Cái lý – Cái tình
Có một thực tế của cuộc sống hiện đại đã chi phối đời sống gia đình rất nhiều, đó là nếp sống của đời sống gia đình bị phá vỡ do nhu cầu của công việc. Điều tưởng như hiển nhiên với những thế hệ trước là “an cư - lạc nghiệp”, nay đã và đang dần dần bị đảo ngược thành “lạc nghiệp – an cư”. Đây là một sự đảo ngược không chỉ theo nghĩa không gian, nhưng còn theo nghĩa thời gian, và sâu xa hơn là một sự đảo ngược của toàn bộ giá trị căn bản của cuộc sống. “An cư” được hiểu trước tiên như có một ngôi nhà vật chất để ở; nhưng cũng có thể được hiểu như một bầu khí gia đình để “trở về”, như một sự ổn định trong tâm hồn để có thể chống lại áp lực của cuộc sống bên ngoài, như một hiện hữu căn bản làm nên ý nghĩa nền tảng của một cuộc đời để có thể hóa giải những biến động lẻ tẻ hằng ngày của cuộc sống. Tất cả những yếu tố ấy, nhà ở, đời sống gia đình, sự bình an trong tâm hồn, ý nghĩa căn bản của cuộc sống...có liên hệ mật thiết với nhau, tương tác thuận chiều với nhau. “Lạc nghiệp” được hiểu trước tiên là một công ăn việc làm ổn định; nhưng cũng có thể được hiểu là những thúc bách của cuộc sống xã hội, như trách nhiệm mà mỗi người phải đảm nhận với xã hội, với tập thể,...
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
1. Gia đình trước biến động của xã hội
Có một thực tế của cuộc sống hiện đại đã chi phối đời sống gia đình rất nhiều, đó là nếp sống của đời sống gia đình bị phá vỡ do nhu cầu của công việc. Điều tưởng như hiển nhiên với những thế hệ trước là “an cư - lạc nghiệp”, nay đã và đang dần dần bị đảo ngược thành “lạc nghiệp – an cư”. Đây là một sự đảo ngược không chỉ theo nghĩa không gian, nhưng còn theo nghĩa thời gian, và sâu xa hơn là một sự đảo ngược của toàn bộ giá trị căn bản của cuộc sống. “An cư” được hiểu trước tiên như có một ngôi nhà vật chất để ở; nhưng cũng có thể được hiểu như một bầu khí gia đình để “trở về”, như một sự ổn định trong tâm hồn để có thể chống lại áp lực của cuộc sống bên ngoài, như một hiện hữu căn bản làm nên ý nghĩa nền tảng của một cuộc đời để có thể hóa giải những biến động lẻ tẻ hằng ngày của cuộc sống. Tất cả những yếu tố ấy, nhà ở, đời sống gia đình, sự bình an trong tâm hồn, ý nghĩa căn bản của cuộc sống...có liên hệ mật thiết với nhau, tương tác thuận chiều với nhau. “Lạc nghiệp” được hiểu trước tiên là một công ăn việc làm ổn định; nhưng cũng có thể được hiểu là những thúc bách của cuộc sống xã hội, như trách nhiệm mà mỗi người phải đảm nhận với xã hội, với tập thể,...
Khi nguyên tắc “an cư – lạc nghiệp” được thực hiện, đời sống con người được ổn định, trước tiên, từ ngôi nhà ở, từ đời sống gia đình, từ nền tảng ý nghĩa chính yếu của một đời người...; trên nền tảng ấy, tâm hồn con người mới có thêm sức mạnh và công ăn việc làm mới có thể xuôi xắn, trách nhiệm với đời sống xã hội được chu toàn....
Ngược lại, bầu khí chung trên toàn thế giới hiện nay đang xoay chiều, nguyên tắc “lạc nghiệp – an cư” đang càng ngày càng trở nên đường lối thắng thế. Thực trạng di dân càng ngày càng trở nên phổ biến; vì nhu cầu cuộc sống xã hội những dịp hội họp có tính chất tình nghĩa càng ngày càng khó thực hiện, những buổi xum họp gia đình càng ngày càng ít đi; những tâm tình, cảm nghĩ riêng tư của mỗi người càng ngày càng không có cơ hội được bộc lộ và được cảm thông... Điều quan trọng hơn cả là có một sự đảo ngược giá trị; càng ngày người ta càng chuẩn hóa tương quan tình nghĩa gia đình theo một sự hợp lý có tính xã hội. “Xã hội lý” càng ngày càng đè bẹp “xã hội tình”.
2. Hai thế giới, hai nguyên lý
2.1 Hai cách làm nhà
Khi người ta làm một căn nhà tạm thời, một căn nhà không có móng, thì điều quan trọng là phải nối kết kèo cột với nhau thật chắc. Nhưng khi người ta muốn dựng một căn nhà vững bền, thì điều quan trọng hơn là phải có nền móng vững chắc. Với căn nhà tạm thời, khi kèo cột bung ra, căn nhà sụp đổ. Nhưng với một căn nhà có móng, khi kèo cột rời ra, lung lay, lắc lư, nó vẫn có thể đứng được. Rồi người ta lại tìm cách nối kết kèo cột lại với nhau. Hình ảnh căn nhà như thế giống với những mối tương quan con người với nhau. Khi người ta “gá nghĩa” tạm thời, theo tình đồng nghiệp, tình nghĩa làng xóm… thì cần phải biết cư xử với nhau cho đẹp, phải biết điều, biết ngó trước nhìn sau, biết liệu cơm gắp mắm… bởi vì nếu “kèo cột” không ăn khớp với nhau, thì mọi sự sẽ đổ bể hết.
Tuy nhiên, trong đời sống gia đình, khi người ta chấp nhận bản thân của nhau, thì mặc dù những điều ăn khớp trên kèo cột vẫn luôn cần thiết, nhưng điều quan trọng nhất lại chính là một sự “thuộc về nhau”, thuộc trọn về nhau; đây là một sự liên kết trong móng nền. Nhiều khi, trong gia đình, anh chị em không hợp tính nhau, thường xuyên cãi vã… nhưng dù sao họ vẫn là anh chị em của nhau, vẫn thuộc về nhau từ trong dòng máu của mẹ cha. Do đó, dù nói gì thì nói, dù tức bực với nhau sao đó, người ta vẫn phải dành ưu tiên những gì quí nhất cho những người thuộc về mình chứ không phải cho một người ngoài, dù đây là người rất hợp tính với mình.
Như thế, chúng ta hiểu ra rằng bí quyết của tình yêu không phải là sự ăn khớp tính tình, không phải chỉ là yêu thích những nét đẹp của nhau, nhưng căn bản hơn, đó là sống trong một nền tảng “thuộc về nhau”. Bí quyết đó là một thực tế hết sức quen thuộc của đời thường, ta có thể dễ dàng kiểm chứng và mọi người có thể sống được. Một khi đã xây dựng được một sự thuộc về nhau, tức là một sự đón nhận bản thân của nhau, người ta có khả năng vượt qua được những mâu thuẫn, những xung đột, hoặc những chướng ngại của một tật xấu nào đó, để có thể đón nhận người thuộc về mình một cách quảng đại và vô điều kiện.
2.2 Từ trao đổi đến trao tặng
Chúng ta có thể thấy rõ sự khác biệt của hai nhu cầu căn bản khi so sánh thế giới trong nhà và thế giới ngoài đường. Khi ta đi ra đường, mọi sự đều là đổi chác. Trong thế giới ngoài đường, từ những đồ vật cho đến thân xác con người, từ những tài năng cá nhân cho đến vị thế xã hội, và cả đức độ của một con người, tất cả đều được đưa vào bài toán kinh tế thị trường, nghĩa là được đặt lên một bàn cân để cân nhắc lời lỗ của một cuộc trao đổi. Nét đặc trưng của việc buôn bán này là làm sao hai bên cùng có lợi, nghĩa là bên nào cũng phải thu lời được cho mình. Mặt khác, việc mua bán đổi chác ấy luôn là chuyện thời vụ, hiểu theo nghĩa là trong từng “hợp đồng” có tính ngắn hạn, bởi vì đó không phải là giao ước đụng chạm đến bản thân.
Trong khi đó, khi về đến gia đình, người ta sống trong một bầu không khí khác, bầu không khí của một sự chấp nhận bản thân của nhau. Khi đó, những tương quan hằng ngày không phải là đổi chác, không phải là những trao đổi theo nguyên lý của sự công bằng.
Cuộc trao đổi của thế giới ngoài đường không đụng đến được bản thân của con người, chỉ là những trao đổi những sự vật (sự vật là tất cả những gì không phải là bản thân của con người). Trong thế giới trao đổi sự vật đó, nếu người ta có xúc phạm đến phẩm giá, hoặc đối xử lịch sự với nhau, thì thật ra đó cũng chỉ là chuyện “lễ nghĩa” mà thôi. Trên nền tảng ấy, cuộc đối thoại ngoài đường thật ra cũng chẳng phải là cuộc đối thoại thoả mãn được khát vọng sống với của con người.
Ở trong gia đình, người ta chấp nhận bản thân của nhau. Nơi đây, những gặp gỡ, trao đổi hằng ngày, không phải là trao đổi, nhưng hướng mở tới một sự liên kết sâu hơn, làm dày lên nghĩa tình trong hành trình cuộc sống. Trong gia đình, mọi “trao đổi sự vật” chỉ là một cách diễn tả của bản thân cho nhau; trong khi đó, nơi thế giới ngoài đường, chính bản thân lại có nguy cơ bị giản lược vào “sự vật” để đổi chác.
3. Dưới ánh sáng đức Tin
Thực sự con người vừa cần được “an cư” vừa cần có “lạc nghiệp”. Đời sống con người luôn luôn là một hành trình “đi – về”. Con người cần phải ra đi, “đi một đàng học một sàng khôn”, nhưng con người cũng luôn cần có chỗ có nơi để trở về, “ta về ta tắm ao ta...”. Tuy vậy, yếu tố nền tảng chắc chắn phải là “an cư”. Một người “lữ khách” sẽ không dễ để giải quyết một vấn đề nào đó cách căn bản; người “lữ khách” thường giải quyết tạm mọi vụ việc, như người ta đá cục gạch giữa đường để lấy chỗ bước đi mà không cần biết cục gạch văng đến đâu. Con người cần có một sự ổn định trong “nơi ở”, trong “cách ở”, nghĩa là cần một “hậu phương” để trở về, cần một “mái ấm” để xoa dịu tâm hồn; cần một mối tương quan tình nghĩa gia đình để có thể mạnh mẽ trong trách nhiệm với cộng đồng... Người ta nói : đằng sau sự thành công của một người đàn ông bao giờ cũng có bóng dáng một người đàn bà; câu nói đó có lẽ minh họa được cho thực trạng của đời người.
Có rất nhiều trục trặc trong đời sống gia đình, trong cộng đoàn tu trì, trong những tổ chức hội đoàn...bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa nói trên; và nếu không nhận ra được nguyên nhân sâu xa ấy, người ta khó có thể giải quyết được vấn đề một cách tận căn. Thiếu sự hiểu biết bản thân của nhau, người ta chỉ còn biết đòi hỏi nhau về lý lẽ; thiếu sự cảm thông với những khó khăn của nhau, người ta sẽ khó có thể cùng đồng hành trong cách giải quyết một vấn đề; thiếu những lời “tâm sự”, càng ngày người ta chỉ còn biết nói những lời “đông đổng” với nhau...
Những điều nói trên không phải chỉ là chuyện đời thường, và cũng không phải chỉ là thực trạng của đời sống gia đình, nhưng còn dính dáng cả tới đời sống đức Tin. Đức tin Kitô giáo, trước hết, không phải là một hệ thống giáo lý dạy ta “ăn ngay ở lành”, nhưng là sống-với Chúa, sống mối tương quan thực sự với Chúa, tương quan tình nghĩa, tương quan yêu thương, tương quan thuộc về, tương quan thứ tha, tương quan thương xót... Các môn đệ đầu tiên không tìm đến với đức Giêsu như một vị thầy dạy học, nhưng như “Đấng ở”:
“Đức Giê-su quay lại, thấy các ông đi theo mình, thì hỏi : "Các anh tìm gì thế ?". Họ đáp : "Thưa Ráp-bi (nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu ?" (Ga 1,38)
Và đức Giêsu đã mời gọi các ông, trước tiên, không phải là học một bài học, mà là xem chỗ Người ở và ở lại với Người :
“Người bảo họ : "Đến mà xem." Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười”.(Ga 1,39)
Sống trong xã hội hiện đại, mỗi người chúng ta đều khó có thể chống lại được xu hướng chung. Tuy vậy, hơn lúc nào hết, mỗi người Kitô hữu cần xác tín được ý nghĩa đức Tin như là được “ở với Chúa”. Đây chính là lúc mỗi người Kitô hữu hiểu rằng đức Tin không phải chỉ là sống luân lý, là “sống thế nào”, mà thiết yếu là “sống-với-ai”. “Ai” ở đây trước tiên là chính Chúa Giêsu; rồi cũng là gia đình, là anh chị em trong huynh đoàn...
Đồng thời mỗi người Kitô hữu cần tìm ra được phương thức để xây dựng chính đời sống gia đình của mình trên nền tảng “an cư”, cũng như xây dựng cộng đoàn, hội dòng trên nền tảng tình nghĩa... “Cái lý” luôn cần thiết nhưng phải đặt đúng chỗ trên nền tảng “cái tình”.
Tạm kết
Nếu Thiên Chúa dùng “cái lý” để xử lý đời sống con người, tất cả chúng ta đều chết. Nhưng, tạ ơn Chúa, Ngài lại đặt nền tảng của ơn cứu độ trong “cái tình”, và chúng ta có niềm hy vọng được cứu độ.
Tình yêu của Thiên Chúa là “tình yêu vô điều kiện”; và còn lớn hơn tình yêu vô điều kiện nữa, đó là tình yêu tha thứ, và nhất là “tình yêu liên lụy”.
Như thế, ai sống trong sự sống của ơn cứu độ thì cũng được mời gọi để thông chia tình nghĩa của Thiên Chúa cho người khác. Điều đó cần được thực hiện trước tiên trong đời sống gia đình Kitô giáo .