Sứ Vụ Ngôn Sứ Hôm Nay - Phần 1
Một cách nào đó, chính các ngôn sứ là người “hình thành” nên lịch sử cứu độ, theo nghĩa các ngài đã mang lại một cái nhìn của đức tin, soi chiếu vào lịch sử trần thế, làm sáng lên ý nghĩa siêu nhiên của các sự kiện trong lịch sử và giúp cho Dân hiểu ra lịch sử đời thường của họ chính là lịch sử ơn cứu độ của Thiên Chúa.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
Một cách nào đó, chính các ngôn sứ là người “hình thành” nên lịch sử cứu độ, theo nghĩa các ngài đã mang lại một cái nhìn của đức tin, soi chiếu vào lịch sử trần thế, làm sáng lên ý nghĩa siêu nhiên của các sự kiện trong lịch sử và giúp cho Dân hiểu ra lịch sử đời thường của họ chính là lịch sử ơn cứu độ của Thiên Chúa.
Cũng thế, một cách nào đó, trong thế giới hôm nay, khi vai trò ngôn sứ của các Kitô hữu được thể hiện một cách sung mãn, thì dòng lịch sử nhân loại sẽ được “nhìn”, được giải thích theo ánh sáng đức Tin, và được hội nhập một cách trọn vẹn hơn vào lịch sử ớn cứu độ của Thiên Chúa. Khi đó, lịch sử ơn cứu độ sẽ thể hiện rõ nét mầu nhiệm “Nước Cha trị đến” đang diễn ra ngay trong chính lịch sử của thế giới cũng như lịch sử của đời sống cá nhân người Kitô hữu hôm nay.
Nguyễn Trọng Viễn O.P.
* Tài liệu tham khảo :
- Nguyễn Ngọc Rao O.P., Tìm Hiểu Các Sách Ngôn Sứ, 1995;
- Tuyển tập : A. Frossard, J Dheilly, M. Halpern, R. Aron, Để Làm Giầu Kiến Thức Kinh Thánh, tập IV, Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo, t/p HCM, 1993, tr. 1316.
- Kinh Thánh Tân Ước, Nguyễn Thế Thuấn, phần dẫn nhập
Êdêkien, ngôn sứ về sự sống
1. Tiểu sử
Êdêkien ra đời khoảng năm 623 trước công nguyên, thuộc gia đình tư tế. Tên Êdêkien có nghĩa là “Thiên Chúa dũng mãnh”, hay “Thiên Chúa làm cho hùng mạnh”. Ông là môn đệ của Giêrêmia.
Sau biến cố thành Giêrusalem bị phá lần thứ nhất năm 598, vua Jechonia và một số người có địa vị trong dân, trong đó có Êdêkien, bị phát lưu. Ông đến ở tại vùng phía nam Babylon, bên bờ sống Koba. Tại đây, vào khoảng năm 593, ông lãnh nhận ơn gọi làm “người canh gác nhà Israel” (3,17). Êdêkien thi hành sứ vụ khoảng 20 năm. Chúng ta không biết ông mất vào năm nào. Theo truyền thuyết, Êdêkien bị kết án tử hình do một vị thẩm phán đã từng bị ông khiển trách nặng lời.
Êdêkien là mẫu người được “thần nhập”. Ông là “ngôn sứ hành động” và là nhà “thần mộng vĩ đại”. Ông có nhiều hành động tượng trưng hơn các ngôn sứ khác; và đón nhận nhiều thị kiến. Thị kiến “Xa Giá của Giavê” là một thị kiến vĩ đại nhất và cũng huyền bí nhất, được viết trong chương đầu của sách. Êdêkien được coi như người khai mở cho lối văn khải huyền trong Sách Thánh.
Êdêkien cho rằng đại họa đã xẩy ra là do Dân không tuân giữ lề luật của Chúa. Ông loan báo thời phuc hưng của Dân, nhưng nhấn mạnh tới khía cạnh uy quyền và tình thương của Thiên Chúa, một Thiên Chúa không bị ràng buộc vào giao ước, vì chính Dân đã vi phạm giao ước. Ngài cứu Dân vì chính uy danh của Ngài (x. Ed đoạn 20) và Ngài thay thế giao ước cũ bằng giao ước mới cũng chỉ vì lòng thương xót của Ngài mà thôi (x. Ed 16, 62-63).
Cứu thế luận của Êdêkien mang nặng mầu sắc quốc gia. Nhãn giới của Êdêkien vẫn không vượt qua được tầm mức của Dân Chúa trong huyết thống; và việc thiết lập nước Thiên Chúa thời sau hết gắn liền với cuộc phục hưng của nước Do Thái sau lưu đầy. Ông tiên đoán tương lai của một chế độ thần quyền như sự phục hồi quốc gia Israel mà trung tâm vẫn là vùng đất Palestin. Ông khơi dậy một sự tự hào Do Thái có tính cách quá khích và suy đồi. Êdêkien thường bị coi là kẻ tạo nên chủ nghĩa Do Thái, một Dân Do Thái khép kín, kỳ thị như trong nhóm Biệt Phái sau đó.
Tuy nhiên, người ta có thể “bào chữa” cho Êdêkien một chút khi đặt mình vào hoàn cảnh đất nước lúc đó. Ông chỉ muốn khơi dậy nơi dân Do Thái lưu đầy niềm xác tín về một Dân được Thiên Chúa chọn, để khuyến khích họ giữ lề luật của Người, để có thể nuôi dưỡng lòng trông cậy của họ.
Êdêkien quan tâm đặc biệt đến Đền thờ, nhưng không chấp nhận Thiên Chúa bị ràng buộc vào Đền thờ. Đặc biệt, Êdêkien là người khởi đầu cho quan niệm về trách nhiệm cá nhân trong giao ước (x. đoạn 18-23); và ông cũng là người đề cao một sự hoán cải nội tâm, tiên báo một giao ước mới trong “trái tim và tinh thần mới” (x. Ed 18,31); nhờ đó, Êdêkien tạo được một trào lưu sống đạo sâu xa trong Do Thái giáo.
Ở đây, chúng ta chỉ lưu ý đến khía cạnh “sứ điệp sự sống” trong “thị kiến về Những Bộ Xương Khô” của Êdêkien và cố gắng nhận ra một vài điều gợi ý cho sứ vụ “ngôn sứ về sự sống” trong xã hội hôm nay.
1.1. Thị kiến về những bộ xương khô (Ed 37, 1-14)
”Tay ĐỨC CHÚA đặt trên tôi. ĐỨC CHÚA dùng thần khí đem tôi ra, đặt tôi giữa thung lũng ; thung lũng ấy đầy xương cốt. 2Người đưa tôi đi ngang, đi dọc giữa chúng. Những xương ấy nằm la liệt trên mặt thung lũng và đã khô đét. 3Người bảo tôi : "Hỡi con người, liệu các xương này có hồi sinh được không ?" Tôi thưa: "Lạy ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng, chính Ngài mới biết điều đó." 4 Bấy giờ, Người bảo tôi : "Ngươi hãy tuyên sấm trên các xương ấy ; ngươi hãy bảo chúng : Các xương khô kia ơi, hãy nghe lời ĐỨC CHÚA. 5ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phán thế này với các xương ấy : Đây Ta sắp cho thần khí nhập vào các ngươi và các ngươi sẽ được sống. 6Ta sẽ đặt gân trên các ngươi, sẽ khiến thịt mọc trên các ngươi, sẽ trải da bọc lấy các ngươi. Ta sẽ đặt thần khí vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được sống. Bấy giờ, các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là ĐỨC CHÚA." 7Tôi đã tuyên sấm như tôi được lệnh. Vậy có tiếng động khi tôi đang tuyên sấm ; có sự rung chuyển và các xương xích lại gần, ăn khớp với nhau. 8Tôi nhìn thì thấy trên chúng đã có gân ; thịt đã mọc lên và da đã trải ra ở bên trên, nhưng thần khí chưa có ở nơi chúng. 9Người lại bảo tôi: "Ngươi hãy tuyên sấm gọi thần khí ; tuyên sấm đi, hỡi con người ! Ngươi hãy nói với thần khí : ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phán thế này : Từ bốn phương trời, hỡi thần khí, hãy đến thổi vào những người đã chết này cho chúng được hồi sinh." 10Tôi tuyên sấm như Người đã truyền cho tôi. Thần khí liền nhập vào những người đã chết ; chúng được hồi sinh và đứng thẳng lên : Đó là cả một đạo quân lớn, đông vô kể.
11Bấy giờ, Người phán với tôi : Hỡi con người, các xương đó chính là toàn thể nhà Ít-ra-en. Này chúng vẫn nói : "Xương cốt chúng tôi đã khô, hy vọng của chúng tôi đã tiêu tan, chúng tôi đã rồi đời !" 12Chính vì thế, ngươi hãy tuyên sấm, hãy nói với chúng : ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phán như sau : Hỡi dân Ta, này chính Ta mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt và đem các ngươi về đất Ít-ra-en. 13Các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là ĐỨC CHÚA, khi Ta mở huyệt cho các ngươi và đưa các ngươi lên khỏi huyệt, hỡi dân Ta. 14Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh. Ta sẽ cho các ngươi định cư trên đất của các ngươi. Bấy giờ, các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là ĐỨC CHÚA, Ta đã phán là Ta làm. Đó là sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. (Ed 37,1-14)
Thị kiến được chính Thiên Chúa giải thích ngay sau đó, theo đó, những “bộ xương khô” là hoàn cảnh cụ thể của Dân Israel khi đó đang bị lưu đày. Tình trạng bi đát của họ giống như những “bộ xương khô”. Dân Chúa giờ đây là một Dân đã chết, khô khẳng, rời rạc, hoang tàn. Họ không còn chút hy vọng nào về tương lai, họ không dám tin mình sẽ được tái lập, họ nghĩ rằng Thiên Chúa đã hoàn toàn bỏ rơi Dân của Ngài.
Thế nhưng Thiên Chúa lại có thể thực hiện được điều mà không ai có thể nghĩ tới, điều chỉ có Ngài mới có thể thực hiện được. Thiên Chúa mở tung nấm mồ, thổi sinh khí mới và làm cho những bộ xương khô được sống. Thị kiến cho thấy Thiên Chúa sẽ đưa Dân trở về xứ sở của sự sống, xứ sở của lời hứa.
Trong một dụ ngôn khác, dụ ngôn về Cây Bá Hương, Êdêkien cũng mô tả việc Thiên Chúa phục hồi sự sống cho Dân, nhưng qua một vận hành lịch sử phức tạp : có một con phượng hoàng khổng lồ trên núi Liban ngắt một chồi cây đưa đến vùng đất ngoại đạo, đó là việc vua Nabuchodonosor của Babylon, năm 598, đã chinh phạt vua Joachim và bắt đưa đi đầy ở Babylon. Rồi một con phượng hoàng lại ngắt một chồi khác, cùng một gốc, đặt vào nơi đất phì nhiêu, có sẵn nước, và cây trở nên tươi tốt như một cây nho …. Nhưng cây nho lại bị con phượng hoàng cũ trở lại, đem theo gió nóng và làm cho nó héo khô đến tận rễ… Cuối cùng chính Giavê mới đem ngắt một chồi non khác từ gốc rễ ấy, rồi đem trồng lên núi Sion và chồi non ấy sẽ trở thành một cây to cho chim trời trú ngụ… Cuối cùng Êdêkien còn tiên báo sẽ có một vị vua tương lai, một Davíd mới chăn dắt Israel…
Việc Thiên Chúa phục hồi sự sống cho Dân, được diễn ra qua một vận hành lịch sử phức tạp như trong du ngôn Cây Bá Hương; hoặc diễn ra một cách kỳ diệu như trong thị kiến “Những Bộ Xương Khô”, đều là những lời tiên báo mang lại một niềm hy vọng lớn lao cho Dân. Kết cuộc sẽ đến là sự sống của Dân, sự sống do từ tình thương và quyền năng của Thiên Chúa.
1.2 Từ sứ điệp của Êdêkien
Mặc dù Êdêkien chỉ nghĩ tới lời tiên báo trong dụ ngôn các bộ xương khô như một sự phục hưng vương quốc Israel, nhưng chúng ta cũng có thể thấy được sứ điệp của ông, dù sao, khơi lên niềm hy vọng của một sự sống mới, và dĩ nhiên niềm hy vọng ấy chỉ có thể thực hiện toàn vẹn trong Đức Giêsu Kitô, sự sống đích thực cho nhân loại :
- “Đức Giê-su đáp : "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. (Ga 14,6; Xc. Ga 11, 1-44).
- “Đức Giê-su liền phán : "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống”. (Ga 11,25)
Mặt khác sự chết và sự sống mà Êdêkien loan báo không phải là một sự sống/chết của thân xác một con người, nhưng là sự phục hồi một tập thể chính trị - xã hội của một Dân tộc. Đó là một sự sống bao gồm tất cả những khía cạnh cụ thể, thiết thân và toàn diện của một Dân, trong đó mỗi cá nhân như một thành phần của Dân cũng được chia sẻ trọn niềm hy vọng. Giáo Hội của Đức Kitô là sự tiếp nối và hoàn bị hình ảnh Dân Chúa trong Cứu Ước, Giáo Hội cũng đón nhận và là một dấu chỉ trọn vẹn hơn về Nước Trời của Chúa, trong đó những niềm hy vọng chính đáng của Dân trong Cựu Ước không bị phá hủy, nhưng được hoàn trọn. Đức Giêsu làm cho người chết sống lại và chính Ngài cũng trải qua cái chết để Phục Sinh vinh hiển, điều đó chẳng những loan báo về một sự phục sinh sau cái chết thể xác của con người, nhưng cũng trở thành một niềm hy vọng chắc chắn về một sự sống toàn diện, “sự sống” của một cuộc sống nhân sinh phong phú và sung mãn ngay trong cuộc sống này. Như thế, Giáo Hội cũng tiếp tục nền tảng của một niềm hy vọng chắc chắn về sự sống mới của Chúa Kitô, một sự sống phong phú và toàn diện, ngay ở đây và lúc này. Niềm hy vọng về sự sống mai sau phải thúc bách người Kitô hữu nỗ lực làm cho men sự sống đích thực của Chúa được sinh sôi nẩy nở phong phú hơn trong chính cuộc sống hôm nay. Công Đồng Vatican II nói :
“Ngoài ra, Giáo Hội còn dạy rằng hy vọng cánh chung không làm giảm tầm quan trọng những bổn phận ở trần gian này mà trái lại còn tạo thêm những động lực mới giúp hoàn tất những bổn phận ấy. Vả lại, nếu thiếu căn bản là Thiên Chúa và thiếu niềm hy vọng vào đời sống trường cửu thì phẩm giá con người sẽ bị tổn thương cách trầm trọng như thường thấy ngày nay, và những bí ẩn về sự sống, sự chết, về tội lỗi và đau khổ vẫn không giải đáp được, như thế con người nhiều khi rơi vào tuyệt vọng.”(MV 21c).
Như thế, chúng ta có thể thấy, từ sứ điệp của Êdêkien, một niềm hy vọng về một sự sống toàn diện của con con người. Ơn cứu độ Kitô giáo không đóng khung trong việc “cứu rỗi các linh hồn”, nhưng là một “SỰ SỐNG”, sự sống mới âm thầm nhưng mạnh mẽ, cung cấp nhựa sống cho toàn bộ cuộc sống nhân loại, thể xác và tâm hồn, cá nhân và tập thể, văn hóa cũng như khoa học… Đó là Sự Sống của một nền “văn hóa sự sống” :
“Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào”. (Ga 10,10)
2. Ngôn sứ về sự sống trong thế giới ngày nay
Sứ điệp của Êdêkien, trong viễn tượng ơn cứu độ nơi Đức Giêsu, có thể được đón nhận như là một lời mời gọi sống vai trò ngôn sứ về sự sống toàn diện cho thế giới ngày nay, một thế giới bị chìm ngập trong “nền văn minh của sự chết”. Hình ảnh những bộ xương khô có thể nhìn thấy được nơi những trào lưu hưởng thụ, thực dụng, dễ dãi… cũng như việc đánh mất niềm khao khát sự thiện trong thế giới hiện nay; hình ảnh những bộ xương khô có thể nhìn thấy được nơi những tâm hồn mất hết ý nghĩa cuộc đời, mất hết niềm vui cuộc sống, mất hết lý tưởng cao đẹp để chỉ còn biết lao mình vào hưởng thụ ở đây và lúc này; hình ảnh những bộ xương khô cũng có thể nhìn thấy được nơi những phát minh khoa học, càng ngày càng mạnh mẽ và kỳ diệu, nhưng cũng càng ngày càng có nguy cơ đụng đến những phẩm tính căn bản của phẩm giá con người; hình ảnh những bộ xương khô có thể là những nỗi bất lực, bất lực trong chính tâm hồn một con người, bất lực trước hoàn cảnh trước mắt đổ ấp xuống những mảnh đời khó khăn, và nhất là sự bất lực của những nỗ lực luân lý và tôn giáo trước những tệ nạn của cuộc sống văn minh …
Hình ảnh những bộ xương khô là hình ảnh một thế giới của nền “văn minh sự chết”, một thế giới đã chết trong mạch sống của niềm hy vọng.
2.1. “Văn hóa sự sống toàn diện” chất vấn đời sống Kitô hữu
Giáo lý Kitô giáo khẳng định những điều tốt đẹp nhất cho sự sống con người. Theo cách nói của thông điệp Tin Mừng Sự Sống, thì “Tin Mừng về sự sống nằm ở trung tâm của sứ điệp Đức Giêsu” (s. 1). Hoặc nói một cách khác, sự sống con người và sự sống toàn diện chính là biểu hiện cụ thể của phẩm giá con người… Điều đó không phải chỉ là một lựa chọn trong một hoàn cảnh cụ thể, trước những nguy cơ đe dọa sự sống của thế giới văn minh hiện đại, nhưng thực sự là giáo huấn căn bản của Kinh Thánh cũng như của tín lý Kitô giáo. Giáo Hội trong thế giới hiện nay cần phải mang trách nhiệm làm sáng lên một nền văn hóa sự sống để chống lại một thứ “văn hóa sự chết” đang phát triển ồ ạt trong thế giới này.
Thế nhưng, có một nghịch lý là chính Giáo Hội Công Giáo cũng đã và đang bị tố cáo như là những kẻ làm nhiễm độc sự sống. Trong quá khứ và ngay trong thói đại hiện nay, chúng ta có thể thấy khá nhiều lời tố cáo về cách sống “vu khống sự sống” trong đời sống Giáo Hội. Chúng ta có thể nhắc nhớ lại một vài nét :
Phản ứng của thời Phục Hưng Châu Âu là một cách chống lại bầu khí của Giáo Hội Công Giáo quá nhấn mạnh đến “vũng lầy nước mắt”, đề cao lối sống khắc khổ, dè dặt với niềm vui và sự phát triển tự nhiên của con người, tính cách nghiêm nghị của cuộc sống nên thánh,… để tái khám phá ra vẻ đẹp tự nhiên của con người, khám phá ra những năng lực lớn lao của con người, khám phá lại niềm vui sống, khám phá tính cách độc đáo và có “cá tính” của cá nhân . . .
Đến thế kỷ XIX, triết gia F. Nietzsche vẫn nhân danh sự sống phong phú và mạnh mẽ đã tố cáo bầu khí ảm đạm mà Kitô giáo đã phả vào cuộc sống con người : “Cho tới bây giờ, người ta chưa dám tấn công Kitô giáo, hơn nữa, lại tấn công không đúng chỗ. Bao lâu chưa cảm thấy rằng luân lý Kitô là một tội ác căn bản đối với sự sống, thì các người bênh vực vẫn chống trả lại dễ dàng”… hoặc “…cái nhìn của linh mục, gương mặt xanh xao, xa cách, làm hại cho sự sống hơn là những lợi ích do lòng hy sinh tận tụy của họ mang lại; lối sống cách biệt như thế vu khống sự sống”…
Đến tận giữa thế kỷ XX, triết gia B. Russell vẫn tỏ bầy ý kiến của mình về tôn giáo nói chung là “Xét chung thì tôi cho rằng tôn giáo đã có nhiều hậu quả tai hại, nó thần thánh hóa chủ nghĩa bảo thủ, cứ bám lấy những tục lệ thời trước, nhất là nó thần thánh hóa sự cố chấp, bất bao dung và lòng căm thù. Cái thái độ, những hành động cố chấp, bất bao dung trong tôn giáo; nhất là ở Châu Âu, quả thực là ghê tởm”…; và đặc biệt với Giáo Hội Kitô giáo, ông nói : “Đế quốc La Mã sụp đổ, nhưng các linh mục trong Giáo Hội có quan tâm tới cái đó đâu. Họ chỉ lo làm sao phụ nữ giữ được trinh khiết thôi. Cái đó, đối với họ mới là rất quan trọng… ngày nay nhân loại cũng đương sụp đổ và tôi thấy nhiều giáo sĩ địa vị rất cao chỉ nghĩ tới vấn đề làm sao ngăn được sự thụ thai nhân tạo; họ cho việc đó quan trọng hơn nhiều việc ngăn ngừa thế chiến nó sẽ tiêu diệt nhân loại không còn lấy một mạng. Theo tôi, họ như thiếu ý thức về cân xứng, cái quan trọng thì cho là tầm thường và ngược lại…”.
Chúng ta còn có thể kể ra một danh sách thật dài những nhân vật lớn và những lời tố cáo nặng nề về hậu quả của nền luân lý Kitô giáo. Đứng ở phía Giáo Hội chúng ta có thể cho rằng những lời như thế thật là quá đáng; nhưng nếu thành tâm nhận định, có lẽ ít nhiều chúng ta cũng có thể nhận thấy không phải tất cả những lời ấy là bất công.
Chẳng hạn, chúng ta có thể cảm nhận được, một cách không khó lắm, ngay trong hiện tình đời sống của Giáo Hội, một bầu khí tôn giáo không có đủ tính chất ủng hộ sự sống.
Trong hành trình đi lên Giêrusalem, Chúa Giêsu đến thành Giêrikhô. Có một người mù tên là Bartimê đã khẩn thiết kêu cầu Chúa chữa bệnh cho anh. Tiếng kêu khẩn thiết của anh mù Bartimê : “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi”, được lập đi lập lại nhiều lần như một khát vọng vươn lên của sự sống. Sự sống kêu gào được sống, được sống một cách toàn diện và phong phú. Thế nhưng, trong đoàn người theo Chúa Giêsu, có nhiều người quát nạt anh “im đi”. Những lời quát nạt trấn át sự sống để bảo vệ cho một sự thánh thiêng, trật tự nào đó, để bảo vệ cho một chương trình hay một tổ chức nào đó… không phải là hiếm trong sinh hoạt của Giáo Hội. Nhìn một cách nào đó, có lẽ chúng ta thấy những lời quát nạt “im đi” vẫn lấn át những lời dễ thương có tính cách ủng hộ sự sống “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy !” (Xc. Mc 10,46-52). Những quan tâm quá mức về lễ nghi, về trật tự, về những hào nhoáng của danh giá, về luật lệ….; thái độ sống đạo dựa trên “nhân đức chịu vậy” vì không khám phá ra được những nét đẹp nhân bản của đời sống đức tin… thường làm cho đời sống đức tin trở thành một lối sống sợ hãi, dúm dó, an thân, nhiều hơn là một sự sống phong phú và triển nở…
Không kể những người có thiên kiến lệch lạc đối với tôn giáo, chúng ta phải thật sự đau lòng khi thấy có những tấm lòng tha thiết với cuộc đời, tha thiết với vận mạng con người, lại phải tìm cách bênh vực con người bằng cách chống lại Thiên Chúa cũng như chống lại Giáo Hội. Nhìn lại những lời chỉ trích Giáo Hội nhân danh giá trị nhân bản, hoặc nhân danh sự sống, chúng ta có thể nhận ra rằng : trong khi Giáo Hội, ít là trong quá khứ, đã chỉ chú trọng đến những giới luật cấm đoán từ Thiên Chúa về một vài tình huống trong cuộc đời, phá thai, ngừa thai, tự tử…mà chưa triển khai được một hệ giá trị nhân văn về phẩm giá con người, thì những nhà vô thần nhân bản lại lưu ý nhiều hơn tới điều tạm gọi là “con người toàn diện”, lưu ý tới một thứ tạm gọi là “sự sống toàn diện”.
Những người chủ trương phá thai, cái chết êm đềm, ngừa thai, thụ thai nhân tạo… không hẳn là những người gian ác, thích hưởng thụ hoặc ích kỷ,… nhưng có nhiều chủ trương xuất phát từ thái độ “vì con người”, xét theo một khía cạnh nào đó. Chúng ta cần nhìn nhận nơi những chủ trương ấy một phần thiện chí, nhằm mục tiêu làm điều tốt hơn cho con người. Đặc biệt, có thể đó cũng là thái độ muốn chống lại một “bầu khí sự chết” mà Giáo Hội Công giáo không phải không có phần trách nhiệm.
2.2. Biện chứng đời này – đời sau
Lý do của một thái độ không ăn khớp giữa lập trường căn bản và cung cách diễn tả trong lòng Giáo Hội, có lẽ, là do một biện chứng sâu xa trong giáo lý của Giáo Hội, biện chứng đời này và đời sau : “…ơn gọi siêu nhiên này nhấn mạnh tính cách tương đối trong sự sống trên trần gian của người nam và người nữ. Thực vậy, sự sống này là một thực tại, không phải là “chót” mà là “áp chót”…”.
Giáo Hội ủng hộ sự sống ở đời này những lại đặt tầm quan trọng chính yếu vào sự sống mai sau. Hơn nữa, việc tha thiết với cuộc sống mai sau lại thường được diễn tả như đòi hỏi phải “coi thường”, hoặc nhiều khi là “khinh chê” cuộc sống ở đời này. Như thế, nếu phải lựa chọn một trong hai thì dĩ nhiên người Kitô hữu chỉ có thể lựa chọn đời sống mai sau, một đời sống trường cửu, vững bền và chung cuộc.
Thật ra, nếu chúng ta không lý giải được mối tương quan biện chứng giữa hai đời sống ấy, thì chúng ta sẽ rất dễ rơi vào một sự chọn lựa “một mất một còn”, một sự lựa chọn bi đát, đã chọn bên này thì phải bỏ bên kia. Nếu như thế, người Kitô hữu đã chọn cuộc sống mai sau thì phải “chịu vậy” trước những khó khăn, những kỷ luật, những đòi hỏi mà “giá vé” của cuộc sống mai sau đặt ra cho cuộc sống này. Và nếu không lý giải được mối tương quan biện chứng ấy, người ta khó có thể triển khai được một nền văn hóa sự sống toàn diện, có khả năng làm sáng lên những nét đẹp của chính đời sống này. Thực sự, Giáo Hội Công Giáo vẫn còn rất ít triển khai được những giá trị nhân bản mang phẩm chất đặc trưng và tuyệt đẹp của tinh thần Kitô giáo trong cuộc sống hằng ngày. Có khá nhiều giá trị nhân bản gắn liền với đạo lý chính thống của Giáo Hội đã không được ý thức, không được huấn luyện và không được thể hiện một cách rõ nét trong đời sống của Giáo Hội; để rồi, khi Giáo Hội trình bày đạo lý của mình, Giáo Hội lại rơi vào tình trạng “hồn Trương Ba da Hàng Thịt”. Ta có thể nhìn thấy những “bộ xương khô” ngay trong chính đời sống Giáo Hội không ? Chẳng hạn tinh thần sống đạo theo kiểu “đạo sinh hoạt”, đạo luật lệ không có Thần Khí …???
Thật ra mối tương quan giữa cuộc sống đời này và đời sau không phải là mối tương quan bi đát, nghĩa là tương quan loại trừ nhau, nhưng phải là tương quan ủng hộ nhau. Người ta chọn cuộc sống mai sau không phải vì khinh chê cuộc sống này, nhưng là vì rất trân trọng nó. Ngay cả khi chấp nhận làm giảm thiểu hoặc chấp nhận chết đi trong cuộc sống đời này vì cuộc sống mai sau, thì đó cũng không phải là làm giảm nhẹ giá trị của nó, mà chính là làm tăng giá trị của cuộc sống đời này, hay đúng hơn là làm trọn ý nghĩa của cuộc sống đời này. Đó là một thứ biện chứng chứ không phải là một mối tương quan bi đát giữa đời này và đời sau. Như thế, để có thể làm sáng trọn vẹn lên ý nghĩa của cuộc sống đời này và góp phần và một nền văn hóa ủng hộ sự sống, chúng ta phải làm sáng lên mối tương quan biện chứng ấy.
2.3 Biện chứng Sự Sống và Cái Chết
Trong hình ảnh cuộc đấu tranh “chủ - nô” mà triết gia Hégel trình bày, người ta thấy bắt đầu nổi lên một khía cạnh mới về sự sống : ý nghĩa của sự sống cao hơn chính sự sống. Trong cuộc chiến của hai người, kẻ nào dám coi thường sự sống thể lý để lao vào cuộc đấu tranh cho được một cuộc sống làm chủ, nghĩa là một cuộc sống có ý nghĩa chân chính, thì kẻ ấy sẽ là người thắng cuộc. Ngược lại, kẻ ham sống sợ chết, kẻ muốn bảo vệ sự sống của mình bằng bất cứ giá nào, cho dù là một cuộc sống mất tự do như một người nô lệ, thì kẻ ấy sẽ là người thua cuộc. Ý nghĩa sự sống cao hơn chính sự sống, hay nói một cách khác, sự sống con người không chỉ đơn thuần là một sự sống sinh vật, sự sống con người cần đạt đến mức độ sự sống phong phú và cao cả. Từ đây, ta đã có thể thấy thấp thoáng hình bóng của sự sống một cách rõ nét hơn. Sự sống không phải chỉ là sự nhịp đập của con tim, nhưng còn là trọn vẹn phẩm giá của một con người. Sự sống con người chỉ sáng lên giá trị của nó khi nó thực hiện ý nghĩa của đời sống con người.
Dưới ánh sáng của lý trí tự nhiên, người ta cũng có thể thấy được một vài hiện tượng biểu lộ tầm quan trọng của chính ý nghĩa sự sống quan trọng hơn chính sự sống thể lý; chẳng hạn trong tình yêu, hoặc trong việc đấu tranh cho phẩm giá con người, đấu tranh cho tự do, cho bình đẳng, cho sự độc lập của quê hương đất nước… Với những giá trị nhân bản chân chính, người ta có thể sẵn sàng hy sinh mạng sống; và việc hy sinh ấy được thể hiện một cách anh hùng đối với bản thân của người hy sinh, cũng như một cách đáng kính trọng đối với những người khác.
Như thế, trong ý nghĩa sâu xa của sự sống, người ta thấy sự sống có thể đi đôi với cái chết, sự sống vẫn có thể bao gồm những hình thức hãm mình, hy sinh, hoặc một lối sống khắc khổ nào đó… khi mà những điều đó thực sự nằm trong chiều hướng thể hiện chính phẩm giá của sự sống con người. Một sự sống như thế toát lên vẻ đẹp của nó, và có khả năng chinh phục được nền văn hóa của sự chết. Nói cách khác, khi sự sống thể lý tìm được một ý nghĩa chân chính, cao đẹp, thì cuộc sống con người lại thể hiện chính nó trong một thứ biện chứng của sống và chết: “… vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc tìm được bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ. Chính khi chết đi là khi vui sống muôn đời”.
Trong chiều hướng ấy, chúng ta có thể nói rằng, theo quan điểm Kitô giáo, sự sống của con người ở đời này phải được nhìn trong tính biện chứng, nghĩa là trong mối liên hệ với cái chết thì mới có thể thể hiện được trọn vẹn giá trị. Bởi vì với Đức Giêsu Kitô, sự chết không còn phải là dấu hiệu sự chiến thắng của sự chết, nhưng một cái chết tự nguyện vì yêu thương lại chính là biểu hiện một một sự sống sung mãn, sự sống có tình yêu lớn hơn mọi tình yêu, tình yêu dám “vét” hết sự sống của mình để trao tặng. Một cái nhìn hời hợt, một thái độ vun quén cho sự sống của mình, tranh đấu cho sự phát triển sự sống của bản thân mình… thực sự không phải là bênh vực sự sống, nhưng chính là coi thường sự sống, là giảm thiểu ý nghĩa sự sống con người xuống hàng sự sống của sinh vật cấp thấp.
2.4 Văn hóa sự sống toàn diện của Kitô giáo
Dĩ nhiên, một cái nhìn tự nhiên như nói ở trên chưa đủ để bênh vực sự sống con người theo quan điểm Kitô giáo; vì người ta vẫn có thể nhân danh tình yêu để chọn cái chết êm đềm chẳng hạn. Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ rằng những điều đó, ít nhiều, nằm trong cùng một chiều hướng ủng hộ sự sống với lập trường Kitô giáo. Điều mà đức Gioan Phaolô II nói đến như là “văn hóa sự chết”, theo tôi, trong số đó có nhiều điều có thể nói được là một nền văn hóa sự sống không toàn diện. Và như thế, nhiệm vụ của Giáo Hội có lẽ cũng không phải chỉ nhằm “chống đối” mà còn là, một cách nào đó, “đồng hành” để đưa đến một nền văn hóa sự sống toàn vẹn hơn. “Đồng hành” cũng có nghĩa là thừa nhận những giá trị chân chính mà những chủ trương “không toàn diện” ấy chủ trương, và tha thiết thăng tiến những giá trị ấy thêm hơn. Nói một cách triệt để hơn và cũng “có thực chất” hơn, đồng hành nghĩa là chính Giáo Hội cũng phải nhìn lại bầu khí chung cũng như những nỗ lực làm cho sự sống phóng phú và sung mãn của Chúa Giêsu trở nên một hệ giá trị nhân bản đẹp và tích cực có khả năng góp phần làm cho sự sống toàn diện được triển nở phong phú.
Giáo Huấn của Kinh Thánh cho ta thấy phẩm giá của sự sống con người, trước tiên, đặt nền tảng trên sự tôn trọng của chính Thiên Chúa :
“Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong.Vì Người đã sáng tạo muôn loài cho chúng hiện hữu, mọi loài thọ tạo trên thế giới đều hữu ích cho sinh linh, chẳng loài nào mang độc chất huỷ hoại. Âm phủ không thống trị địa cầu”. (Kn 1, 13-14)
Và :
“Quả thế, Thiên Chúa đã sáng tạo con người cho họ được trường tồn bất diệt. Họ được Người dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người. Nhưng chính vì quỷ dữ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian. Những ai về phe nó đều phải nếm mùi cái chết”.(Kn 2,23-24)
Niềm Tin vào một Thiên Chúa ủng hộ sự sống không thể làm cho sự sống đời này trở nên tầm thường, “nhẹ ký”, bọt bèo… nhưng gia tăng tối đa giá trị cuộc sống ở đời này, qua một sự thay đổi ý nghĩa có tính cách biện chứng. Niềm tin bổ túc cho cái nhìn tự nhiên là làm trọn khát vọng tuyệt đối của con người. Sự sống của con người ở đời này và đời sau, mặc dầu có một sự “cách quãng” do một sự biến đổi thực sự của Chúa, nhưng ta vẫn không bao giờ được bỏ mất tính cách “liên tục” của một sự sống nơi một con người, đời này và đời sau. Chính sự sống của một con người nơi trần gian, hình thành nên ý nghĩa của mình trong dòng lịch sử và được hồng ân của Chúa trợ lực, biến đổi nên cuộc sống vĩnh cửu mai sau. Trong trọn vẹn hành trình ấy, sự sống, dù là sự sống ở đời này, vẫn luôn luôn được tôn trọng và luôn luôn nằm trong chiều hướng thăng tiến đến mức độ hoàn hảo hơn, cho dù đó là một sự hy sinh, một đời sống khắc khổ….
“Mặc dù nhiều khó khăn và bấp bênh, người nào chân thành mở rộng lòng đón nhận chân lý và điều thiện đều có thể nhờ ánh sáng của lý trí, nếu không kể tới việc nhận biết – theo luật tự nhiên được ghi trong tâm hồn (x. Rm 2,14-15)- giá trị thánh thiêng của sự sống con người, từ khởi điểm tới tận cùng của nó; người chân thành có thể khẳng định quyền của mọi người được thấy người ta tôn trọng toàn vẹn báu vật đầu tiên này của mình…” (T/Đ Tin Mừng Sự Sống, số 2c)
2.5 Những bộ xương khô được phục sinh
Việc loan truyền một nền văn hóa sự sống chắc chắn không thể dừng lại ở một vài lập trường luân lý, một vài lập trường hoặc một vài cách giải quyết những vấn đề trước mắt của cuộc sống, nhưng cần được nhìn lại, cần bị chất vấn, để có thể, nói như Nietzsche, “hát cho tôi nghe những bài ca hay hơn, để tôi mới chịu tin vào Đấng Cứu Độ của họ”.
Một nền luân lý sự sống luôn là cần thiết để định hướng cho những xu hướng dễ dãi quen thuộc của con người, nhưng thường cũng lại dễ rớt vào một thái độ nghiêm nghị khó có thể sống được, hoặc đưa đến kết quả là một sự sống méo mó lệnh lạc. Nói cách khác, khi tìm nền tảng căn bản của sự sống, ngoài việc tìm về những nguồn mạch giá trị luân lý vững bền, người ta còn cần để ý đến phương pháp “xem hạt thì biết cây”.
Lòng tôn trọng sự sống chỉ có thể được triển nở phong phú trong môi trường văn hoá sự sống toàn diện; nghĩa là sự sống của con người chỉ có được tôn trọng khi mà người ta xác tín ý nghĩa của sự sống, khi mà môi trường của một nền văn hóa sự sống có khả năng làm sáng lên những nét đẹp nhân văn của sự sống, khi mà ý nghĩa của cuộc sống toàn diện được minh định một cách thuyết phục. Đức Gioan Phaolô II nói đến một thứ “văn hóa sự sống”, điều đó bao hàm một “hệ giá trị nhân bản”, có một thứ “tinh thần” năng động để có thể nuôi dưỡng hướng dẫn những cách ứng xử trong nhiều tình huống phức tạp. Cũng thế, tài liệu đúc kết Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu lần VIII, họp tại Hàn Quốc, từ 17-23.8.2004 đã chọn chủ đề “Gia Đình Á Châu Hướng Đến Nền Văn Hóa Sự Sống Toàn Diện”.
Làm sao Tin Mừng sự sống của Đức Kitô có thể trở nên một nguồn sinh khí mới cho “những bộ xương khô” ngày hôm nay ? Chắc chắn đó không phải chỉ là một vài lập trường luân lý, nhưng là một sức sống mới của Thánh Thần, một sức sống toàn diện và phong phú có khả năng làm vực dậy chẳng những giá trị tâm linh mà cả những giá trị căn bản của nền nhân bản Kitô giáo. Nhưng đâu là một “hệ giá trị” của một nền văn hóa sự sống ? Đâu là những hình ảnh đẹp và có sức thuyết phục của một sự ủng hộ cho sự sống toàn diện ? Tôi tin rằng còn có cả một hệ những giá trị nhân bản Kitô giáo mà chúng ta chưa triển khai phong phú được…
Chú thích:
[1] Bertrand Russell, Thế Giới Ngày nay và Tương Lai Nhân Loại, Nguyễn Hiến Lê dịch, Nxb Văn Hóa,1996.
[2] Gioan Phaolô II, Thông Điệp Tin Mừng Sự Sống s. 2.
[3] Kinh Hòa Bình