổi “chia sẻ Lời Chúa” của người Công giáo vẫn luôn bị rơi vào khuynh hướng hiểu ý nghĩa khách quan của Lời Chúa mà khó đi đến chỗ đọc lời Chúa như lời ngỏ với bản thân mình. Nhiều giáo xứ và cả những cộng đoàn tu trì không nhận ra được giá trị “lời chứng” chân thật khi đọc và hát Thánh Vịnh, ít chọn những bài hát phổ Thánh Vịnh, thay vào đó là những bài hát “lãng mạn” mà trong đó có khá nhiều bài chỉ là những biểu tượng rỗng, không toát ra được phẩm chất “lời chứng”….

Đức Phaolô VI, rồi đức Gioan Phaolô II đều nhắc nhở rằng : ngày nay người ta cần chứng nhân hơn là thầy dạy; và nếu ai đó là thầy dạy thì cũng đồng thời phải là chứng nhân nữa… Những nhận định như thế thường bị hiểu lệch, từ “chứng tá” biểu lộ tình yêu và quyền năng của Chúa, bị biến thành “gương sáng” mẫu mực của con người…

Một vài sự kiện như thế có thể cho ta thấy một sự thiếu hụt về kinh nghiệm đức Tin không ? Khi bàn về vị trí của niềm tin trong cuộc truy tầm chân lý, đức Gioan Phaolô nói :

“Người ta đạt tới thứ chân lý cốt tử và cần thiết cho cuộc đời ấy không những nhờ lý trí nhưng còn bằng sự ưng thuận đầy tin tưởng đối với những người khác có thể bảo đảm tính xác thực và vững chắc của chính chân lý. Không nghi ngờ gì nữa, khả năng tín thác chính mình và cuộc đời mình vào một người khác, và quyết định làm như thế, đó là một trong những hành vi nhân linh có ý nghĩa và ý vị nhất”.

Có lẽ tình trạng đáng lo ngại về sự thiếu hụt “văn hoá cái thực” ở Việt Nam là não trạng kinh viện nơi các linh mục. Việc huấn luyện linh mục trong các chủng viện và học viện hình như cũng khá giống với việc huấn luyện trong đất nước chúng ta, cả ở phổ thông lẫn nơi đại học. Chiều hướng truyền thụ kiến thức vẫn là chiều hướng chính yếu. Một thứ tinh thần “học và biết” được nhấn mạnh nhiều hơn là thái độ hiểu trong suy tư. Khoảng “không gian” dành cho học viên tự bước đi, tự khám phá, tự tìm kiếm chân lý để có được một thứ chân lý gắn liền với xác tín, khoảng không đó không có hoặc có quá ít. Chính vì thế, khi ra trường, nhiều linh mục thi hành mục vụ với một “não trạng kinh viện”, nghĩa là làm những bài toán lý luận một chiều từ những nguyên tắc thần học được học trong nhà trường để áp dụng vào thực tại mục vụ ở các giáo xứ, cũng như trong các bài giảng.

Thần học và triết học kinh viện thường cung cấp sẵn những nguyên tắc, giống như những công thức toán học. Do đó, xin tạm hiểu “não trạng kinh viện” là thái độ thường hay giản lược cuộc đời tế nhị, éo le, phức tạp vào những nguyên tắc. Đó là những người ít bận tâm đến những vấn đề mới và những cách đặt vấn đề mới. Một cảm giác an tâm nào đó của những người mang “não trạng kinh viện” khiến người ta thường cũng ít lao mình vào một cuộc tìm kiếm chân lý rộng mở, nhưng chỉ giới hạn tầm nhìn trong việc thu nhặt những chứng cứ biện minh cho một chân lý công thức đã hoàn toàn chắc chắn. Đó là đường lối luyện tập “khôn vặt” nhiều hơn tinh thần thao thức tìm minh triết. Cách nhìn như thế thường đưa đến một chủ nghĩa giản lược, giản lược con người, giản lược hoàn cảnh, giản lược tình cảm, giản lược cám dỗ, giản lược tội lỗi, giản lược bệnh tật,… Do vậy. não trạng kinh viện cũng khiến cho giới giáo sĩ ít cảm nhận ra được những thôi thúc mục vụ trong những hoàn cảnh riêng biệt và ít hoà nhập suy tư của mình vào dòng sự sống trí thức của thế giới. Người ta hầu như đã có được những câu trả lời cho mọi vấn đề, nhờ vào những nguyên tắc đã được học… Suy nghĩ, soạn bài giảng, dạy học… chẳng qua là làm một phép tính với những công thức có sẵn, đưa sứ điệp Lời Chúa và những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống vào hệ thống những công thức và dễ dàng, quá dễ dàng, có được những câu trả lời “chắc chắn” như đinh đóng cột…

Dĩ nhiên kiến thức (chân lý) luôn là điều cần thiết, cần thiết như bảng chỉ đường đúng đắn; những kiến thức hệ thống của thần và triết học kinh viện vẫn luôn luôn cần thiết, nếu không thì người ta sẽ rớt vào nguy cơ của chủ nghĩa cơ hội. Chân lý khách quan hay ít là hành trình tìm chân lý khách quan là điều không thể bỏ qua. Các vị giáo hoàng đã cảnh giác điều ấy quá rõ và quá nhiều. Tuy nhiên, “mạch máu” để chuyển thông nhưng chân lý khách quan ấy lại chính là niềm xác tín của bản thân, thông qua một một tác động có tính chủ thể của tinh thần, là khả năng làm chứng. Đức Gioan Phaolô II nói :

“Đúng ra, điều người ta tìm kiếm là chân lý và ngôi vị con người : ngôi vị ấy là gì và điều ngôi vị ấy bộc lộ ra từ trong thẳm sâu của họ là gì. Vậy, sự hoàn thiện nhân bản không chỉ cốt ở chỗ có được một nhận thức trừu tượng về chân lý, nhưng còn ở trong mối quan hệ sống động làm bằng sự hiến thân cho kẻ khác. Chính trong sự hiến thân trung tín này mà một con người tìm thấy sự chắc chắn và an toàn trọn vẹn. Nhưng đồng thời nhận thức nhờ lòng tin, vì được đặt cơ sở trên niềm tín thác giữa người với người, nên được nối kết với chân lý : khi tin nhau, người ta đặt tín nhiệm vào chân lý mà người kia tỏ bày với họ.

“Có thể tìm ra nhiều ví dụ chứng minh điều này; nhưng tôi nghĩ ngay tới các vị tử đạo, là những chứng nhân chân chính nhất cho chân lý về cuộc đời. Các ngài biết rằng mình đã tìm thấy chân lý cuộc đời khi gặp gỡ đức Giêsu Kitô, và không bao giờ có gì hay có ai có thể lấy đi niềm xác quyết đó…”.

Tạm kết

Đức Tin không phải là được hình thành do lý trí; nhưng đức Tin lại luôn tìm kiếm sự hiểu biết trong ý nghĩa trọn vẹn của lý trí. Mối tương quan ấy mặc dù được lý giải thế nào đi nữa, vẫn không bao giờ có thể trở nên một thứ vấn đề được giải quyết một lần cho xong.

Đối với người Kitô hữu, chân lý chính là đức Giêsu Kitô. Đây là một chân lý “hiện sinh” căn bản. Đức Tin là sự gắn bó chân-thật với bản thân đức Giêsu Kitô và đón nhận trọn vẹn tất cả những gì Ngài dạy bảo, dù mình chưa thông hiểu hết. Nếu không bao gồm mối tương quan biện chứng giữa chân và thật, hoặc người ta sẽ rơi vào duy tín (fidélisme) hoặc sẽ rơi vào duy lý (rationalisme). Với Kitô giáo, không có vấn đề chọn cái chân bỏ cái thực; hay chọn cái thực bỏ cái chân. Vấn đề là nhận ra mối tương quan biện chứng giữa hai khía cạnh làm nên một nhận thức toàn vẹn sự “chân-thực”.

Chú thích:

[7] Gioan Phaolô II, Thông điệp “Đức Tin và Lý trí”, số 1

[8] Xc, ĐGH Bênêđictô XVI, Đức Tin, Lý trí và Đại học. Hoài niệm va Suy tư. Bài thuyết trình tại đại học Regensburg (Đức), ngày 12-9-2006.

[9] T/đ Đức Tin và Lý trí, số 33

[10] Theo lối nói của Kant, kiểu phán đoán ấy là phán đoán xác quyết (jugement déterminant), nghĩa là đi từ cái phổ quát đến cái cá biệt. Nhưng đối với Kant, có một loại phán đoán khác, phán đoán phản tỉnh (Jugement réfléchissant), đi từ cái cá biệt để suy tư hướng lên cái phổ quát, chính phán đoán loại này mới mở con đường cho con người được giải thoát.

[11] T/đ Đức Tin và Lý trí, số 32.

Xem lại phần 1