Sứ Vụ Ngôn Sứ Hôm Nay - Phần 5

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Tên Isaia có nghĩa là “Giavê cứu độ”. Ông thuộc gia đình quyền qúy, và có lẽ thuộc dòng dõi hoàng gia. Isaia có một trí khôn sắc sảo, một kiến thức uyên bác, có khả năng thấu triệt những vấn đề của thời đại. Ông là một thi sĩ thiên tài, có khả năng “xuất khẩu thành thi”. Ông cũng là con người có ý chí mạnh mẽ, một con người quả cảm, sẵn sàng lãnh nhận trách nhiệm. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn hết, Isaia là một con người sùng đạo, hết lòng tin tưởng vào Thiên Chúa. Ông được mệnh danh là “ngôn sứ về sự thánh thiện và uy quyền của Giavê”.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Isaia, Ngôn sứ về tình yêu hy sinh

1. Tiểu sử

Tên Isaia có nghĩa là “Giavê cứu độ”. Ông thuộc gia đình quyền qúy, và có lẽ thuộc dòng dõi hoàng gia. Isaia có một trí khôn sắc sảo, một kiến thức uyên bác, có khả năng thấu triệt những vấn đề của thời đại. Ông là một thi sĩ thiên tài, có khả năng “xuất khẩu thành thi”. Ông cũng là con người có ý chí mạnh mẽ, một con người quả cảm, sẵn sàng lãnh nhận trách nhiệm. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn hết, Isaia là một con người sùng đạo, hết lòng tin tưởng vào Thiên Chúa. Ông được mệnh danh là “ngôn sứ về sự thánh thiện và uy quyền của Giavê”.

Isaia phê phán các tệ trạng xã hội : thờ quấy, bất công xã hội, sự đỏm dáng của các quí bà ở Giêrusalem… trong thời Ozia. Sau đó, vào thời Achez và Edêkias, ông chủ trương một thứ “chính trị đức tin”, nghĩa là hoàn toàn tín nhiệm vào Chúa, không tìm nương tựa nơi những thế lực ngoại bang.

Chúng ta chỉ lưu ý đến vài ý tưởng trong những bài ca về “Người Tôi Trung của Giavê”, trong phần người ta quen gọi là Isaia II.

2. Các bài thơ về Người Tôi Trung

2.1 Bài thơ 1 : Is 42, 1-9

Thiên Chúa thực hiện chương trình cứu độ của Ngài qua sự trung gian của một Người Tôi Trung. Người Tôi Trung phải đương đầu với một thế giới thù nghịch. Ông thực hiện điều Thiên Chúa muốn bằng một phong cách riêng: âm thầm chứ không rầm rộ, không hô hoán dân chúng, không la lối trên công trường; Người Tôi Trung cũng không chiến đấu với sự ác như một vị tướng oai phong, nhưng như một kẻ ngã quỵ trước cường bạo. Ông phụng sự công lý với lòng nhẫn nại, nhân từ và cứu chữa những người hèn mọn nhất trong Dân…

Phương thức đấu tranh cho công lý của Người Tôi Trung thể hiện chính đường lối của Thiên Chúa trong dòng lịch sử. Ngài cũng hành động âm thầm và kiên nhẫn đón nhận sự phản bội của Dân…

Is 42,1-9

42,1Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ,

là người Ta tuyển chọn và quý mến hết lòng,

Ta cho thần khí Ta ngự trên nó ;

nó sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân.

2 Nó sẽ không kêu to, không nói lớn,

không để ai nghe tiếng giữa phố phường.

3 Cây lau bị giập, nó không đành bẻ gẫy,

tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi.

Nó sẽ trung thành làm sáng tỏ công lý.

4 Nó không yếu hèn, không chịu phục,

cho đến khi thiết lập công lý trên địa cầu.

Dân các hải đảo xa xăm đều mong được nó chỉ bảo.

5 Đây là lời Thiên Chúa, lời ĐỨC CHÚA,

Đấng sáng tạo và căng vòm trời,

Đấng trải rộng mặt đất với hoa màu tràn lan,

Đấng ban hơi thở cho dân trên mặt đất,

ban sinh khí cho toàn thể cư dân.

6 Người phán thế này : "Ta là ĐỨC CHÚA, Ta đã gọi ngươi,

vì muốn làm sáng tỏ đức công chính của Ta.

Ta đã nắm tay ngươi,

đã gìn giữ ngươi và đặt làm giao ước với dân,

làm ánh sáng chiếu soi muôn nước,

7 để mở mắt cho những ai mù loà,

đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ,

dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong chốn tối tăm."

8 Ta là ĐỨC CHÚA, đó là danh Ta.

Vinh quang của Ta, Ta không nhường cho ai khác ;

lời tán tụng dành cho Ta, Ta không để các tượng thần tước đoạt.

9 Chuyện cũ đã qua rồi, nay Ta loan báo những điều mới,

và trước khi những điều này xảy ra,

Ta đã cho các ngươi nghe biết.

2.2 Bài thơ 2 : Is 49,1-6

Người Tôi Trung được Thiên Chúa kêu gọi từ trong lòng mẹ. Thiên Chúa thánh hiến ông để dùng ông như một khí cụ chọn lọc…

Is 49,1-6

49,1 Hỡi các đảo, hãy nghe tôi đây,

hỡi các dân tộc miền xa xăm, hãy chú ý :

ĐỨC CHÚA đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ,

lúc tôi chưa chào đời, Người đã nhắc đến tên tôi.

2 Người đã làm cho miệng lưỡi tôi nên như gươm sắc bén,

giấu tôi dưới bàn tay của Người.

Người đã biến tôi thành mũi tên nhọn,

cất tôi trong ống tên của Người.

3 Người đã phán cùng tôi : "Hỡi Ít-ra-en, ngươi là tôi trung của Ta.

Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang."

4 Phần tôi, tôi đã nói :

"Tôi vất vả luống công, phí sức mà chẳng được gì."

Nhưng sự thật, đã có ĐỨC CHÚA minh xét cho tôi,

Người dành sẵn cho tôi phần thưởng.

5 Giờ đây ĐỨC CHÚA lại lên tiếng.

Người là Đấng nhào nặn ra tôi

từ khi tôi còn trong lòng mẹ

để tôi trở thành người tôi trung,

đem nhà Gia-cóp về cho Người

và quy tụ dân Ít-ra-en chung quanh Người.

Thế nên tôi được ĐỨC CHÚA trân trọng,

và Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi.

6 Người phán : "Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta

để tái lập các chi tộc Gia-cóp,

để dẫn đưa các người Ít-ra-en sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít.

Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân,

để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất."

2.3 Bài thơ 3 : Is 50, 4-11

Người Tôi Trung đón nhận một thân phận bi đát, ông giơ lưng cho kẻ đánh đập, không giấu mặt để khỏi bị lăng nhục…

Is 50,4-11

ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng

đã cho tôi nói năng như một người môn đệ,

để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức.

Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi

để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ.

5 ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng đã mở tai tôi,

còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui.

6 Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn,

giơ má cho người ta giật râu.

Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ.

7 Có ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phù trợ tôi,

vì thế, tôi đã không hổ thẹn,

vì thế, tôi trơ mặt ra như đá.

Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng.

8 Đấng tuyên bố rằng tôi công chính, Người ở kề bên.

Ai tranh tụng với tôi ? Cùng nhau ta hầu toà !

Ai muốn kiện cáo tôi ? Cứ thử đến đây coi !

9 Này, có ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phù trợ tôi,

ai còn dám kết tội ?

Này, tất cả chúng sẽ mục đi như chiếc áo, và sẽ bị mối ăn.

10 Ai trong các ngươi kính sợ ĐỨC CHÚA,

nghe theo tiếng tôi tớ của Người,

ai đi trong bóng tối, không một tia sáng nào chiếu rọi,

hãy tin tưởng vào danh ĐỨC CHÚA

và tìm nương tựa nơi Thiên Chúa mình thờ.

11 Phần tất cả các ngươi, những ai đã phóng hoả,

dùng mũi tên lửa làm vũ khí, hãy đâm đầu vào đống lửa

chính các ngươi đã đốt lên, vào làn tên các ngươi đã châm lửa.

Những gì các ngươi đang phải chịu đều là do chính tay Ta :

các ngươi sẽ nằm xuống trong đớn đau cùng cực.

2.4 Bài thơ 4 : Is 52, 13 – 53,12

Tấn bi kịch của Người Tôi Trung đi đến giai đoạn cao điểm, đó là Người Tôi Trung phải đón nhận một bi kịch đẫm máu cho cuộc đời mình. Người Tôi Trung không còn dáng vẻ gì của con người nữa, ông phó mặc bản thân mình cho sức mạnh thù nghịch. Sự ác được tự do tung hoành, sự ác không còn chút e ngại, không còn bị một sự chống đối nào; sự ác mặc sức bộc lộ hết sức mạnh hủy diệt trên bản thân Người Tôi Trung. . .

Is 52,13-53,12

Này đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt,

sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng.

14 Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy tôi trung của Ta

mặt mày tan nát chẳng ra người,

không còn dáng vẻ người ta nữa,

15 cũng vậy, nó sẽ làm cho muôn dân phải sững sờ,

vua chúa phải câm miệng, vì được thấy điều chưa ai kể lại,

được hiểu điều chưa nghe nói bao giờ.

53,1 Điều chúng ta đã nghe, ai mà tin được ?

Cánh tay uy quyền của ĐỨC CHÚA đã được tỏ cho ai ?

2 Người tôi trung đã lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh,

như khúc rễ trên đất khô cằn.

Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong

đáng chúng ta ngắm nhìn,

dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích.

3 Người bị đời khinh khi ruồng rẫy,

phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật.

Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn,

bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới.

4 Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta,

đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta,

còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt,

bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề.

5 Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội,

bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm ;

người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an,

đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành.

6 Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu,

lang thang mỗi người một ngả.

Nhưng ĐỨC CHÚA đã đổ trên đầu người

tội lỗi của tất cả chúng ta.

7 Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca ;

như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông,

người chẳng hề mở miệng.

8 Người đã bị ức hiếp, buộc tội, rồi bị thủ tiêu.

Dòng dõi của người, ai nào nghĩ tới ?

Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh,

vì tội lỗi của dân, người bị đánh phạt.

9 Người đã bị chôn cất giữa bọn ác ôn,

bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo

và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa.

10 ĐỨC CHÚA đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ.

Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội,

người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn,

và nhờ người, ý muốn của ĐỨC CHÚA sẽ thành tựu.

11 Nhờ nỗi thống khổ của mình,

người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện.

Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta,

sẽ làm cho muôn người nên công chính

và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ.

12 Vì thế, Ta sẽ ban cho nó muôn người làm gia sản,

và cùng với những bậc anh hùng hào kiệt,

nó sẽ được chia chiến lợi phẩm,

bởi vì nó đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân ;

nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người

và can thiệp cho những kẻ tội lỗi.

Hình dạng Người Tôi Trung không còn duyên dáng, không còn đẹp đẽ, ông như một rễ cây trong đất khô cằn, ông bị chà đạp dưới chân; ông bị khinh bỉ; trở nên phế vật của nhân loại… đến độ người ta thấy như vậy và nghĩ rằng ông bị Thiên Chúa trừng phạt. Nhưng người ta không biết rằng Người Tôi Trung mang lấy sự đau khổ của mọi người, ông gánh chịu hình phạt xứng với tội lỗi của mọi người… và cực hình của ông mang lại sự bình an cho chính họ.

Như thế cuộc thụ nạn của ông, trong chiều sâu lại chính là bằng chính tình thân mật của ông đối với Thiên Chúa. Ông hiến mạng sống mình để thực hiện ý Thiên Chúa và ông sẽ được vinh hiển mai sau; linh hồn ông được nhìn thấy vinh quang; ông sẽ có được một giòng dõi đông đảo và ngày của ông sẽ vô tận…

3. Huyền nhiệm Người Tôi Trung

3.1 Vừa là Israen vừa là một “Cá Nhân” nào đó

Những hình ảnh của Người Tôi Trung luôn bao hàm một huyền nhiệm nào đó khó có thể múc cạn được; có lúc Người Tôi Trung được tỏ rõ là chính Israen; nhưng nhiều chỗ lại cho thấy đây là một cá nhân đặc biệt, vượt trổi hơn tập thể dân Israel, có nhiệm vụ mang lại ơn cứu độ cho Dân cũng như cho toàn thể nhân loại :

49,5 Giờ đây ĐỨC CHÚA lại lên tiếng.

Người là Đấng nhào nặn ra tôi

từ khi tôi còn trong lòng mẹ

để tôi trở thành người tôi trung,

đem nhà Gia-cóp về cho Người

và quy tụ dân Ít-ra-en chung quanh Người.

Thế nên tôi được ĐỨC CHÚA trân trọng,

và Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi.

6 Người phán : "Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta

để tái lập các chi tộc Gia-cóp,

để dẫn đưa các người Ít-ra-en sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít.

Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân,

để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất." (Is 49,5-6)

3.2 Người Tôi Trung vừa diễn tả tình trạng của ngôn sứ vừa vượt quá mọi ngôn sứ trong lịch sử

Hình như những bài ca này được khởi hứng từ vận mạng cụ thể của những ngôn sứ, những người đã lãnh chịu những nỗi đau vì loan báo kế hoạch của Giavê, hoặc nói chung là một suy nghĩ về những đau khổ mà người lành phải hứng chịu. Isaia nhìn đến những tấm gương của các ngôn sứ và nhận ra ý nghĩa của những khổ đau. Khổ đau của ngôn sứ không mất đi, không rơi vào hư không, không phải là một thất bại chung cuộc; khổ đau mang một ý nghĩa sâu xa hơn, nó có chỗ đứng đặc biệt trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Như thế, nơi các bài ca về Người Tôi Trung, có lẽ Isaia nhận ra một sứ điệp không phải ở những lời tuyên cáo của các ngôn sứ, mà còn nơi chính là cuộc đời của các ông. Trong mầu nhiệm cứu độ mà Thiên Chúa muốn thực hiện, một nhiệm cục gắn liền với ô nhục, đau đớn, oan uổng, Isaia nhận ra việc giao hòa của Thiên Chúa đối với Israel không phải chỉ được loan báo, nhưng cần được thể hiện một cách cụ thể, và thể hiện một cách kỳ diệu bằng một tình yêu hy sinh. Có vẻ như nhiệm cục cứu độ diễn tiến đến một giai đoạn, khi mà những người trung gian như vua, tư tế đã không hoàn thành được sứ mệnh, thì chính các ngôn sứ, dù tự nguyện hay miễn cưỡng, phải lãnh trách nhiệm thiêng liêng về anh chị em mình, như Môisen đã làm ngày xưa. Ngôn sứ muốn nối kết lại tình thân của Dân với Thiên Chúa thì cũng phải gánh chịu trên mình tội lỗi của họ. Người ta có thể thấy thấp thoáng những yếu tố đó trong một số nơi khác, chẳng hạn :

* Ngôn sứ lãnh nhận tội lỗi thay cho Dân

Ed 4,4-8 :

“Phần ngươi, hãy nằm nghiêng bên trái và mang lấy tội lỗi nhà Ít-ra-en. Ngươi nằm như vậy bao nhiêu ngày thì ngươi cũng gánh tội chúng bấy nhiêu ngày. 5 Còn Ta, Ta sẽ tính cho ngươi số năm tội lỗi của chúng theo số ngày : ba trăm chín mươi ngày ngươi phải gánh tội nhà Ít-ra-en. 6 Sau khi giữ đủ số ngày ấy, ngươi lại nằm nghiêng bên phải mà gánh lấy tội lỗi nhà Giu-đa trong bốn mươi ngày. Ta tính cho ngươi mỗi ngày là một năm. 7 Rồi ngươi hướng mặt và đưa cánh tay trần về phía Giê-ru-sa-lem đang bị vây hãm mà tuyên sấm để lên án nó. 8 Này Ta sẽ lấy dây thừng trói ngươi lại, khiến ngươi không trở mình bên này bên kia được, cho đến khi ngươi giữ đủ số ngày ngươi nằm bất động”.

* Ngôn sứ bầu cử cho Dân trước mặt Thiên Chúa

Gr 14,19-22 :

Lạy Chúa, phải chăng Ngài đã quyết từ bỏ Giu-đa ?

Phải chăng Xi-on khiến lòng Ngài ghê tởm ?

Vậy cớ sao Ngài đánh phạt chúng con

đến vô phương chữa chạy ?

Chúng con đợi hoà bình nhưng chẳng được may lành chi hết !

Mong đến thời bình phục,

mà chỉ thấy rùng rợn khiếp kinh !

20 Lạy CHÚA, chúng con nhận rằng mình gian ác

và cha ông sai lỗi đã nhiều.

Quả chúng con đều đắc tội với Chúa !

21 Vì Danh Thánh, xin Chúa đừng chê bỏ chúng con,

đừng rẻ rúng toà vinh hiển của Ngài.

Dám xin Ngài nhớ lại, đừng huỷ bỏ giao ước

giữa Ngài với chúng con.

22 Trong số chư thần của các dân tộc,

có thần nào làm được mưa chăng ?

Có phải trời đổ được mưa rào,

hay chính Ngài, lạy ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của chúng con ?

Chúng con trông cậy nơi Ngài,

vì chính Ngài đã làm ra tất cả những điều đó !

* Ngôn sứ nhận ra Thiên Chúa đòi máu kẻ có tội nơi tay của mình

Ed 33,8 : ““33,8 Nếu Ta phán với kẻ gian ác rằng : "Hỡi tên gian ác, chắc chắn ngươi phải chết", mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó.” (Xc. Ed 3,20…)

Cũng thế, trong lịch sử ơn Cứu độ, người ta thấy có một số yếu tố tiên báo một nhiệm cục cứu độ mang tính cách gánh tội thay như thế, chẳng hạn hình ảnh con chiên bị dẫn đến lò sát sinh trong ngày Xá tội… mà từ đó, ta có thể thấy nhiệm cục cứu độ có tính chất của một cuộc “tử đạo”. Thật ra, không bao giờ một ai đó đã là “người của Thiên Chúa”, hay là ngôn sứ mà lại không phải chịu một sự mất mát một phần lợi lộc hay một phần tình yêu nào đó : Abraham đồng ý sát tế con ruột của mình, Môsê chịu chết trên thềm đất hứa để đền tội thay cho Dân; còn Hôsê thì đón nhận cuộc tình duyên cay đắng của mình, đón nhận người vợ ngoại tình nhiều lần, đón nhận nỗi tủi nhục lớn nhất của một người Israel, đó là đón nhận những đứa con không phải do máu huyết của chính mình… Đau khổ không phải là chuyện bất thường, nhưng là điều kiện để thực hiện sứ mệnh.

Tuy nhiên, những bài ca này không chỉ dừng lại ở sự đau khổ của người lành hay của các ngôn sứ. Thật thế, người ta nhận thấy không một ngôn sứ nào có thể thực sự đáp ứng được trọn vẹn những điều đã tiên báo về Người Tôi Trung. Sự khổ đau của các ngôn sứ, dù có lớn lao đến mấy, như Giêrêmia chẳng hạn, thì cũng chỉ gắn liền với một thời cuộc nhất định, nằm trọn trong mức độ giới hạn của lịch sử cụ thể. Trong khi đó, viễn tượng của ơn cứu độ của Giavê Thiên Chúa thì lại vượt quá, chẳng những bao trùm toàn thể lịch sử của Dân, nhưng còn vươn tới tầm mức lịch sử của nhân loại. Do đó, những bài ca ấy như thể còn phóng tầm nhìn về một Ngôn Sứ cao cả hơn, một Ngôn Sứ duy nhất, Đấng Mêsia cao cả mà cả Dân tộc vẫn đợi trông… chính nơi nhân vật ấy mà Thiên Chúa mới có thể tỏ bày trọn vẹn chương trình cứu độ lạ kỳ của Người.

3.3 Hay hình ảnh Người Tôi Trung chỉ là một biểu tượng ?

Những lời sấm về Người Tôi Trung hình như không ngừng ám ảnh chính lương tâm của chính Isaia. Ông loan báo một điều mà chính ông cũng không hiểu được; ông trăn trở với một viễn tượng mà chính ông không thể hình dung ra được trong thực tại của lịch sử. Điều đó tạo nên trong truyền thống Do Thái một khúc mắc nan giải mà đôi khi có người chỉ muốn hiểu những lời thơ này theo một nghĩa bóng bẩy. Truyền thống Do Thái dường như lúng túng trong việc tìm ra được một tổng hợp giữa hình ảnh một Đấng Mêsia được trông đợi như “Con Người” oai nghiêm thuộc thiên giới đến trên mây trời của Daniel (Dn 7,13) với hình ảnh một Người Tôi Trung mang đậm nét con người, bị sỉ nhục và đau khổ trong Isaia.

Trong truyền thống Do Thái giáo, người ta thấy rằng những nhà thần kiến táo bạo nhất cũng không làm sao dung hòa được hai viễn tượng đó, mặc dầu là dung hòa một cách vụng về đi nữa. Chẳng hạn chúng ta đọc thấy trong triết gia Do Thái Maimonide (1135-1204 sau JC) một suy niệm như sau : “Bạn đừng có bao giờ nghĩ rằng vào thời kỳ của Đấng Cứu Thế, có cái gì sẽ thay đổi trên thế giới bình thường nay… Không, thế giới vẫn như thường, và điều Isaia đã nói… và tất cả những điều giống như thế về vấn đề Đấng Cứu Thế đều là những mechalim, những dụ ngôn” .

Hoặc chúng ta có thể đọc trong bài thơ của Frischmann, một thi sĩ Ba lan, gốc Do Thái, một hình ảnh biểu tượng một Đấng Cứu Thế bị trói bằng những sợi xích vàng trên thiên giới : Ngài đón nhận những nỗi đau của nhân loại, qua mọi thời đại. Từ trên cao Ngài nhìn thấy mọi nỗi kinh hãi của cuộc sống nơi anh em Ngài… Ngài như vùng vẫy để xuống thế, Ngài khao khát, Ngài lấy hết nghị lực để bẻ gẫy xiềng xích, để thoát ra, để phóng xuống, để giải thoá, để cứu vớt… nhưng Ngài vẫn bị trói bằng những sợi xích vàng…

Phải chăng cuối cùng hình ảnh Người Tôi Trung trong Isaia cũng chỉ là “dụ ngôn” ? là cách diễn tả lòng khao khát cứu độ của một Đấng Mêsia bị xích bằng những sợi xích vàng ? là một động lực muôn đời trong dòng lịch sử, bộc lộ trong những con người anh hùng hết thời đại này sang thời đại khác, để lao vào cuộc cứu độ con người ?

4. Chân trời Kitô giáo

Ta cũng thấy, chính các môn đệ của Chúa Giêsu, ban đầu cũng không thể nào hiểu được, đúng hơn là không thể nào đón nhận được một “thần trí” của Thiên Chúa để chấp nhận đi theo một Đấng Mêsia “đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ”, một Đấng Mêsia bị nộp, bị đánh đòn và bị giết như một tội nhân… Não trạng Do Thái đã ăn quá sâu vào tâm hồn những người môn đệ của Chúa. Thế nhưng, trong sự hướng dẫn của Thần Khí Thiên Chúa, dần dần, người Kitô hữu nhận thấy những bài ca về Người Tôi Trung chỉ thể hiện cách rõ ràng, minh bạch nhất nơi Đức Giêsu Kitô. Hơn hết những lời ngôn sứ khác, chính tính cách nghịch lý lạ thường trong bài ca Người Tôi Trung, được chứng nghiệm một cách am hợp lạ kỳ nơi cuộc đời, và nhất là nơi cuộc tử nạn của Đức Giêsu, lại là một lời minh chứng hùng hồn về vai trò Cứu Thế của Đức Giêsu Kitô :

- Tiếng từ trời tỏ lộ khi Đức Giêsu chịu phép rửa tại sông Giôđan, với lời trích Is 42,1 (X. Mt 1,11);

- Khi đức Giêsu truyền cho bệnh nhân được khỏi phải giữ kín về phép lạ (Mt 12,21) thì đó là thực hiện Is 42, 1-3;

- Khi Luca ( 9,51) nói rằng “Ngài dạn mặt” (Lc 9,51 :9,51 Khi đã tới ngày Đức Giê-su được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giê-ru-sa-lem.) thì đó là Ngài nhắc lại lời Is 50,7 (trơ mặt chai như đá);

- Khi Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô : Con Người phải bị treo lên (Ga 3,14) thì ứng nghiệm lời Is 53, 4-5 : Người Tôi Trung mang trên mình những tật nguyền của mọi người. . . ….

5. Ngôn sứ của tình yêu hy sinh ngày hôm nay

5.1 Dám vượt trên nguyên tắc công bằng

Con người không ngừng đi tìm một thế giới công bằng hơn. Thế nhưng, nói cho cùng, xã hội con người không bao giờ có được một sự công bằng trọn vẹn. Hoặc đúng hơn, tất cả những bộ luật của nhân loại, tất cả những cuộc đấu tranh cho công bằng vĩ đại nhất trong lịch sử, thật ra cũng chỉ là một “chút đường” bỏ vào “bể muối” mênh mông của bất công. Một con người được cưu mang và được sinh ra, em bé ấy đã gánh chịu hoặc đã vô tình hưởng thụ nơi bản thân nó vô cùng những bất công của cuộc đời, bất công của lịch sử, bất công của dân tộc này với dân tộc kia, bất công của môi trường xã hội có từ thời ông bà tổ tiên của cháu bé, bất công của làng xóm, bất công của luật lệ xã hội, bất công ngay trong gia đình… Rồi trên hành trình cuộc đời, mỗi bước đi của em bé cũng đều được đan dệt trên những thành quả của bất công…

Dĩ nhiên là chúng ta không bao giờ được coi thường những nỗ lực đấu tranh cho công bằng, hoặc làm giảm nhẹ tầm quan trọng của những cuộc đấu tranh ấy. Nhận diện ra được đại dương của bất công là để không ai được quyền an thân trong hoàn cảnh may mắn nào đó của mình; không ai được quyền bào chữa cho mình khỏi chịu trách nhiệm trước những khổ đau của người khác; không ai được quyền sống theo kiểu “bàn tay sạch”, hoặc “đi cà khêu” giữa cuộc đời. Một ảo tưởng về sự công bằng cũng đã là một sự bất công; và cũng nguy hiểm chẳng kém gì chính sự bất công lu lù mà ai cũng thấy được.

Hơn nữa, còn có một ảo tưởng khác không kém nguy hiểm, tạm nói là ảo tưởng nhân danh sự công bằng để đấu tranh với bất công. Bởi vì tự “chính chỗ” đứng mà ta cho là công bằng để đấu tranh, thật ra cũng chẳng công bằng. Suy cho đến ngọn nguồn, thì chỗ đứng nào cũng đã bị muốm bùn của bất công. Trong thực tế, đấu tranh chống bất công nhân danh công bằng, dựa vào luật pháp hay quyền con người, là điều cần làm trước mắt; nhưng suy cho cùng của cuộc đời, muốn đấu tranh chống bất công tận gốc, phải nhân danh nguyên lý “mắc nợ nghĩa tình”. Do đó, tất cả những thứ cách mạng nhằm “chia đều lợi tức”, cào bằng… đều rơi vào một sự bất công khác. Cuộc đời, tự nó, đã đặt tất cả mọi người vào trong một tình trạng MẮC NỢ nhau quá nhiều. Trong cuộc sống ấy, người ta mà chỉ có thể TRẢ NỢ ĐỜI bằng một tâm tình MẮC NỢ NGHĨA TÌNH; và tâm tình ấy lại chính là một động lực căn bản cho hành trình vươn lên của xã hội con người, chứ không phải một thứ lý trí công bằng, được đề cao quá đáng từ những thế kỷ trước ở Tây phương.

Chỉ nguyên lý mắc nợ nghĩa tình mới có thể thôi thúc một tình yêu hy sinh, một yếu tố không thể nào thiếu cho tâm hồn con người và ngay cả cho vận hành của xã hội loài người. Người ta có thể thấy rõ điều ấy trong “vận hành” của đời sống gia đình.

5.2 Thể hiện một tình yêu đi bước trước

Chỉ trong nguyên lý mắc nợ nghĩa tình người ta mới có thể dấn mình vượt qua mức độ “thuận mua vừa bán” để khai mở cho thế giới tình nghĩa, thế giới “tặng không” và “lãnh nhận với lòng tri ân”. Một thế giới phòng vệ, đối phó, tính toán…. thì không bao giờ có thể bắt đầu đi vào hành trình nghĩa tình. Như thế, người ngôn sứ của tình yêu hy sinh thật sự là người dám đi bước trước, dám bắt đầu một trách nhiệm với tinh thần tự nguyện, dám chấp nhận “nắm đằng lưỡi” trong cuộc đổi trao… ; và có lẽ điều đó, trước tiên cần thể hiện trong đời sống đức tin của người Kitô hữu. Một người Kitô hữu sống “đối phó” với Chúa, Chúa bắt làm tới đâu thì ta làm tới đó… thì thật ra người đó chưa phải là một Kitô hữu đích thực, một Kitô hữu đón nhận chính tình yêu hy sinh của Đức Giêsu và sống theo bước chân của Ngài.

5.3 Dám dấn thân liên lụy với đời

Có những người Kitô hữu tâm sự rằng, từ khi vào hội đoàn, tôi thấy mình càng thêm tội, tranh cãi nhiều, buồn bực nhiều, nói xấu nhiều… Đó là một thực tế khó có thể chỗi cãi. Tuy nhiên, thái độ rút lui, an thân thì lại chẳng khác gì tuyên bố rằng : tay tôi đã sạch, ai lao vào bếp để dọn bàn tiệc Nước Trời thì cứ việc làm; khi nào dọn bàn xong, nhớ gọi tôi vào ăn với…

Thái độ an thân như thế thực ra đã là kẻ bẩn từ bên trong. Đó là thái độ của những người không dám liên lụy với ai, không dám chịu phiền hà vì ai, không dám cho đi chính bản thân và không dám đi vào hành trình của hạt lúa, chết đi mới sinh nhiều bông hạt…

Chú thích:

[11] Trích lại trong bài “Không có ngày “G” đối với Đấng Cứu Thế”, của Robert Aron; trong tuyển tập : A. Frossard, J Dheilly, M. Halpern, R. Aron, Để Làm Giầu Kiến Thức Kinh Thánh, tập IV, Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo, t/p HCM, 1993, tr. 1316.

[12] Nt, trang 1318-1320.

Xem lại Phần 4

Xem tiếp Phần 6 (phần cuối)