Sứ Vụ Ngôn Sứ Hôm Nay - Phần 3

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Tên Amos, nguyên chữ là Amosyah, nghĩa là Gia vê mang vác. Tên đó cho thấy một phần nào cuộc đời một vị ngôn sứ dấn thấn mang vác trách nhiệm với đời. Amó quê ở làng Tequa, nằm ở phía Nam Giêrusalem khoảng 18 cây số, và ở phía Nam Bethlehem khoảng 8 cây số. Ông làm nghề chăn chiên và châm sung (Am 7,14). Thế những Amos lại hoạt động ngôn sứ ở phương Bắc.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Amos, ngôn sứ về trách nhiệm xã hội

1. Tiểu sử

Tên Amos, nguyên chữ là Amosyah, nghĩa là Gia vê mang vác. Tên đó cho thấy một phần nào cuộc đời một vị ngôn sứ dấn thấn mang vác trách nhiệm với đời. Amó quê ở làng Tequa, nằm ở phía Nam Giêrusalem khoảng 18 cây số, và ở phía Nam Bethlehem khoảng 8 cây số. Ông làm nghề chăn chiên và châm sung (Am 7,14). Thế những Amos lại hoạt động ngôn sứ ở phương Bắc.

Người ta ghi nhận trong sách Amos một sự nhậy cảm của những người chăn đoàn vật ở nơi đồng vắng, luôn lắng nghe và nhận ra được những tiếng động nguy hiểm cho đoàn vật của mình. Cũng thế, trên hành trình rong ruổi chăn dắt đoàn vật, ông gặp được nhiều lái buôn và cũng lắng nghe được nhiều tin tức đáng chú ý, những âm mưu chính trị từ những đế quốc. Từ đó, ông nhận ra được tiếng nói của Chúa để dấn thân hoạt động. Ý thức về ơn gọi của Amos là một sự thôi thúc bên trong. Ông nhận ra mình khác với các ngôn sứ chuyên nghiệp (3,3-8), ông đón nhận ơn gọi như một sự thúc đẩy không sao cưỡng lại được, chứ không phải là một công việc được phân chia.

Amos là một con người hoạt động, có thể nói ông là người “chiêm niệm trong hoạt động” và là người dấn thân vào cuộc chứ không phải là một nhà thần bí.

Trong thời kỳ hoạt động của Amos, Vương quốc phía Bắc nằm dưới quyền cai trị của Giêrôbôam II (760-750). Đó là một thời kỳ thịnh vượng, vì nhà vua vừa mới chiến thắng quân Aramei, mở được con đường thông thương ra biển Đỏ, nên việc buôn bán trở nên thuận tiện, thương mại quốc tế phát triển, kinh tế phồn thịnh. Chính hoàn cảnh như thế đã tạo nên một nếp sống sa đoạ, đặc biệt là vấn đề luân lý xã hội. Người ta đua nhau làm giầu, tạo nên bao nhiêu sự bất công cho những người nghèo; đồng thời cũng học đòi thói ăn chơi trác táng.

Amos là một vị ngôn sứ mạnh mẽ nhất trong việc tố cáo những tệ nạn xã hội, bằng một ngôn ngữ thô tục, nhưng hết sức mạnh mẽ.

2. “Sứ Điệp” của Amos

Chúng ta chỉ lưu ý đến một vài khía cạnh trong cuộc đời và sứ điệp của Amos như một bài học về sự dấn thân lãnh nhận trách nhiệm với đời, với xã hội, đặc biệt là với người nghẻo…

2.1 Người lãnh trách nhiệm với đời

Amos là người phương Nam, sinh sống ở phương Bắc. Ông là một con người “nhập cư”. Bình thường những người nhập cư là những người thiếu trách nhiệm xã hội hơn hết. Họ thường không tôn trọng truyền thống văn hóa của địa phương và có thể làm bất cứ điều gì để kiếm lợi cho mình. Tuy thế, trong trường hợp Amos, chúng ta lại thấy một sự dấn thân đầy trách nhiệm với vương quốc. Ông bị các ngôn sứ chính thức chê bai và muốn đuổi ông về phương Nam… nhưng Amos, bất kể những lời dèm pha ấy, ông xác tín ơn gọi của mình và lao vào cuộc, mạnh mẽ tố cáo những tệ nạn của xã hội :

“Bấy giờ ông A-mát-gia, tư tế đền thờ Bết Ên, sai người đến gặp Gia-róp-am, vua Ít-ra-en, và thưa : "A-mốt âm mưu chống đức vua ngay trên lãnh thổ Ít-ra-en, và đất nước này không còn chịu nổi bất cứ lời nào của ông ta nữa. 11 Vì A-mốt nói như thế này : "Gia-róp-am sẽ chết vì gươm, và Ít-ra-en sẽ bị đày biệt xứ." 12 Bấy giờ A-mát-gia nói với ông A-mốt : "Này thầy chiêm ơi, mau chạy về đất Giu-đa, về đó mà kiếm ăn, về đó mà tuyên sấm ! 13 Nhưng ở Bết Ên này, đừng có hòng nói tiên tri nữa, vì đây là thánh điện của quân vương, đây là đền thờ của vương triều."(Am 7, 10-13).

2.2 Con người dấn thân vì niềm xác tín ơn gọi

Amos cảm nhận được sự khác biệt giữa ơn gọi và sứ mệnh của mình khác với những “ngôn sứ chuyên nghiệp”; ông thi hành sứ vụ ngôn sứ không phải như chọn một nghề, không phải như một chỗ an thân, như một công việc để kiếm sống, nhưng do một sự xác tín bên trong, một sự thôi thúc của chính Chúa trong tâm hồn. Chúng ta có thể thấy nơi Amos một thái độ của một con người dấn thân :

“Hai người có đồng hành được chăng,

nếu đã không hẹn với nhau từ trước ?

Trong rừng, sư tử có gầm lên chăng, nếu nó không có mồi?

Từ trong hang, sư tử tơ có rống lên không,

nếu nó không vồ được mồi ?

Dưới đất, chim sẻ có sa vào bẫy chăng, nếu không có mồi nhử ?

Bẫy có bật lên khỏi mặt đất chăng, nếu nó không bắt được gì ?

Giả như tù và rúc lên trong thành, lẽ nào dân lại không sợ hãi ?

Giả như tai hoạ xảy ra trong thành,

lẽ nào lại không do ĐỨC CHÚA ?

Vì ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng không làm điều gì

mà không bày tỏ kế hoạch của Người

cho các ngôn sứ, tôi tớ của Người được biết.

Sư tử đã gầm lên : ai mà không sợ hãi ?

ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng đã phán, ai chẳng nói tiên tri ? (Am 3,3-8)

2.3 Một con người dấn thân vào một môi trường xa lạ với mình

Chẳng những Amos là người dấn thân vì trách nhiệm với nơi định cơ của mình, nhưng ông còn là một con người can đảm dấn thân vào một môi trường xa lạ với mình. Là một con người của đồng quê, ông lao vào nơi đô thị để tuyên sấm; là một mục đồng, ông thẳng thắn nói những lời sấm sét với những người có ăn học; là một người nghèo hèn, ông nhẩy xổ vào các nơi sang trọng để loan báo điều Thiên Chúa sẽ làm. Ta có thể tưởng tượng, hình ảnh Amos, một con người to lớn, gân guốc sẵn sàng vung gậy lên để đánh đuổi thú dữ, nay nhẩy vào các phòng tiệc, giơ tay múa chân đe dọa và nói những lời cảnh cáo bằng một ngôn ngữ “man rợ”…

- Nơi những bàn tiệc xa hoa, ông nói :

“ Hãy nghe lời này, hỡi các mụ bò cái xứ Ba-san trên vùng núi Sa-ma-ri ! Các ngươi ngược đãi kẻ yếu hèn, chà đạp người nghèo đói, và bảo các ông chồng của mình : "Đem rượu lại đây cho ta uống !"Với danh nghĩa là Đấng Thánh, ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng đã thề rằng : Đây sắp đến những ngày người ta kéo các ngươi đi bằng lao móc và lấy lưỡi câu lôi những kẻ theo sau các ngươi. Qua những lỗ hổng của tường thành bị phá, các ngươi sẽ phải chui ra, mạnh ai nấy chạy, và sẽ bị dồn về phía Hác-môn - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA.(Am 4,1-3)

- Nơi nhưng đoàn hành hương :

Am 4,4-7 : “ Hỡi con cái Ít-ra-en, cứ đến Bết Ên mà phản bội, đến Ghin-gan mà phản bội nữa đi ! Sáng sáng hãy tiến dâng hy lễ và cứ ba ngày lại dâng cúng lễ thập phân. Cứ đốt bánh không men làm lễ tạ ơn, và những lễ phẩm tự nguyện các ngươi dâng, hãy rêu rao cho người ta biết, bởi các ngươi thích làm như vậy - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng. Phần Ta, Ta đã làm cho các ngươi phải đói nhăn răng ở hết mọi thành phố, thiếu bánh ăn ở mọi nơi các ngươi cư ngụ; thế mà các ngươi vẫn không chịu trở về với Ta - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. Ba tháng trước mùa gặt, chính Ta đã ngăn mưa lại không cho đổ xuống trên các ngươi; Ta cho mưa xuống trên thành này, nhưng không cho mưa xuống trên thành khác; cánh đồng này được mưa tưới đượm, còn cánh đồng kia phải khô cháy vì thiếu mưa”

- Ông tuyên bố những án phạt nặng nề, đặc biệt cho vương quốc phía Bắc :

Am 2,6-8 : “ĐỨC CHÚA phán thế này : Vì tội của Ít-ra-en đã lên tới cực độ, Ta sẽ không rút lại bản án. Vì chúng bán người công chính để lấy tiền, bán kẻ nghèo khổ với giá một đôi giày. Vì chúng đạp đầu kẻ yếu thế xuống bùn đen và xô người khiêm hạ ra khỏi đường lộ. Vì cả con lẫn cha đi lại với cùng một ả, mà làm ô nhục danh thánh của Ta. Vì y phục người ta cầm cố, chúng nằm lên trên, ngay bên mọi bàn thờ, và rượu của người bị nộp phạt, chúng đem uống tại đền thờ Thiên Chúa của chúng.”

2.4 Một “ngôn sứ xã hội”

Amos được mệnh danh là một “ngôn sứ xã hội”, hay là một người viết phóng sự xã hội. Ông không ngại đụng chạm vào những thế lực mạnh mẽ nhất. Không cần được công nhận, chẳng những không cần một sự ủy nhiệm nào của loài người, những ông còn sẵn sàng tuyên sấm trong một tư thế khó được chấp nhận nhất theo lẽ thường của cuộc đời. Nơi ông, ta không một lý do nào, dù là hợp lý theo suy nghĩ, dù là hợp luật theo phong tục, có thể làm ông ngại ngần, e dè, chùn chân…

- Ông chống lại các thẩm phán và quan lại :

Am 5,7.10-12 : “Khốn cho những ai biến lẽ phải thành ngải đắng và vứt bỏ công lý xuống đất đen. Chúng ghét người sửa trị nơi cửa công và thù oán kẻ ăn ngay nói thật. Vậy, bởi các ngươi chà đạp kẻ yếu hèn và đánh thuế lúa mì của họ, nên những ngôi nhà bằng đá đẽo các ngươi đã xây, các ngươi sẽ không được ở; những gốc nho ngon ngọt các ngươi đã trồng, các ngươi sẽ không được uống rượu của chúng. Bởi Ta biết : tội ác các ngươi nhiều vô kể, tội lỗi các ngươi nặng tầy trời : nào áp bức người công chính, lại đòi quà hối lộ, nào ức hiếp kẻ nghèo hèn tại cửa công.

- Ông tố cáo những kẻ buôn bán bất chính

Am 8,4-6 : “Hãy nghe đây, hỡi những ai đàn áp người cùng khổ và tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ. Các ngươi thầm nghĩ : "Bao giờ ngày mồng một qua đi, cho ta còn bán lúa; bao giờ mới hết ngày sa-bát, để ta bày thóc ra ? Ta sẽ làm cho cái đấu nhỏ lại, cho quả cân nặng thêm; Ta sẽ làm lệch cán cân để đánh lừa thiên hạ. Ta sẽ lấy tiền bạc mua đứa cơ bần, đem đôi dép đổi lấy tên cùng khổ ; cả lúa nát gạo mục, ta cũng đem ra bán."

- Ông chửi rủa những người làm giầu bằng sự bất công:

Am 6,4-7 : “Chúng nằm dài trên giường ngà, ngả ngớn trên trường kỷ, mà ăn những chiên non nhất bầy, những bê béo nhất chuồng. Chúng đàn hát nghêu ngao; như Đa-vít, chúng dùng nhạc cụ mà sáng tác. Chúng uống rượu cả bầu, xức dầu thơm hảo hạng, nhưng chẳng biết đau lòng trước cảnh nhà Giu-se sụp đổ ! Vì thế, giờ đây chúng sẽ bị lưu đày, dẫn đầu những kẻ bị lưu đày. Thế là tan tác bè lũ quân phè phỡn !

* Điều tai hại là những người ấy tưởng rằng với những lễ tế nghi ngút tại đền thờ, họ đã hoàn thành nghĩa vụ tôn giáo, hoặc có thể xoa dịu cơn giận của Giavê. Tôn giáo trở thành cớ bào chữa cho đời sống luân lý, thành nơi xuê xoa những bất công của đời sống xã hội. Ông tuyên bố Giavê sẽ không chấp nhận lễ tế của những người như thế :

Am 5,21-24 “Lễ lạt của các ngươi, Ta chán ghét khinh thường ; hội hè của các ngươi, Ta chẳng hề thích thú. Các ngươi có dâng lên Ta của lễ toàn thiêu ... những lễ vật của các ngươi, Ta không vui nhận, chiên bò béo tốt các ngươi đem hiến tế, Ta chẳng đoái hoài. Hãy dẹp bỏ tiếng hát om sòm của ngươi Ta không muốn nghe tiếng đàn của ngươi nữa. Ta chỉ muốn cho lẽ phải như nước tuôn trào, cho công lý như dòng suối không bao giờ cạn.

3. Trở nên ngôn sứ dấn thân trong cuộc sống hôm nay

3.1 Ra khỏi bản thân

Dấn thân trước hết là “ra khỏi bản thân”. Nơi Amos, chúng ta có thể thấy một tấm gương của sự “ra khỏi bản thân”; đó là dám ra khỏi ngôi nhà an toàn của mình, ra khỏi quê hương xứ sở quen thuộc của mình, ra khỏi tất cả những gì có thể tạo nên một lớp vỏ an thân cho mình.

Ngày xưa, các bạn trẻ, nhất là những người có được cơ may ăn học một chút, thường nhận ra trách nhiệm của mình đối với làng xóm, với quê hương đất nước. Những bạn trẻ ngày xưa, lớp 11,12, hoặc là sinh viên, thường mang những hoài bão, có tâm huyết với đời; biểu hiện ra bằng việc lãnh nhận trách nhiệm với làng xã, hoặc tổ chức những cuộc biểu tình để đòi quyền lợi cho người nghèo… Những tinh thần như thế ngày nay không còn nữa. Chúng ta có thể nhận ra một thái độ rất phổ biến của giới trẻ ngày nay : lo tìm cho mình một chỗ béo bở, không muốn dính vào những chuyện rắc rối chung quanh nhà, sẵn sàng đánh mất phẩm cách của mình để đổi được một cơ may thăng tiến… Đó là một vấn đề có tính toàn cầu chứ không phải chỉ là chuyện ở Việt Nam. Ta có thể nói chuyện với một thanh niên khoảng chừng 30 phút, là có thể nhận ra được, bình thường, một sự “buồn nôn” của một kẻ đầy tài năng, đầy điều kiện thuận lợi, những chỉ biết nghĩ đến những cái gì của mình, cho mình, vì mình. Một thanh niên đầy nhựa sống mà không có một chút tâm huyết với đời, đó chẳng phải là một điều gì đáng buồn cho thế giới hôm nay ?

Nhiều bạn trẻ ngày hôm nay an tâm vì một lối sống “lành mạnh”, không ăn chơi, không tội phạm. Thật ra, điều đó không đủ. Lành mạnh không phải là một lớp vỏ an toàn nhưng phải là một sức sống; lành mạnh không phải là vô nhiễm trước những tật xấu, nhưng còn phải là khả năng chống lại tật xấu. Một xã hội không còn cung cấp đủ lý tưởng cho thanh niên, chắc chắn là một xã hội đã bắt đầu sa đọa. Cuộc sống không có sức mạnh vượn lên của sự thiện, không có tình nghĩa quảng đại của tâm hồn, không có niềm xúc động vì những người đau khổ chung quanh mình… thì không thể lành mạnh được, cho dù chưa có tội phạm hình sự xẩy ra. Chúng ta có thể nói được rằng sự xuống cấp về đạo đức của giới trẻ trong xã hội Việt Nam hiện nay, một phần, là do người trẻ hiện nay đã không còn được cung cấp đủ lý tưởng, đủ tâm huyết, đủ niềm hăng say dấn thân vào trách nhiệm xã hội chung quanh mình.

3.2 Dấn thân đến cùng

Cũng thế, một xã hội không có đủ tâm huyết như sinh lực sống, thì chỉ còn là những phong trào, những chiến dịch theo mùa. Người ta cố công để phát động những chiến dịch; nhưng chúng ta có thể thấy ngay những vận hành đó không có đủ sinh lực để đi đến cùng. Hành trình cuộc đời con người hiện nay chỉ còn là những bận tâm né tránh những phiền hà làm cản trở sự thăng tiến cá nhân, thích ứng để tồn tại một cách thảm hại, chứ không phải là một sức sống dám dấn thân đến cùng. Có lẽ cũng chính thái độ sống như thế, người ta không còn đủ năng lực để dán thân đến cùng ngay cả trong gia đình, với người vợ, người chồng hay đứa con của mình.

Trên hành trình cuộc đời, cuối cùng hết, mỗi người sẽ được mời gọi và sẽ phải “mang vác”, “cưu mang” một ai đó, ít nhất là đứa con của mình. Sống với con người là đón nhận một sứ vụ không có giới hạn; là mang vác một phận người. Không thể “cứu” một con người bằng một chút hoa lá, nhưng luôn luôn phải bằng máu và nước mắt. Khi không đủ năng lực dấn thân đến cùng, người ta không thể đi vào một “công trình dài hơi”, đặc biệt là trong “công trình” cưu mang một phận người.

3.3 Sống là dám liều

Ra khỏi bản thân, tự nó đã là một sự liều lĩnh, nhưng đó là một “ngõ thoát” duy nhất để hoàn thành cuộc đời người. Nhát đảm, trong ngọn nguồn, cũng đồng nghĩa với không yêu thương. Tình yêu thương, trong ngọn nguồn, có nghĩa là di chuyển trọng tâm ra khỏi bản thân, đặt tầm quan trọng của lý do hiện hữu nơi ai khác. Tình yêu là dám liều từ trong tâm. Khi người ta không sẵn sàng, nghĩa là người ta còn bận tâm về mình, nghĩa là người ta chưa ra khỏi bản thân, và đó chính là thái độ nhát đảm sâu xa nhất. Không phải những con người sợ ma, sợ rắn luôn là những người nhát đảm; nhưng chính kẻ không dám dấn thân mới là kẻ nhát đảm thực sự trong chính bản thân và trong chính vận mạng cuộc đời mình.

Giôen, Ngôn sứ về đời sống mới trong Thánh Thần

1. Tiểu sử

Người ta chỉ biết một điều về tiểu sử vị ngôn sứ này, đó là ông là con của Petuel, như trong đoạn giới thiệu đầu sách ngôn sứ đã nói. Sứ điệp của Giôen có những điều ra như trái ngược với giáo huấn của các ngôn sứ khác, đó ông không tố cáo tội của Dân nữa; và ông đề cao một nền phượng tự, ông công nhận một hiệu quả hầu như có đặc tính bí tích của các nghi lễ thống hối và ít nhấn mạnh đến một thứ tôn giáo tại tâm như các ngôn sứ khác.

Đối với Giôen nghi lễ là những biểu hiện có giá trị của lòng thống hối và những biểu hiện đó là điều cần thiết cho lòng thống hối. Dĩ nhiên là nghi lễ thống hối không thể thay thế được thực tại sám hối trong tâm hồn, như chúng ta quá quen thuộc với lời của Gioen được dùng trong mùa Chay:

“Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng. Hãy trở về cùng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa của anh em, bởi vì Người từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương, Người hối tiếc vì đã giáng hoạ”. (Ge 2, 13).

Lý do có lẽ là vì sứ điệp của Giôen được công bố vào thời kỳ sau lưu đày, vào khoảng năm 400 tcn, khi đó có trào lưu nhấn mạnh đến phượng tự. Mặt khác, những đường nét gắn với nghi lễ phượng tự cũng có thể được cắt nghĩa như là một lối bắt chước phượng tự về mặt văn chương.

Điều chúng ta lưu ý nơi vị ngôn sứ này, đó là một lời tiên báo về ngày Giavê đổ tràn Thần Khí của Ngài xuống trên mọi xác phàm. Giôen là ngôn sứ của lễ Hiện Xuống, mặc dầu có lẽ ông cũng chỉ nghĩ đến việc Giavê ban Thần Khí cho con cái Israel :

"Sau đó, Ta sẽ đổ thần khí Ta trên hết thảy người phàm.

Con trai con gái các ngươi sẽ trở thành ngôn sứ,

người già được báo mộng, thanh niên thấy thị kiến.

Trong những ngày đó, Ta cũng sẽ đổ thần khí Ta

trên tôi nam tớ nữ.” (Ge 3,1-2)

Ta biết rằng Thần Khí chính là hồng ân lớn lao và quan trọng nhất của Thiên Chúa trong Cựu Ứơc, như các ngôn sứ, những nhân vật quan trọng nhất của lịch sử ơn cứu độ, đã được lãnh nhận. Và hồng ân lớn lao dư dật của Thiên Chúa, không phải chỉ trên một vài nhân vật, mà là trên mọi người, việc đó được chính Môsê đã mong ước :

“Nhưng ông Mô-sê trả lời : "Anh ghen dùm tôi à? Phải chi ĐỨC CHÚA ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ !" Vì ĐỨC CHÚA đã ban Thần Khí của Người trên họ”. (Ds 11, 29)

Ta hiểu rằng, theo quan niệm của người Do Thái, con người ta không phải chỉ có thân xác và linh hồn, nhưng còn có thần trí (hay thần khí) :

“Nguyện chính Thiên Chúa là nguồn mạch bình an, thánh hoá toàn diện con người anh em, để thần trí, tâm hồn và thân xác anh em, được gìn giữ vẹn toàn, không gì đáng trách, trong ngày Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, quang lâm.” (1 Tx 5, 23)

Thần trí, Ruah hay Pneuma có rất nhiều nghĩa như : gió, hơi thở, tinh thần, nguyên lý sống,… Thần trí là chẳng những là nguyên lý làm cho một thân xác được sống; nhưng hơn nữa, thần trí còn là lý do hiện hữu, là tinh thần, là “đường nét” tinh thần của một con người. Thần trí ở đây hơi giống như nghĩa chữ “tinh thần” hiểu theo quan niệm ngày nay, hoặc giống một thứ não trạng chi phối một cách sâu xa cách suy nghĩ của một con người,… Do đó, sự hiểu biết một con người không phải chỉ là sự suy biết của lý trí, hay của linh hồn; cũng như sự hiểu biết của người đó đối với ai khác, với những vấn đề nào khác, một cách sâu xa, là nhờ thần trí, đó là hiểu cái bên trong bằng cái bên trong :

“Vậy ai trong loài người biết được những gì nơi con người, nếu không phải là thần trí của con người trong con người ? Cũng thế, không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa”.(1 Cr 2,11).

Với Thần Khí của Chúa chi phối, con người có thể suy nghĩ, lựa chọn, toan tính mọi sự việc trong sự hướng dẫn huyền nhiệm của chính Chúa :

“Phần chúng ta, chúng ta đã không lãnh nhận thần trí của thế gian, nhưng là Thần Khí phát xuất từ Thiên Chúa, để nhận biết những ân huệ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta.” (1 Cr 2,12)

Như thế chính thần trí mới thực sự là yếu tố quan trong trong hành trinh của một đời người, là sinh lực sống, là hồn sống, là lẽ sống, là một đường lối suy nghĩ căn bản chứ không phải là trí khôn suy biết, hoặc lý luận hợp lý như quan niệm của người Hy Lạp.

Để hiểu hơn một chút ý nghĩa của thần trí trong quan niệm của người Do Thái, chúng ta có thể phân biệt những mức độ của sự hiệp nhất hai con người với nhau như sau :

= Trong mức độ thân xác, người ta có thể chiếm hữu được người khác bằng sức mạnh, bắt thân xác người khác phải làm những điều mình truyền lệnh… những đó chỉ là một sự hiệp nhất cấp thấp.

= Trong mức độ linh hồn, hay lý trí, ta có thể khuất phục người khác bằng những lý lẽ mạch lạc, hợp lý, thuyết phục mà người khác không thể nào cãi lại được. Điều này cao hơn mức độ thứ nhất, nhưng dẫu sau vẫn không phải là một sự hiệp nhất lý tưởng. Người khác có thể chấp nhận lý lẽ của ta, nhưng lòng vẫn không muốn, tâm vẫn muốn chống đối…

= Trong mức độ thần trì, khi một tinh thần nào đó xâm nhập vào được người khác, nó không khuất phục nhưng làm cho “hứng” lên nhờ thần trí; khi đó người khác không bị khuất phục, cho dù là thân xác hay trí khôn, những là tìm được một sự hứng khởi tự phát, do chính sức mạnh từ bên trong; đồng thời, sự hiệp nhất này cũng không tạo nên tình trạng đồng nhất… mà là một sự hiệp nhất trong cùng một hứng khởi, trong cùng một tinh thần, trong cùng một lẽ sống… Thần trí là nẻo đường mà người ta tương quan với nhau một cách sâu xa nhất, nhưng cũng là một cách tự do nhất; thấm nhuần nhất nhưng lại có thể thể hiện trong sự phong phú khác biệt nhất.

Như thế, để con người ta sống theo ý Chúa thì điều quan trọng nhất là con người nhận được chính Thần Khí của Chúa. Chính vì thế, các ngôn sứ, một khi nhận được sức mạnh của Thần Khí Chúa, thì vẫn không bị tê liệt con người của chính mình, nhưng hoạt động với kiến thức và văn hóa, với tính tình và sở thích của riêng mình, trong sự thấm nhuần tinh thần của Chúa, để bộc lộ thánh ý của Chúa một cách phong phú và đa dạng, một cách hiệp nhất sâu xa chứ không phải là hình thức và theo một khuôn khổ nhất định.

Một sự hiệp nhất trong thần khí hay thần trí thì không phải chỉ là một sự giác ngộ, một cơn xuất thần để hiểu biết, nhưng được bộc lộ rõ rệt nhất trên hành trình lịch sử, trong việc lựa chọn những thái độ cần thiết trong những tình huống khác nhau, trong cả những tình thế nan giải hoặc tiến thoái lưỡng nan, lựa chọn đúng như Chúa muốn. Cách hiểu bằng lý trí luôn rơi vào những tình huống trái ngược khó có thể hóa giải được : nguyên tắc với thực hành; hợp lý với hợp tình,… Thực sự, trong hành trình lịch sử, nghĩa là trong sự phức tạp, huyền nhiệm của cuộc đời mà không một nguyên tắc tổng quát nào của lý trí có thể đảm nhiệm trọn vẹn, thì chỉ có thần trí, Thần Khí của Chúa, như là một tinh thần –chứ không phải nguyên tắc- và như chính sự đồng hành liên lụy của Chúa mới thực sự là nhu cần căn bản nhất của con người. Đó là những đường nét của tinh thần Sê-mít và cũng là những đường nét Chúa chọn để nhập thể và thực hiện nhiệm cục cứu độ của Ngài.

Như thế, chúng ta hiểu được ngay chính ơn cứu độ của Chúa Giêsu cũng cần được hoàn tất trong “triều đại của Thần Khí”. Không có Thần Khí của Chúa, giáo thuyết và hành động, ơn cứu độ của Chúa Giêsu cũng có nguy cơ trở thành pháo đài, thành lô cốt ngăn chận dòng lịch sử.

“Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống”.(Ga 6,63)

“Nhưng người Do-thái chính hiệu là người Do-thái tận đáy lòng, phép cắt bì chính hiệu là phép cắt bì trong tâm hồn, theo tinh thần của Lề Luật chứ không phải theo chữ viết của Lề Luật. Người như thế được Thiên Chúa chứ không phải người phàm khen ngợi”.(Rm 2,29)

“Đấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giao Ước Mới, không phải Giao Ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí. Vì chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sự sống”.(2 Cr 3,6)

Như thế, chúng ta hiểu được tầm quan trọng của biến cố khai mạc triều đại của Thần Khí. Sách Tông Đồ Công Vụ sẽ cho chúng ta thấy chính thức ngày khai mạc của thời đại Thần khí :

“Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho”.(Cv 2,1-4). . . . . .

Rồi thánh Phêrô giải thích sự kiện đó :

“…Nhưng đó là điều đã được ngôn sứ Giô-en nói đến: Thiên Chúa phán : Trong những ngày cuối cùng, Ta sẽ đổ Thần Khí Ta trên hết thảy người phàm, con trai con gái các ngươi sẽ trở thành ngôn sứ, thanh niên sẽ thấy thị kiến, bô lão sẽ được báo mộng. Trong những ngày đó, Ta cũng sẽ đổ Thần Khí Ta cả trên tôi nam tớ nữ của Ta, và chúng sẽ trở thành ngôn sứ…” (Cv 2, 16-18).

Và chúng ta cũng hiểu được tầm quan trọng của Thần Khí Chúa trong đời sống đức Tin. Thần Khí mà Chúa ban cho chúng ta không phải là một điều gì đó thêm vào cho niềm tin, có thì tốt, không có cũng chẳng sao. Thực sự không có Thần Khí Chúa, mọi giá trị căn bản của Kitô giáo đều có nguy cơ bị biến chất và không còn thực sự là sự sống Thần Linh của Chúa nữa :

“Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên : "Áp-ba ! Cha ơi !" (Rm 8,15)

Chúng ta cũng có thể xác định một nét trong hoa trái của Thần Khí, đó là một sự hiệp nhất trong đa dạng mà Thần Khí Chúa thực hỉện trong Giáo Hội :

“Thật vậy, ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Ki-tô cũng vậy. Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất”. (1 Cr 12, 12-13).

Quả thật, lời tuyên sấm của Giôen là một lời tuyên sấm hết sức đặc biệt, lời tuyên sấm xác định việc Thiên Chúa sẽ đáp ứng ước vọng sâu xa nhất của con người, được kết hợp với Chúa trọn vẹn, ước vọng mà Maisen, vị ngôn sứ cao cả nhất trong Cựu Ước đã nói lên, và là lời tuyên sấm về ngày khai triều đại Thiên Chúa thực sự.

2. Ngôn sứ về Thần Khí ngày hôm nay

Các ngôn sứ trong Cựu Ước chỉ lãnh nhận Thần Khí Chúa khi nào, bao lâu và với mức độ đến đâu là tùy Chúa và ý muốn của Chúa trong từng trường hợp. Chúng ta thấy nhiều khi các ngôn sứ phải chờ đợi và nài xin mới nhận được : Samuel không biết được mình sẽ xức dầu cho ai trong các con ông Gese (1 Sm 16); Nathan phải trừu lại sự đồng ý với David về việc xây đền thờ cho Chúa (2 Sm 7); Giêrêmia phải cầu nguyện đến 10 ngày đêm mới nhận được mạc khải của Chúa để tuyên sấm (Gr 42,4-7).

Chỉ có Chúa Giêsu mới lãnh nhận trọn vẹn được Thần Khí của Thiên Chúa; Thần Khí Chúa hiện diện trong lực Mẹ Maria cưu mang, Thần Khí ngự xuống và không bao giờ rời xa Người. Do đó, chúng ta thấy Chúa Giêsu biểu hiện những nét kỳ diệu của nhân cách Ngài trong mọi nơi mọi lúc, và trong cả những trường hợp bình thường nhất.

Còn với các Kitô hữu, chúng ta đã nhận được Thần Khí Chúa trong bí tích Rửa Tội, đặc biệt là trong bí tích Thêm Sức. Thiên Chúa đã hứa trao ban Thần Khí của Ngài cho một Kitô hữu, và Ngài không bao giờ rút lại lời hứa đó (không bao giờ được Rửa Tội hay lãnh bí tích Thêm Sức lần thứ hai). Tuy nhiên, mức độ lãnh nhận được Thần Khí Chúa thì lại tùy vào thái độ của mỗi người : người ta có dám tin vào quyền năng của Chúa hay không, có dám lăng nghe và vâng theo sự chỉ dẫn của Thần Khí Chúa hay không, có dám buông bỏ để chừa “phần” làm việc cho Thần Khí Chúa hay không.

Người Kitô hữu làm ngôn sứ cho đời sống mới trong Thánh Thần nghĩa là :

- Tin vào Thánh Thần trong Giáo Hội và không bao giờ được quyền bi quan về tương lai của Giáo Hội, như thể không còn cách nào cứu vãn được. Không bao giờ được quyền thất vọng, ngay cả trong những hoàn cảnh xem ra “bế tắc” nhất của thời khắc lịch sử;

- Tin vào hoạt động của Thánh Thần nơi anh chị em của mình. Trong niềm tin ấy, không bao giờ có con người “bỏ đi” hay “vô phương”, “bó tay”. Điều đó không chỉ có nghĩa là tình thương của Chúa có khả năng đón nhận hết mọi tội lỗi của con người, nhưng còn có nghĩa là những con người ấy vẫn có thể được biến đổi thực sự, không phải nhờ vào con người hay nhờ vào bất cứ điều gì, mà là nhờ vào quyền năng của Thánh Thần;

- Tin vào chính mình, khi mà đôi khi cả một đời phải trăn trở với một tật xấu mà không thể khác phục được. Làm ngôn sứ cho đời sống mới trong Thánh Thần, nghĩa là dám kiên nhẫn với chính mình, kiên nhẫn trước tiên trong niềm tin, niềm trông cậy và trong một chút nỗ lực của bản thân.

2.1 Tin vào Thánh Thần trong Giáo Hội

Một vấn đề gây nhiều tranh luận. Từ cuối thế kỷ XIX, A. Harnack đã phân biệt hai loại thừa tác viên trong Giáo Hội sơ khai : những thừa tác viên theo đoàn sủngvà những thừa tác viện quản trị; và tác giả đề cao những thừa tác viên theo đoàn sủng. Điều này, được nhiều học giả khai thác đến độ tách biệt và đối lập giữa "đoàn sủng" và "định chế" hay "phẩm trật trong Giáo Hội".

Tuy nhiên, sau thời gian quá độ, giờ đây, trên phương diện lý thuyết, người ta đồng ý được với nhau rằng, tự bản chất, các ân huệ theo đoàn sủng và ân huệ thuộc phẩm trật cùng là ơn huệ của Thánh Thần. Hai loại ân huệ ấy không thể mâu thuẫn nhau, nhưng phải bổ túc, hỗ trợ cho nhau. Công Đồng Vatican II nói :

"Thánh Thần xây dựng và hướng dẫn Giáo Hội bằng nhiều ơn huệ khác nhau, theo phẩm trật và đoàn sủng..." {GH.4}.

2.2 Tin vào hoạt động của Thánh Thần trong nếp sống hằng ngày

Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội {số 12} khẳng định ơn đoàn sủng của Thánh Thần nhằm phục vụ Giáo Hội, đồng thời cũng khẳng định đó là những ơn huệ đặc biệt của Chúa Thánh Thần, tỏ lộ ra một cách "bình thường" mà nhiều người có thể được đón nhận để mang lại lợi ích và phù hợp với nhu cầu của Giáo Hội :

"Hơn nữa, cũng chính Thánh Thần ấy, không chỉ thánh hóa và hướng dẫn Dân Thiên Chúa bằng các bí tích, các tác vụ, và trang bị họ bằng các nhân đức, nhưng Ngài còn ban phát các ân sủng đặc biệt cho mọi cấp bậc tín hữu "phân chia ân huệ cho mỗi người theo ý Ngài" {1 Cr 12, 11}, khiến người lãnh nhận các ân sủng ấy có đủ khả năng và sẵn lòng đảm nhận các công việc và nhiệm vụ khác nhau mưu ích cho việc canh tân, xây dựng và phát triển Giáo Hội, như lời chép rằng "Thánh Thần hiển hiện trong mỗi người hầu mang lại lợi ích" {1 Cr 12, 7}. Phải lãnh nhận những đoàn sủng này, từ các ơn chói lọi nhất đến các ơn thường mà nhiều người lãnh được, với lòng tri ân và yên ủi, vì các ơn đó mang ích lợi và phù hợp với nhu cầu của Giáo Hội..."

Đây là một bản "đúc kết" những cuộc tranh luận trong Công Đồng. Chúng ta biết rằng, trong Công Đồng đã có hai khuynh hướng định nghĩa đoàn sủng. Khuynh hướng thứ nhất cho rằng đoàn sủng là một hồng ân đặc biệt, lạ thường, được Thiên Chúa ban một cách khác thườngvà cho rằng đó là cách hiểu truyền thống trong Giáo Hội. Khuynh hướng thứ hai cho rằng đoàn sủng là ân "thường sủng"được Thiên Chúa ban để làm phát triển cộng đoàn Giáo Hội. Cuối cùng, lập trường thứ hai được chấp nhận; và Công Đồng đề cập đến vấn đề này khi bàn về chức vụ ngôn sứ của Dân Chúa, như chúng ta thấy trong đoạn văn kể trên.

Từ nền tảng đó, Công Đồng cũng cho thấy đoàn sủng có thể được ban cho nhiều người, trong một thời gian dài {khác với đặc sủng}, cụ thể trong trường hợp tổ phụ các hội dòng cùng những người thuộc hội dòng của vị sáng lập ấy.

2.3 Tin vào sự hiệp nhất trong đa dạng của Thần Khí

Thánh Thần là nguồn mạch của sự phong phú bất tận, những đồng thời cũng là nguyên lý tạo nên một sự hiệp nhất sâu xa. Đó là sự hiệp nhất trong đa dạng, một tình trang “hòa nhi bất đồng”. thiết nghĩ rằng một sự lo ngại quá đáng về trật tự, về sự đồng nhất, về sự giống nhau… cũng là một biểu hiện của một thái độ không dám tin vào sự hiệp nhất mang tính chất đặc biệt của Thần Khí.

Chú thích:

[4] Ministères charismatiques.

[5] Ministères d' administration

[6] Khuynh hướng này do đức hồng y Ruffini bảo vệ.

[7] "Don extraordinaire", theo nghĩa "đặc sủng".

[8] Khuynh hướng này do đức hồng y Suenens bảo vệ.

[9] Grâce ordinaire.

Xem lại Phần 2

Xem tiếp Phần 4