TUYỂN LỰA LÀ CHẤP NHẬN VÔ ĐIỀU KIỆN
Cứ như thói quen trong Giáo Hội, vào ngày lễ một vị thánh nào đó, ta phải cố tìm cho ra những đức tính đặc biệt của ngài, để ca tụng và để làm gương cho người tín hữu. Quan niệm chung chung vẫn cho rằng các thánh không thể là những con người tầm thường như chúng ta, các thánh phải có điều gì hơn người, phải khác với những người chúng ta nhìn thấy, gặp gỡ hiện nay trong cuộc sống... Nhưng quả thật đôi lúc ta khó có thể tìm ra một đức tính nào trổi vượt, chẳng hạn nơi hai ông Simon và Giuđa trong số 12 tông đồ. Lịch sử không để lại vết tích nào đặc biệt; hai vị được thánh ký kể đến sau rốt, trên mỗi Giuđa phản bội mà thôi; những thứ hạng "rốt bét".
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
Suy niệm Tin Mừng Lc 6, 12-16
"Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Đến sáng, Người kêu gọi các môn đệ lại, chọn lấy 12 ông và gọi là tông đồ".
1. Các thánh trong Giáo Hội
Cứ như thói quen trong Giáo Hội, vào ngày lễ một vị thánh nào đó, ta phải cố tìm cho ra những đức tính đặc biệt của ngài, để ca tụng và để làm gương cho người tín hữu. Quan niệm chung chung vẫn cho rằng các thánh không thể là những con người tầm thường như chúng ta, các thánh phải có điều gì hơn người, phải khác với những người chúng ta nhìn thấy, gặp gỡ hiện nay trong cuộc sống... Nhưng quả thật đôi lúc ta khó có thể tìm ra một đức tính nào trổi vượt, chẳng hạn nơi hai ông Simon và Giuđa trong số 12 tông đồ. Lịch sử không để lại vết tích nào đặc biệt; hai vị được thánh ký kể đến sau rốt, trên mỗi Giuđa phản bội mà thôi; những thứ hạng "rốt bét".
Điều đó làm cho ta bỗng sực tỉnh để nhận ra rằng : không phải chỉ có hai vị này mà hình như cả nhóm 12 tông đồ đều là những người không phải ngon lành gì; nói đúng ra, các vị cũng là những con người khá cù lần. Phêrô, tông đồ trưởng, thì bốc đồng; Giacôbê và Gioan thì nóng nẩy [con của sấm sét] và ham mê quyền lực [Mc 10, 35-45]; Gioan lại còn nhỏ mọn [không cho những người nhân Danh Chúa mà trừ quỉ Lc 9,49-50]; các ông khác thì nhát đảm và ngu dốt.... Điều đó không khỏi làm chúng ta liên tưởng tới Giáo Hội hiện nay, trong đó cũng có không ít các vị giám mục "cù lần", những linh mục, tu sĩ đầy những tính xấu...
Và cứ tiếp tục theo lý luận như trên, chắc chúng ta cũng phải tự hỏi : không biết trong khi thức suốt đêm để cầu nguyện, Chúa Giêsu có ngủ gật hay không mà lại chọn "được" 12 vị thế ấy ? Thánh Thần có đi vắng không để Giáo Hội chọn lựa những thừa tác viên như vậy ?
Trong tâm thức người Kitô hữu hiện nay, hễ nói đến "thánh" là người ta nghĩ ngay đến ông thánh này bà thánh kia; hễ nói đến các thánh là người ta luôn phải ca tụng nhân đức, sự anh hùng, sự giỏi dang, đạo đức... như thể chính nhờ các đức tính ấy mà các vị ấy đã làm thánh. Người Kitô hữu rất ít để ý, không biết, hoặc biết nhưng chưa thấm sâu vào tâm thức rằng : tính chất "thánh" là của Chúa, và các "vị thánh" chỉ là được thông chia sự thánh thiện của Chúa. Lời kinh Vinh Danh trong thánh lễ tuyên xưng rằng "chỉ có một mình Chúa là Đấng Thánh". Những điều đó phải chăng phản ảnh một tâm thức chung trong Giáo Hội, một tâm thức nặng về luân lý và ít cảm nhận được tính cứu độ ? Đời sống đạo như thế giống như một cuộc leo núi luân lý và ai khỏe mạnh, khéo léo mới có thể lên tới những đỉnh cao. Bao giờ người Kitô hữu còn nhìn các thánh như những mẫu gương "đạo đức" chứ không phải như chứng tá cho sức mạnh của niềm Tin và ơn cứu độ, thì nguyên lý tác động trong sức sống của Giáo Hội vẫn còn là nguyên lý luân lý chứ không phải nguyên lý Đức Tin.
2. Mầu nhiệm tuyển lựa
Nhóm 12 được Chúa Giêsu tuyển chọn, không phải qua một cuộc thi cử, phỏng vấn... để xét duyệt năng lực nhưng chỉ do ý muốn của Ngài; và kết quả của cuộc tuyển chọn ấy không có vẻ thành công. Cũng vậy, người ta vẫn có thể thấy Thiên Chúa tuyển chọn nhiều giám mục "cù lần", nhiều linh mục quan liêu, hống hách, nhiều tu sĩ quá lo bảo vệ nếp sống của mình... Sự thật đó thường khiến nhiều người khó chịu bực dọc; và chắc hẳn cũng có người thầm nghĩ Thiên Chúa đã chọn lầm.
Nhiều lần chúng ta có thể thấy, cứ bình thường, đáng lẽ ra Chúa phải chọn người này chứ không phải người kia... Sự tuyển chọn của Thiên Chúa thật khó hiểu. Có một mầu nhiệm nào trong những việc tuyển lựa ấy ? Thiên Chúa tuyển chọn theo Thánh Ý của Ngài, chúng ta cần nhìn ra mầu nhiệm tuyển chọn của Chúa, để nhận ra mầu nhiệm cứu độ và tôn trọng mầu nhiệm tuyển chọn ấy.
3. Học biết chấp nhận người khác "vô điều kiện"
Có khi, đúng hơn là thường khi, một con người, chẳng mấy tốt lành hơn ai, những lại luôn buồn bực vì những thái độ của người khác. Trong khi chính mình bị phê bình, người ta vẫn không ngừng phê bình người khác; trong khi, thật ra, mình cũng chẳng hay ho gì hơn ai, người ta lại cứ luôn luôn có thể chê bai hay ít là khó chịu về những điều không hay của người khác. Ngẫm nghĩ ra ta thấy cuộc đời thật cũng lạ ! Mỗi người chúng ta đều có lúc thật "hồn nhiên" kêu ca người khác [người dưới với người trên]; chửi rủa người khác [những người ngang hàng với nhau], quở mắng người khác [người trên với người dưới]; có biết bao người vẫn luôn cằn nhằn, trách móc, than phiền, bực tức... về người khác, mà lại là bực tức về những chuyện mà chính mình đang vướng mắc và cũng đang làm bao người khác phải khổ tâm.
Hình như bài học "khó nhất" của cuộc đời là bài học chấp nhận người khác như là họ, một sự chấp nhận "vô điều kiện". Hình như thái độ của con người với nhau, bình thường, là thái độ đòi hỏi người khác. Mỗi người chúng ta vẫn thường làm một cuộc thi tuyển để "tuyển chọn" ra "người thân cận" của mình ["Nhưng ai là người thân cận của tôi ?"/ Lc 10,29b]. Cuộc thi tuyển ấy quả thật gắt gao hơn bất cứ một cuộc thi tuyển nào khác. Không dễ ai có thể vượt qua; càng không dễ có ai có thể giữ vững trình độ, giữ vững phong độ để ở lại mãi trong "trường người thân cận" của tôi. Và có thể lắm, chính sự tuyển lựa gắt gao quá sức của "trường đại học người thân cận" này là nguyên nhân chính khiến cho người ta luôn thiếu "nhân sự", khiến cho đời người luôn cô đơn, khiến cho cuộc sống luôn khó chịu, khiến cho tâm hồn con người bị dằn vặt vì những nỗi khổ từ đủ phía, do mọi người ! Bởi vì "bệnh tật" là chuyện của con người; "cù lần" là thực chất của mọi người; mỗi người đều có cái lẩm cẩm của mình.
Nói thế, không có nghĩa là cuộc đời này không có "người thân cận" đích thực. Chúng ta vẫn có thể nhìn thấy những mối tình vượt qua "sự đòi hỏi" của lẽ thường tình để biết chấp nhận nhau, nhất là chúng ta nhận ra có một mảnh đời thật là tuyệt diệu về vấn đề này : nơi gia đình, người ta có thể học được bài học mà không dễ ở nơi đâu có được, bài học chấp nhận nhau vô điều kiện. Trong gia đình, người ta được kêu mời chấp nhận nhau vì chính con người của nhau; chấp nhận nhau vì là chồng là vợ của mình, vì là anh em một nhà. Nhất là trong trường hợp cha mẹ với con cái : cha mẹ chấp nhận đứa con của mình bất cứ giá nào. Cha mẹ luôn là người có thể chấp nhận đứa con của mình. Cha mẹ muốn con giỏi, muốn con ngoan, muốn con khỏe mạnh... Nhưng nếu con yếu đau, dốt nát và khó dạy, thì chúng vẫn là con, và cha mẹ vẫn thương con của mình như một con người không thể thay thế.
Tình yêu thương vô điều kiện không phải là lòng thương hại; vì thương hại là tình thương chỉ dành cho những người đau khổ, những người nghèo hèn. Người ta thường không dễ chia vui với người khác, nhưng lại dễ chia buồn với người khác, đó là lòng thương hại. Tình yêu vô điều kiện là yêu thương người khác như là họ; họ tốt, họ gặp may lành thì ta mừng; nhưng nếu họ có cù lần, họ bê bối thì ta cũng vẫn chấp nhận họ như là người thân của mình. Nhiều người cha, người mẹ quở mắng con cái và kêu lên rằng : mong cho chúng mày đi đâu khuất mắt... nhưng khi con bị tai nạn, ngã bệnh, hoặc bị giam trong tù, thì chính cha mẹ, bình thường, là những người đau đớn hơn ai hết, tìm đến chăm sóc, xách giỏ thăm nuôi. Đây là tình yêu vô điều kiện.
Cái mảnh đời tuyệt diệu ấy khiến cho đời người bôn ba trăm nẻo vẫn còn có chốn để trở về, có nơi để tâm hồn được nương tựa; khiến cho tình mẫu tử trở nên tình cảm sâu sắc nhất của con người; khiến cho ca dao về mẹ luôn là những áng văn chương phong phú và tuyệt diệu nhất...
Chính kinh nghiệm được chấp nhận trong đời sống gia đình giúp con người có thể sống thật với mình, bớt thái độ phòng thủ, bớt mặc cảm, bớt “đeo mặt nạ”.... Chính kinh nghiệm được chấp nhận “vô điều kiện” như thế giúp con người thoát khỏi nỗi sợ sâu xa, nỗi sợ về bản thân mình, nỗi sợ về những mối tương quan xung quanh mình. Những nỗi sợ như thế mang dáng dấp nỗi sợ của ông Adong và bà Evà trong vườn địa đàng, và nó là căn nguyên của biết bao trục trặc trong đời sống con người.
Hình như "bí quyết" để có thể chấp nhận người khác vô điều kiện, đó là coi người khác như là "của mình" ! Cha mẹ không phải là những người luôn có thể chấp nhận người hàng xóm vô điều kiện, vì người ấy chưa phải là "của mình". Chính vì thế, ta chưa thể nói người nào đã làm cha làm mẹ thì đều có thể chấp nhận mọi người cách vô điều kiện; ta chỉ nói tới những "mảnh đời" tuyệt diệu.
4. Thiên Chúa chấp nhận ta "vô điều kiện"
Nhưng mảnh đời tuyệt diệu ấy, theo thánh Phaolô, lại mới chỉ là phản ảnh, là hoa trái của tình yêu của Thiên Chúa : “Vì lý do đó, tôi quì gối trước mặt Chúa Cha, là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất” [Ep 3,14]; và nếu thực sự con người cần tới tình yêu thương vô điều kiện như thế; nếu thực sự tình yêu như thế là điều quí trọng nhất trong tâm khảm con người, trong cuộc đời con người, thì chúng ta cũng có thể nghĩ rằng Thiên Chúa yêu thương và chấp nhận ta cách cao thượng, quảng đại, "vô điều kiện" hơn rất nhiều.
Thánh Phaolô lại còn khẳng định với chúng ta :
“Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được gì, vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Kitô đã chết vì chúng ta. Hầu như không ai chết vì người công chính, họa may co ai dám hết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Phương chi bây giờ, chúng ta đã được nên công chính nhờ máu Đức Kitô đổ ra, hẳn chúng ta sẽ được Người cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hòa giải với Người, phương chi bây giờ, chúng ta đã được hòa giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy. Nhưng không phải chỉ có thế, chúng ta còn có Thiên Chúa là niềm tự hào, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng nay đã hòa giải chúng ta với Thiên Chúa” [Rm 5, 6-11; xc. Rm 8,31-39; 1Ga 4, 9-10; hoặc Ga 15, 1-15].
Thiên Chúa yêu thương và chấp nhận ta vô điều kiện, đó là chân lý có thể mang lại sức mạnh giải thoát cho con người. Tình yêu thương như thế không có nghĩa là mù quáng, không phải là nguyên nhân của thói ỷ lại, nhưng là tình yêu thương có thể thực sự giúp con người vươn lên.
Trước hết, tình yêu thương đó làm cho con người tìm thấy bình an. Khi tôi được quí mến và được khen ngợi vì tài năng hay đức tính của mình, tôi biết rằng thế nào cũng có lúc tôi bị chê bai; vì tôi không thể nào giữ mãi được "phong độ" của mình, như một cầu thủ, như một đội bóng không thể nào mãi mãi ở đỉnh cao của tài năng. Nhưng nếu tôi được chấp nhận ngay khi tôi cù lần, ngay khi tôi ở trong vũng lầy, tôi biết rằng tôi được chấp nhận "vô điều kiện". Khi đó, không phải đức tính của tôi được chấp nhận, nhưng là chính con người của tôi.
Sự chấp nhận của Thiên Chúa như thế còn mang lại sự giải thoát cho con người khỏi nỗi cô đơn, thứ cô đơn đã tạo nên biết bao hậu quả tai hại trong cuộc sống con người, thứ cô đơn làm cho con người đeo mặt nạ, luôn phải gồng mình "tỏ ra" mình thế này thế kia; luôn phải cố gắng "chọn một lập trường" khác với người khác, thứ cô đơn làm cho con người phải lo lắng để có thể được người khác chấp nhận.
Hơn nữa, sự chấp nhận của Thiên Chúa có thể giúp người ta vượt qua được một thứ cô đơn mang tầm mức "siêu hình", vốn là "gia sản" của thân phận của con người bị cắt đứt khỏi tình yêu, bị thống trị trong tình trạng tội lỗi. Đây không phải chỉ là một sự cô đơn tâm lý, do thiếu sự hiện diện của người khác, nhưng là thứ "cô đơn" vì phải một mình chịu trách nhiệm về vận mạng đời mình.
Con người phải làm chủ chính mình và phải đảm nhận cuộc đời mình, phải chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình, phải bước đi bằng đôi chân của mình... Không ai có thể sống dùm chịu trách nhiệm dùm cho "cái tôi" này cả. Điều đó là thật ! quá thật ! Hết sức đúng với thân phận con người ! Nhưng đó cũng là giới hạn căn bản của con người, giới hạn "siêu hình" của con người, giới hạn làm nên nguồn gốc mọi trục trặc trong đời sống của con người; trong khi mà con người, tự bản chất, là tình yêu, là tương quan; trong khi con người lại luôn "nghe" trong căn cốt của mình lời kêu gọi thống thiết : sống tương quan với người khác, trở nên một với chính Thiên Chúa, là hình ảnh Thiên Chúa Ba ngôi đã được ghi khắc trong tâm hồn của mình.
Trong tình trạng đó, nếu con người có cố gắng hết sức, thì cũng chỉ có thể vươn lên cao nhất trong hình ảnh một người anh hùng cô đơn theo kiểu "chủ nghĩa anh hùng"; đó là thái độ chấp nhận căn bản chính "thân phận dở dang" của kiếp người ! Điều đó phải chăng là nét cao cả nhất của "chủ nghĩa nhân bản"? Nhưng, nét cao cả đó, đồng thời, cũng là nét bi tráng nhất của thân phận con người.
Những lời của Thánh Phaolô cho thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa đâu phải chỉ là sự trợ giúp bên ngoài, đâu phải chỉ là xuê xoa tình trạng khốn khổ của con người, những còn là một sự liên đới trách nhiệm nay trong ngôi vị của con người; đó là hồng ân mà chúng ta đã được lãnh nhận trong bí tích Thánh Tẩy:
"Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.[...]. Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hòa giải với Người, [...]. Nhưng không phải chỉ có thế, chúng ta còn có Thiên Chúa là niềm tự hào, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng nay đã hòa giải chúng ta với Thiên Chúa”.
Khi Thiên Chúa chấp nhận con người cách “vô điều kiện”, không có nghĩa là Ngài bằng lòng với tình trạng tội lỗi của con người. Ngược lại, chính kinh nghiệm được chấp nhận lại là một sức mạnh căn bản để con người sống theo đường lối và giới răn của Chúa, và chắc chắn cũng là nền tảng "nhân học" để thực hiện vận mệnh đời người, trong niềm xác tín "bản chất con người là tương quan". Tôi biết chắc rằng, nếu tôi có trở thành một tên tội phạm đang ghét nhất thế gian, bị mọi người loại bỏ, thì tôi vẫn được mẹ tôi chấp nhận và yêu thương. Nhưng tôi chưa bao giờ có ý nghĩ rằng mình cứ việc bê bối, bậy bạ vì mình đã được mẹ chấp nhận vô điều kiện như thế. Thói ỉ lại xuất hiện do một thứ "tự do" phóng túng của con người.
Kết
Như thế, chính vì phải "chọn lựa" những con người cù lần cho nên Chúa phải thức suốt đêm; nếu chỉ cần chọn lựa những người ngon lành, thì có lẽ Chúa chỉ cần một giờ là đủ. Nhưng trong mầu nhiệm tuyển chọn này, Chúa Giêsu đã cầu nguyện suốt đêm khi thi hành việc tuyển chọn này, vì tuyển chọn tức là chấp nhận, là chấp nhận vô điều kiện, tức là yêu thương cả những gì cù lần nơi các ông ấy; và đó mới là mầu nhiệm tuyển chọn trong tình yêu thương đích thực.
Như thế, những vấp ngã, tội lỗi, đam mê... không thể làm cho người ta bị Thiên Chúa ghét, nhưng lại càng trở nên đối tượng được Thiên Chúa quan tâm hơn. Người chăn chiên dám bỏ 99 con khác để đi tìm con chiên lạc cơ mà. Chỉ có những đứa con “hoang dàng” không muốn trở về nhà là không đón nhận được ân huệ và sự chữa trị; khi đó, người ta là trốn chạy việc tìm kiếm của Thiên Chúa.
Như thế, xác tín mầu nhiệm tuyển lựa của Thiên Chúa, chúng ta cũng nhận được sức mạnh để biết chấp nhận tha nhân nhiều hơn. Sống mầu nhiệm tuyển chọn của Thiên Chúa trong cuộc đời nghĩa là cảm thông cuộc đời, cả trong tính cách cù lần cù lèo của nó; cảm thương cho cuộc đời con người, cũng như cảm thương cho chính cuộc đời mình.
Chúng ta có thể thấy trong kinh nghiệm của Têrêsa Hài Đồng Giêsu, qua sự triển khai của cha Bernard Bro, một lời chứng hùng hồn về “huyền nhiệm” này :
“Sự say mê khao khát Đấng là Tất Cả, giữ mình không vương tội nhơ, hy sinh tuổi thanh xuân trong dòng tu chiêm niệm, trải qua một cuộc đời khắc khổ để rồi chìm vào đêm tối của hư vô ! Ai có thể kham nổi lộ trình đó ?
Đối với Têrêsa, giờ của sự thật đã điểm để nàng đảo ngược tất cả : “Chúa chỉ cho tôi nhìn thấy chân lý“ [C.J., 4.8.3]. “Than ôi, tôi vẫn đứng nguyên tại chỗ như trước kia, không tiến chút nào. Nhưng tự nhủ như vậy mà lòng tôi vẫn hòa dịu, không phiền muộn. Nhận thấy mình yếu đuối hèn mọn là điều êm ái biết bao” [C.J., 5.7.1].
Nàng phát hiện ra tôn nhan thật của Thiên Chúa trong con người Đức Giêsu Kitô, Ngài đến với ta trong vẻ yếu đuối, và như một kẻ hành khất, chờ mong ta tin cậy. Nàng biết đã đến lúc phải cậy trông toàn diện. Không phải để làm điều gì tốt mà để chấp nhận mình bị vượt qua mãi mãi bởi tình yêu vô biên đang ở trước mặt nàng. Đối với nàng cũng như đối với kẻ trộm lành, thánh Phêrô, người phụ nữ Samaria, cũng như đối với lớp người nghèo hèn và những kẻ tội lỗi, bước tiến vạn nan đã trở thành bước tiến dễ dàng. Chính niềm tin đã kéo những sự gì tưởng là quá xa vời, vào trong tầm tay chúng ta.
Thái độ chấp nhận đau khổ mà lòng không chua xót, chấp nhận bị đè bẹp bởi mệt mỏi, bất tài, bất lực, và có lẽ bởi tội lỗi nữa, thái độ ấy là con đường dẫn đến tinh thần khó nghèo được Thiên Chúa ban cho mọi sự.
Trong một lúc Têrêsa phá vỡ khá nhiều uy hiếp từ bao thế kỷ đã bóp nghẹt Kitô giáo trên đường phát triển, chúng từng đè nặng trên chúng ta từ thời Giáo Hội nguyên thủy.
Nhiều thế hệ đã ngộ nhân rằng hễ là tín đồ Đức Kitô thì bắt buộc phải oai hùng, phải thiện hảo, phải luyện cho mình lòng sắt đá giống như bậc thần linh, noi gương trường phái khắc kỷ Hy Lạp hay La Mã... Phải thiện hảo mới đến gần Thiên Chúa. Mẫu người đó tất nhiên là cao quý, nhưng không đúng với tôn chỉ Phúc Âm.
Têrêsa lớn tiếng cải chính ngộ nhận đó. Con đường nhỏ hẹp của thánh nữ mở ra, đón mời tất cả mọi người, từ người khao khát hy vọng cho đến kẻ tuyệt vọng. Thử thách của số mệnh có thể trở nên con đường băng qua đêm dài đen tối tiến ra ánh sáng, con đường của niềm tin, con đường tìm thấy Thiên Chúa.
Những đặc ân xưa kia xem như dành riêng cho tầng lớp được ưu đãi, cho những nhà thần bí được người đời trọng vọng, nay Têrêsa cho ta thấy những diễm phúc đó được Thiên Chúa đề nghị ban phát cho khắp mọi người. Chính thế, lo âu, sợ hãi, cám dỗ, mệt mỏi của anh chị em, tất cả gánh nặng đó có thể trở nên con đường của Thiên Chúa.
Ở đây, Têrêsa gặp những kẻ nghèo khó nhất, tay không nhất, sa đọa nhất trong chúng ta, những kẻ mất hết điểm tựa. Đồng thời nàng cũng gặp những người làm cách mạng lớn nhất, nhưng kẻ nổi loạn lớn nhất, những người chỉ muốn trông cậy vào sức riêng họ mà thôi”...
Bernard Bro O.P. Tuyệt Vọng Mà Vẫn Một Niềm Cậy Trông”; chương V : Nhờ Tin và Yêu; đoạn II : “Sự Cáo Chung Của Nếp Sống Khắc Kỷ, Mọi Người Được Mời Gọi”
* Gợi ý suy niệm
1. Bạn có kinh nghiệm nào về việc được người khác chấp nhận vô điều kiện không ?
2. Chấp nhận anh em như chính họ là, điều đó có thể thực hiện được không ?
3. Khó khăn nhất của bạn trong đời sống cộng đoàn là gì ?
4. Đối với Thiên Chúa, bạn thường cảm thấy sợ hãi Ngài hay thấy được Ngài yêu thương?
5. Xác tín mình được Thiên Chúa yêu thương "ngay khi còn là tội nhân", điều ấy có thể giải thoát bạn khỏi nỗi sợ và cũng giúp bạn bớt mặc cảm về mình, bạn có dám tin như thế không ?
"Thật vậy, sự sống đời đời, đó là nhận biết Cha - Thiên Chúa duy nhất và chân thật - và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô [Ga 17,3]. Do đó, trọn cuộc đời Kitô hữu như là một cuộc hành hương vĩ đại đi về Nhà Cha, trong đó mỗi ngày ta lại tìm thấy tình thương vô điều kiện của Thiên Chúa đối với tất cả mọi người, nhất là đối với đứa con hoàng đàng [Xc. Lc 15, 11-32]"
Đức Gioan Phaolô II, Tông Thư "Tiến Tới Thiên Niên Kỷ Thứ Ba", ngày 10-11-1994, số 49]