ĐỨC MẾN TRONG ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN - Phần 3

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Cuộc sống xã hội ngày hôm nay có thật nhiều biến chuyển. Xã hội con người tiến bộ thật mau, nhưng cũng làm đảo lộn cuộc sống của nhiều người. Ngày nay, không còn chuyện “con vui thì lại làm vua, con sãi chùa lại quét lá đa”. Người ta có nhiều cơ hội để đổi đời, nhưng cũng có nhiều nguy cơ đánh mất cuộc đời. Con người ngày nay luôn sống trong tâm trạng “cuộc đời như chưa có đáp số”. Người ta luôn phải thăng tiến và luôn phải bảo vệ vị thế của mình; người ta chẳng thể yên ổn với cuộc sống hiện tại vì “nhìn lên thấy mình chẳng bằng ai”. Cuộc chạy đua thăng tiến ấy không bao giờ đủ và lòng con người cũng chẳng thể bình an…

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

3. Lòng mến thể hiện trong “Sống - Với”

3a. Con người cần một “quê nhà”

* Hậu phương và tiền tuyến

Cuộc sống xã hội ngày hôm nay có thật nhiều biến chuyển. Xã hội con người tiến bộ thật mau, nhưng cũng làm đảo lộn cuộc sống của nhiều người. Ngày nay, không còn chuyện “con vui thì lại làm vua, con sãi chùa lại quét lá đa”. Người ta có nhiều cơ hội để đổi đời, nhưng cũng có nhiều nguy cơ đánh mất cuộc đời. Con người ngày nay luôn sống trong tâm trạng “cuộc đời như chưa có đáp số”. Người ta luôn phải thăng tiến và luôn phải bảo vệ vị thế của mình; người ta chẳng thể yên ổn với cuộc sống hiện tại vì “nhìn lên thấy mình chẳng bằng ai”. Cuộc chạy đua thăng tiến ấy không bao giờ đủ và lòng con người cũng chẳng thể bình an…

Bầu khí chung của thời đại như thế làm cho người ta dễ rơi vào tình trạng luôn phải tìm cách thích ứng. Nhu cầu thích ứng trở nên quan trọng hơn là nhu cầu sống an hòa với chính mình. Thích ứng nghĩa là giải quyết vấn đề trước mắt, là đối phó “theo thời vụ” chứ không phải là giải quyết tận căn bản của vấn đề. Đó thường là những giải phát tạm thời chứ không phải một sự giải quyết tận căn; nó không bao gồm sự biết mình rõ rệt hơn, không phải là một kinh nghiệm sâu xa, để lại một bài học nhớ đời cho chính bản thân mình. Cuộc sống ngay nay “chạy” quá nhanh, nên người ta không còn cảm nhận được chính niềm vui của cuộc sống. Cuộc sống “chạy” quá nhanh nên người ta không còn đọng lại một giá trị nhân bản, hoặc một ý nghĩa thân thương, hay một một giá trị “thiêng liêng” nào cho tâm hồn mình.

Ta có thể thấy khá rõ lối sống của con người ngày nay là lối sống của một “người đi đường” chứ không phải là lối sống của một “người ở nhà”. Người ta giải quyết tạm thời những trục trặc để đi qua chứ không phải là một sự sửa đổi cẩn trọng và kỹ lưỡng của bản thân mình. Con người trong xã hội này không còn được an ổn và thanh thản như xưa.

Chính vì thế, trong sâu xa của tâm hồn, con người hiện nay cần đến một “hậu phương”, cần đến một chỗ “ở nhà”, cần một mái ấm cho tâm hồn được nghỉ ngơi thực sự. Henri Nouwen, trong cuốn “Những Dấu Chỉ Của Sự Sống” nói rằng :

“…trong phần lớn thời gian, người công dân thế kỷ XX sống trong nỗi sợ. Nó trở thành căn hộ thường trú của chúng ta, trở thành nền tảng của những quyết định và hoạch định của chúng ta. Cuộc sống có quá nhiều nỗi sợ; người ta hầu như lúc nào cũng có một cái gì đó làm cho sợ; chúng ta gần như không tìm thấy được một người không sợ. . . .” (Xc. Tr.11-12)

Nỗi sợ khắp nơi làm cho người ta không còn là mình, không còn có khả năng tìm lại chính nét độc đáo thân thương của mình. Người ta giống như một kẻ đi học, nhưng học là để đối phó với thời cuộc chứ không phải vì niềm vui của bản thân; phải học đề làm bài, phải học để thi cử, phải học để thăng chức… mà không còn thấy niềm vui được học biết những điều mình thích thú. Nỗi sợ làm cho người ta phát triển bản lãnh đối phó chứ không làm phát triển được bản lãnh sáng tạo. Sáng tạo bản thân, đó là tiêu chuẩn cho sự phát triển lành mạnh của con người… nhưng sự phát triển bản thân chỉ có được khi người ta có đủ thời gian “ở nhà”.

Ở nhà là nơi ta có thể làm những chuyện “vô ích”, nghĩa là những chuyện không nhằm đổi chác mua bán với ai, không để đạt được những đánh giá tốt của ai khác, của xã hội hay của các phong trào… Làm được những chuyện “vô ích” nghĩa là vui chơi, nghĩa là sống thôi chứ không để làm một cái gì. Điều đó cần thiết để con người “biết” được mình, biết được nhu cầu sâu xa và chân thật của chính mình. Điều đó cần thiết để con người khám phá lại nhu cầu “sống với” ai khác, chứ không phải làm được cái gì; nhu cầu được gặp gỡ và được đón nhận một cách căn bản, tức là đón nhận và được đón nhận chính bản thân. Điều đó cần thiết để bù đắp sự trống rỗng do phải lao mình vào đời sống đấu tranh do đòi buộc thích nghi của xã hội. Sinh vật phát triển theo qui luật cạnh tranh sinh tồn, hoặc thích ứng để tồn tại. Nhưng sự thích nghi ấy không phải là phương cách phát triển chính yếu của con người. Nơi con người, thích ứng sẽ làm cho con người không có một căn tính, một thứ căn tính được thể hiện, được diễn tả, được trải mình ra trong hành trình cuộc đời. Điều quan trọng chính yếu của con người là hình thành nên bản thân mình trong dòng lịch sử, diễn giải bản thân mình trong những gặp gỡ và thách đố của cuộc sống, và nhất là khám phá bản thân mình trong tương quan yêu thương. Môi trường thích hợp để thể hiện được điều chính yếu ấy là được sống với ai khác trong bầu khí nghĩa tình, được “ở trong nhà”.

Henri Nouwen cho thấy từ ngữ “ở nhà” có một tầm quan trọng lớn trong đời sống của con người. “Ở nhà” nghĩa là sống trong một sự an hòa từ trong tâm, nghĩa là sống một sự hiệp thông trong chiều sâu ở mức độ bản thân. Ở nhà là nơi ta thoát khỏi tính phòng vệ, được giải phóng khỏi mọi lo lắng, mọi áp lực như một điều kiện để được chấp nhận… Ở nhà là nơi “chúng ta có thể khóc cười, ôm nhau và nhảy, thanh thản mơ mộng hay ngủ say sưa, nơi chúng ta ăn, chơi đọc sách, ngồi bên lò sưởi, nghe nhac, tiếp đón bạn bè. Nhà mình, nơi chúng ta có thể nghỉ ngơi và chữa lành. Nhà mình nơi làm sống lên bao nhiêu tình cảm và xúc cảm, xây trên một hình ảnh duy nhất, đó là căn nhà vui sống; căn nhà của tình yêu” (tr. 21).

Ở nhà là nơi ta là ta, ta được là mình ở trong cái thâm sâu nhất của mình. Ở nhà là nơi ta sống mối tương quan ngôi vị chứ không phải tương quan kinh tế hay tài năng. Trạng thái “ở nhà” thì giống như một nữ tu, về nhà với mẹ, vươn vai khoái chí, thở dài thoải mái, và, một cách tự nhiên, xin mẹ mua cho hai tô phở ăn cho sướng… Ở nhà là nơi mà ta được nâng đỡ “ở bên dưới”, được đón nhận bản thân một cách căn bản, chứ không phải bị xách đầu từ bên trên để rồi tay chân phải quờ quạng để bơi theo… Đỡ nâng “ở bên dưới” nghĩa là một sự chấp nhận toàn vẹn để người khác có thể thực sự là chính họ, là sự hỗ trợ để phát triển bản thân, một sự phát triển gắn liền với gốc rễ của bản thân, chứ không phải một sự uốn nắn từ bên ngoài, làm cho sự phát triển bị lệnh lạc.

* Tìm được sự an hòa

Trong cuốn Tìm Được Đường Về, Henri Nouwen có kể về một thiếu niên 15 tuổi, bị bại não, sống trong cộng đoàn L’Arche, đó là Adam. Adam “không nói được, không tự mình thay quần áo, không tự mình đi được mà cũng chẳng tự mình ăn được nếu không có người giúp đỡ. Anh không khóc, không cười và họa hoằn lắm mới dám nhìn vào người đối diện”… Thế nhưng khi sống và phục vụ cho Adam, tác giả nhận ra được một món quà quí giá từ con người khuyết tật ấy, đó là sự bình an, một sự bình an bén rễ sâu trong con người, bén rễ sâu trong tâm hồn và một sự bình an có khả năng qui tụ thành nên một cộng đoàn xung quanh anh. Con người đầy những khổ đau và mất mát như Adam vẫn trọn vẹn là một món quà quí báu cho người khác; vì anh là một ngôi vị, và lối sống của anh đã “giảm trừ” được mọi thiên kiến giả tạo về một con người.

Có hai người bạn thân, khi người này dến nhà người kia, thì chỉ chào một tiếng, rồi rút quyển sách trong túi ra, nằm đọc sách bên cạnh bạn của mình. Thỉnh thoảng quèo chân nhau một cái, rồi lại im lặng đọc sách. . . Để làm gì ? không để làm gì cả, chỉ để ở với nhau thôi. Điều đơn giản đó, thật ra không phải là một sự nghèo nàn nhưng là một sự phong phú. Trong căn phòng đơn giản đó, có sự chấp nhận của cha mẹ, có sự thanh thản của mọi người trong nhà…. trong căn phòng đó, có người “ở với” mình. Chỉ có thế thôi, nhưng đó lại là một bầu khí quý báu thân thương mà anh không dễ tìm được ở nơi khác.

Xã hội hiện nay luôn thúc người ta đặt câu hỏi “để làm gì?”, “được cái gì ?”… Đó là thế giới “duy hiệu năng”, bị thúc đẩy do mối lo tìm được một thành quả. Đó là thế giới đánh mất cái “ở với”. Thật ra, không phải là người thanh niên ấy không có nhà để ở, không có nhà để đọc sách, nhưng anh ta cảm được một bầu khí nào đó ở bên cạnh người bạn của mình, một bầu khí làm cho anh ta tìm thấy được một sự bình an sâu xa nào đó. Chính những giây phút an bình đó giúp sức cho anh ta trên hành trình cuộc đời.

Người sống trong nỗi lo thì dễ đi tìm sự an toàn bằng cách gia tăng chiếm hữu; tìm “cái có”, tìm cái “sử dụng được” để gia tăng sự an toàn cho bản thân. Nhưng cái “có” không đến được tới ngôi vị của con người, cái “có” chỉ xuê xoa một chút khát vọng sâu xa của con người. Người tìm cái “có” là người quên mất “niềm vui ở với”. Khi mà người ta tìm thành quả, khi mà người ta tìm hưởng thụ, hoặc khi người ta tìm an toàn cho chính mình, người ta chỉ giải quyết chuyện vụn vặt của bản thân mình; và cũng không nhận ra được sự cao qúi của bản thân người khác. Khi đó, người ta chỉ tìm tính hữu dụng của những sự vật, coi người khác như những sự vật, sử dụng người khác, hoặc lạm dụng người khác… Khi tôi đi vào siêu thị, tôi tìm một đồ vật để mình sử dụng; người khác đối với tôi không là gì cả. Còn khi tôi đi đến nhà một người bạn, tôi tìm gặp một con người chứ không phải tìm một đồ dùng để giải quyết chuyện nào đó của tôi. Nhưng cuộc đời con người thì cũng luôn có những cái tréo ngoe : có khi tôi đến với người bạn, tôi chỉ tìm được nơi đó một người giúp đỡ tôi, một người giải quyết dùm tôi một chuyện khó khăn, một người mà tôi sử dụng tốt cho tôi. Lối sống đó chính là một sự lạc đường.

* Một cõi đi - về

Tạm dùng từ ngữ của Trịnh Công Sơn để diễn tả một ý khác, đó là kinh nghiệm rằng cách sống của cuộc đời con người thật ra không phải là một hành trình mải miết, không phải là một nẻo đường thẳng tiến, không phải là kẻ lúc nào cũng đối đầu với những thách đố trên đường đời, nhưng là một hành trình có chốn đi về. Lối sống của cuộc đời, đúng hơn, giống như một người ở nhà và đi làm, đi làm rồi lại trở về; nghĩa là một cuộc đi-về không ngừng. Để có thể dấn bước trên đường đời, người ta luôn phải có nhà, nghĩa là có chỗ để trở về; trở vể để có thể tiếp tục đi. “Tim mỗi người là quê nhà nhỏ” lời hát của Trịnh Công Sơn cũng nhắc nhở ta rằng, ngoài những cuộc đấu tranh giành giật trong cuộc sống, ta vẫn cần có một “quê nhà” trong tim, cần được “ở trong nhà”, cần được sống trong một bầu không khí thân thương, an hòa. Chính sự an hòa trong tim như một hậu phương hùng mạnh có thể giúp con người tìm được sức mạnh bước trên đường đời.

* Thoát nỗi sợ để sống với

Kinh nghiệm cho thấy con người, trong cuộc sống hằng ngày, vẫn thường phải sống trong một tâm trạng phòng vệ; mỗi lần gặp gỡ không chân chính là mỗi lần người ta phải chiến đấu, phải suy tính cách nói, phải tìm thái độ thể hiện… và vì thế, người ta không thực sự thanh thản để có thể sống với. Khi nào con người không còn bận tâm về việc khẳng định trước mặt người khác, nghĩa là khi được thoát khỏi nỗi sợ thì con người mới có thể hiện diện với người khác một cách thanh thản và chân thật.

Quả thật, con người chỉ là mình trong tương quan, nhưng đó là tương quan hiệp thông chứ không phải tương quan cạnh tranh. Tương quan cạnh tranh dễ làm cho người ta đánh mất ý nghĩa bản thân mình, vì lo khẳng định mình “theo đuổi” người khác; tương quan hiệp thông lại giúp ta khám phá khát vọng bên trong và giúp ta khẳng định mình trong hoàn cảnh riêng của chính mình.

Trong tương quan cạnh tranh, ta nhìn tha nhân như một người đe dọa và ta đi vào cuộc đời như một cuộc đấu tranh; trong đó, sự vươn lên của tha nhân làm cho ta sợ hãi, và sự sụp đổ của tha nhân lại làm ta khoái chí. Khi ấy, lòng ta luôn bất an, vì ta giỏi thì có người giỏi hơn ta : ta sợ người đẹp hơn ta, ta sợ người giỏi hơn ta, ta sợ người tài hơn ta, ta sợ người giàu hơn ta…; khi ấy người ta rơi vào căn bệnh “đứng núi này trông núi kia cao”, luôn thấy người khác có điều hơn mình khiến mình phải thèm thuồng; khi ấy, ngấm ngầm trong ta là một ý nghĩ ghen tỵ, cái tình cảm nhỏ nhen ấy làm cho ta buồn với sự lành và vui với sự ác nơi người khác, chứ không phải là “vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12, 15). Người ta dễ chia buồn và khó chia vui là như vậy.

Khi con người khám phá ra mình trong tương quan hiệp thông, người ta khám phá ra nét đẹp của bản thân mình, người ta vui thích với chính mình, và nhận ra mình có thể cống hiến cho người khác phẩm chất của riêng mình. Biết chính mình, biết hoàn cảnh và con người của mình, biết khát vọng và ý nghĩa thực sự của bản thân mình, người ta không cảm thấy tha nhân như một người đe dọa, nhưng như một người nâng đỡ; và khi đó, sự hiệp thông mới có thể bắt đầu.

3b. Thiên Chúa làm người, sống kiếp phàm nhân như con người

* Con người được sáng tạo để sống với

Mặc khải Sách Thánh cho chúng ta biết con người được dựng nên được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa; nghĩa là, theo nghĩa chính xác nhất, con người chỉ có niềm vui và sự bình an thực sự khi ở với Chúa, sống với Chúa. Đó là cuộc sáng tạo để cuối cùng hết, con người được “lên thiên đàng”, dĩ nhiên không phải để hưởng “mọi sự vui vẻ”, nhưng là được ở bên Chúa. Nền tảng của “hữu thể người” theo Kinh Thánh là như thế. Sự sống và sống với là nền tảng của mọi giá trị, mọi sinh hoạt, mọi việc làm, mọi thành quả của cuộc sống. Con người hình thành đời mình trong dòng lịch sử, nhưng điều đó không có nghĩa là mức độ hình thành cuộc đời mình lệ thuộc vào những thành quả đạt được, mà lệ thuộc vào mức độ xây dựng được bề dày nghĩa tình trong sống-với.

Tiếng reo vui của Adam khi gặp được Eva cùng cho thấy sự thành đạt của phận người đã được bắt đầu trong niềm vui sống với :

“Con người nói : "Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi !” (St 2,23)

Trong lịch sử ơn cứu độ, thái độ lệnh lạc nguy hiểm nhất chính là thái độ “thực dụng”, nghĩa là chỉ dừng lại ở mức độ sự vật, nghĩa là chỉ “sử dụng” Chúa và người khác như những phương tiện cho bản thân mình. Thái độ “thực dụng” khiến cho người ta giữ luật không còn phải là trung tín với Chúa mà là để tự hào về bản thân, dâng lễ vật trong đền thờ không còn là phượng thờ Chúa, mà là để an tâm và để tiếp tục sống bất công với người nghèo…(Xc sứ điệp của Amos). Cũng thế, trong đời sống Giáo Hội, khi người ta không còn nhận ra mạc khải của Chúa là mạc khải chính bản thân Chúa mà chỉ còn biết mạc khải là tỏ bày những chân lý “khách quan” nào đó; không còn nhận ra giao ước với Chúa là giao ước bản thân, ta thuộc trọn về Chúa và Chúa cho Con của Ngài chịu chết cho ta…

Đánh mất mối tương quan sống với, con người có cơ nguy đánh mất chính bản thân mình, vì đã đánh mất hình ảnh Thiên Chúa đã được ghi khắc sâu xa trong tâm hồn mình.

* Thiên Chúa làm người, trước tiên là để ở-với

Lời tựa trong Tin Mừng Thánh Gioan là một trình thuật tóm gọn bản thân và sứ vụ của Ngôi Lời Thiên Chúa, lời tựa ấy nói :

“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cự ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14)

Trước đó, sách Châm Ngôn đã nói về sự khôn ngoan được nhân cách hóa mà truyền thống Giáo Hội coi như những lời tiên báo về Ngôi Lời Thiên Chúa, trong đó, đức khôn ngoan là niềm vui của Thiên Chúa và vui chơi với con cái loài người :

“Ngày ngày ta là niềm vui của Người

Trước mặt Người ta không ngớt vui chơi

vui chơi trên mặt đất

vui với con cái loài người” (Cn 8,30-31)

Ý nghĩa đó thật đơn giản nhưng cũng thật căn bản. Ý nghĩa ấy có lẽ cũng góp phần bổ túc cho một bầu khí Kitô giáo hơi quá thiên về “hành động”. Ơn cứu độ là một lịch sử, điều đó đã có phần làm cho ơn cứu độ Kitô giáo được nhìn như một sức năng động, vượt qua những biến động thăng trầm trong dòng lịch sử. Đặc biệt là biến cố đức Giêsu chịu chết, đó là cả một bản hùng ca có nhiều máu và nước mắt. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên bỏ qua môt giá trị khác của ơn cứu độ, đó là sự trầm lắng bình dị hang đá Bêlem, đó là 30 năm Chúa Giêsu sống thầm lặng tại Nagiaret, đó là những giây phút Chúa Giêsu lánh đi cầu nguyện một mình, và đó là những tâm tình lắng động của Chúa Giêsu được trình bày trong Tin Mừng Gioan :

“Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở ; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi." (Ga 14,1-4)

Chúa Giêsu nói đến chỗ ở trong nhà Cha. Đó chẳng phải là một không gian nhưng là phẩm chất của một đời sống; là sự an vui, thân mật, ngọt ngào của đời sống thân tình. Chúa Giêsu nói: "Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và hãy tin vào Thầy", để cho thấy một ngôi nhà thân thương đang chờ đón. Nhà của Cha có nhiều chỗ ở, đó bầu khí mà người ta không còn bận tâm để đấu tranh, để giành giựt, để loại trừ…vì nhà Cha có thể đón nhận những yếu đuối của con người, có thể bao dung những tầm thường của con người, tấm lòng của Chúa Cha "có nhiều chỗ" cho những con người khác nhau, cho những tính khí khác nhau, cho những mảnh đời khác nhau. Đó là chỗ trong tấm lòng quảng đại của Chúa Cha, chỗ của một tình yêu phụ tử giữa Cha với Con.

Chúa Giêsu nói “Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” : Chúa Giêsu nói với chúng ta về việc “ở với”, đó là cuộc sống đích thực, vì ở với là vận mạng của con người và là niềm vui của con người; ở với là tất cả bản chất, tất cả ơn gọi mà Chúa trao tặng cho con người. Con người giống hình ảnh Chúa là con người được ở với Chúa. Chúa muốn các môn đệ ở với Người, và ở với người là “thấy Chúa Cha” là thoả mãn được khát vọng sâu xa nhất của con người. Chính sự trầm mặc, an hòa của một tương lai như thế có thể giúp các môn đệ vượt qua được sự sợ hãi và xao xuyến.

* Chúa Giêsu mời ta bước vào đời sống thân mật

Trong Tân Ước, Thiên Chúa bầy tỏ khuôn mặt của Ngài bằng ngôn ngữ của tình yêu. Chúa Giêsu không tỏ mình ra một cách oai nghiêm như Gioan Tẩy Giả, nhưng trong một cung cách bình dân, xuề xoà, gần gũi và có thể đến được với những người nghèo khổ tầm thường nhất. Chúa Giêsu nói với các môn đệ, và cũng là nói với mỗi người Kitô hữu :

“Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết”.(Ga 15,15).

Có lẽ, trong quá khứ, nhiều hình ảnh, nhiều quan niệm của chúng ta về Thiên Chúa được suy diễn từ hình ảnh một triều đình, khiến cho nhiều phẩm tính đặc biệt của Thiên Chúa, đặc biệt là những phẩm tính của một sự thân mật, được mạc khải trong đức Giêsu, đã không thể hiện được. Trong Đức Giêsu, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa muốn mời gọi con người vào sống trong sự thân mật với Ngài. Thiên Chúa ở với người tín hữu trong tính thân mật.

Cha H. Nouwen cho rằng tính thân mật vượt qua thái độ quá gần và quá xa. Có lẽ chúng ta có thể hiểu được rằng, thái độ của người Kitô hữu đối với Chúa Giêsu không phải là một bài toán lấy điểm trung bình giữa quá gần và quá xa, giữa “gần chùa gọi bụt bằng anh” và “kính nhi viễn chi”; nhưng tính thân mật thuộc về một bình diện khác, không thuộc bình diện lễ nghĩa, nhưng thuộc bình diện tình nghĩa. Trong tính thân mật, người ta vượt qua được những quan niệm lễ nghĩa, và cũng vượt qua được nguy cơ quá gần hoặc quá xa. Tính thân mật không còn là một khoảng cách “không gian”, dù là không gian của lễ nghĩa, những là một hiệp nhất đặc biệt của Kitô giáo : hoà nhi bất đồng; chứ không phải đồng nhất hay dị biệt. Ta có thể khám phá một vài nét của tính thân mật :

- Thân mật là “biết” về nhau : biết ở đây không phải là biết như một tri thức của lý trí, nhưng như một sự thân quen; như người mục tử biết chiên, chứ không phải như người chủ tính toán số chiên của mình.

- Thân mật là qúi trọng bản thân của nhau : sự quí trọng này không phải là được đo đếm theo một tiêu chuẩn tốt đẹp khách quan nào đó, những là do thực tại thuộc về nhau; không phải như người ta đề cao sắc đẹp của một cô hoa hậu, nhưng như người chồng quí trọng bản thân của vợ mình.

- Thân mật là dành riêng cho nhau : Trong đời sống thân mật, người ta dành riêng cho nhau những điều qúi trọng nhất của bản thân mình. Tình nghĩa vợ chồng chẳng hạn, không thể san sẻ cho người khác, vì để bảo vệ sự thân mật của tình yêu giữa hai người.

- Thân mật là hồn nhiên trước mặt nhau : nơi dây, người ta thoát được sự ngại ngần, và cũng thoát được hình thức lễ nghĩa để có thể sống thật, tỏ bày thật bản thân mình cho người mình yêu.

Có thể nói được rằng, khi đánh mất tính thân mật mà Chúa Giêsu mời gọi bước vào, Giáo Hội cũng đánh mất tính chất “ở với” để rơi vào một thứ “đạo sinh hoạt”.

* Bình an Kitô giáo, bình an được ở với

Như thế, chúng ta hiểu được niềm bình an đặc biệt của Kitô giáo, niềm bình an không đặt nền trên một sự an toàn của sự vật, của sự cân bằng những thế lực chính trị… nhưng là sự bình an của tình nghĩa. Khi người ta tưởng sự bình an đến từ môt thế giới sự vật, người ta lo giải quyết vấn đề, dẹp bỏ chướng ngại, thậm chí phải trấn áp những thế lực đối nghịch. Thứ bình an ấy chỉ có thể là sự bình an bên ngoài, bình an của “ngôi nhà sự vật” bao bọc bên ngoài con người. Trong khi đó, bình an Kitô giáo gắn liền với tình yêu, giải đáp nỗi xao xuyến sâu xa trong lòng con người, giải đáp niềm khát vọng sống với của con người. Bình an Kitô giáo, có thể nói vắn gọn, là được Thiên Chúa ở cùng, là cùng đi với Chúa trên nẻo đường sóng gió; nghĩa là vẫn ở với Chúa ngay cả lúc ta đang đi trên nẻo đường gian nan của cuộc đời; bình an Kitô giáo là “ngôi nhà tình nghĩa”, nơi ta được ở với Chúa.

“Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi”.(Ga 14,27).

3c. Sống linh đạo hiện diện trong đời sống cộng đoàn

* Gợi ý suy niệm

1. Tôi có sống hồn nhiên được trước mặt Chúa không ?

2. Tôi có quá để ý đến “lễ nghĩa” trong đời sống cộng đoàn không ?

* Gợi ý thực hành

1. Hãy thử đến với Thánh Thể Chúa, không bận tâm làm gì, nói gì, mà chỉ thanh thản để cho sự thân mật của ta với Chúa được dâng lên.

4. Lòng Mến dấn thân

4a. Tình yêu thể hiện trong sự dấn thân

* Tình yêu giúp con người ra khỏi bản thân

Sự vật vật chất thì “lù lù” ra đó, nó là nó. Nó chẳng bao giờ ra khỏi bản thân, nên cũng chẳng đổi ra khác được. Nó sống hay chết cho một mình nó. Sự sống thì có một cơ chế đặc biệt hơn, sự sống có thể tự gạn lọc để thu nhận những gì thích hợp, tiêu hóa những gì mình thu nhận để biến trở nên chính xương thịt của mình. Sự sống cũng “tìm cách” ra khỏi bản thân mình để muốn sống “trường tồn” bằng sự sinh sản. Thế nhưng sự sống của con vật, thì dù tiêu hóa cao lương mỹ vị gì, thì vẫn chỉ là nó; và khi nó “ra khỏi bản thân” qua sự sinh sản, thì cũng chỉ là một sự kéo dài thêm sự sống của nòi giống. Cá thể của sinh vật chỉ là phương tiện cho giống nòi, và chính giống nòi của con vật thì cũng không có cứu cánh tự thân. Con người cũng là một sự sống, nhưng sự sống của con người thì khác hẳn. Đó là một sự sống có phẩm chất tinh thần, nó có thể ra khỏi bản thân mình để đạt đến một sự hiệp thông sâu xa với ai khác, nó có khả năng “trường tồn” khi chuyển sự sống của mình sang người khác. Sự chuyển thông này không phải chỉ là chuyển thông sự sống sinh vật của giống nòi, mà là sự sống độc đáo với những mơ ước và những giá trị cá nhân của mình. Con người như một cá thể độc đáo, mơ ước trường tồn, khát vọng tuyệt đối, có khả năng ra khỏi bản thân mình, bằng ngõ ra của tình yêu; để đến với ai khác, phó cả sự thành đạt đời mình cho ai khác.

Thật ra, bản thân tự tại của con người thì rõ ràng là một sinh vật tương đối. Tất cả thành công hay thất bại của tôi chỉ là cái hết sức tương đối. Tôi thành công thì có người thành công hơn tôi; tôi đau thì cũng có người còn đau hơn tôi; cuối cùng cuộc đời tôi đụng chạm vào cái chết, và mọi sự dính dáng đến tôi cũng tỏ hiện tất cả tính tương đối căn bản của nó trong cái chết của tôi. Mặt khác, trong thế giới sự vật, con người chẳng là gì cả; đứng trước con cọp, một con người không hơn gì một con nai.

Nhưng khi tôi yêu, tôi mong điều tốt cho người tôi yêu, tôi quan tâm đến người khác hơn là về tôi, và tôi bắt đầu biết di chuyển trọng tâm đời tôi ra khỏi cái tôi ích kỷ và giới hạn của tôi để đặt trọng tâm cuộc đời nơi người tôi yêu. Với một trọng tâm khác thì ý nghĩa của thành công hay thất bại cũng khác. Cái thành công của tôi có thể lại trở nên xấu, nếu nó mang lại điều không hay cho người tôi yêu. Ngược lại cái đau của tôi lại có thể trở nên tốt khi nó được đánh giá từ trọng tâm là điều tốt cho người tôi yêu. Với tình yêu thương, cuộc đời có thể thay đổi hoặc đảo ngược ý nghĩa; vì trong tình yêu, cuộc đời, thay vì là vun quén cho bản thân, lại trở thành như một hành vi cho đi; và cho đi trọn vẹn nhất chỉ có thể là cho đi chính bản thân.

Nơi đây, tính chất tuyệt đối của con người mới ló dạng. Phẩm giá tuyệt đối của con người chỉ xuất hiện khi được đưa vào bình diện giá trị, nghĩa là trong sự đánh giá của tự do con người trong bình diện nhân văn (và do đó nó cũng có thể bị chối từ nếu như người ta không bước vào bình diện nhân văn của con người). Những cái giới hạn tự tại của con người sẽ tan biến đi khi người ta biết trao tặng và trao tặng bản thân cho nhau. Khi ta trao tặng bản thân mình cho người khác, nghĩa là ta đã nhận ra giá trị tuyệt đối của người khác; và khi ta trao tặng bản thân cho người khác thì cũng có nghĩa là ta đưa bản thân mình vào thế giới tuyệt đối. Cũng vậy, khi một người lãnh nhận bản thân dâng tặng của người khác như một tuyệt đối, không thể lấy điều gì khác thay thế được cho bản thân của người khác, nghĩa là người đó biết nhận ra giá trị tuyệt đối của bản thân ai đó, giá trị không có gì có thể đổi chác hay mua bán được. Nếu cả hai chiều hướng đó đều thể hiện được một cách chân chính, nghĩa là không đánh giá sự vật như con người hay hơn con người, nghĩa là không giản lược con người thành một sự vật, nghĩa là tính tuyệt đối của một con người được đón nhận trong tự do chân chính, thì thế giới của tuyệt đối đuợc khai mở…

Quả thật, người ta không thể ra khỏi bản thân mình được nếu không có cánh cửa của tình yêu thương; vì chính tình yêu mới có thể là động lực giúp con người trao tặng bản thân, cũng như chính tình yêu mới có thể mở rộng tấm lòng để đón nhận bản thân người khác như một tuyệt đối.

Con đường hoàn thành vận mạng của đời người, cuối cùng, lại chính là gom góp trọn cuộc đời mình để cho đi. Đó không là gì khác hơn con đường dấn thân; và đó là phương cách duy nhất để ra khỏi cái tôi giới hạn, tương đối, bất tất, chóng qua, để đi vào bình diện tuyệt đối. Chính tình yêu mới có thể là cánh cửa cho con người ra khỏi chính mình, và chính tình yêu mới có thể giúp cho con người hoàn thành vận mạng tương đối của mình. Tình yêu như thế là cánh cửa mở ra với tuyệt đối.

“Con người là tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ, chỉ có thể gặp lai chính bản thân mình nhờ thành thực hiến dâng” (MV 24c).

Dĩ nhiên, trong niềm tin Kitô giáo, chúng ta hiểu rằng gốc gác sâu xa và trọn vẹn của phẩm giá con người phải do từ Chúa; và thật sự nếu không có Chúa, nếu phẩm giá con người chỉ là một thành tựu của văn minh con người thì chính phẩm giá con người cũng không thể thực sự có một nền tảng bền vững ngay trong chính thế giới của con người được. Trước mặt Chúa, một người bé mọn nhất cũng không thể bị coi thường.

* Con người chỉ có thể dấn thân vì ai khác

Triết gia G. Marcel cho rằng người ta không thể dấn thân vì mình, không thể dấn thân vì sự vật, ngay cả với một lý tưởng, nhưng chỉ có thể dấn thân vì một ai khác. Khi người ta lao vào cuộc để củng cố, để thăng tiến bản thân mình, người ta dễ rơi vào kiêu ngạo hoặc ích kỷ, đó là thái độ đóng kín trong chính mình. Tất cả vẫn chỉ là làm phình to lên cái tôi của mình mà thôi. Khi người ta dấn thân vì sự vật, vì một thứ chân lý khách quan nào đó, vì một công trình tuyệt vời nào đó, thậm chí vì một lý tưởng cao đẹp nào đó mà không hướng đến ai khác, thì thật sự ra đó cũng chỉ là một sự dấn thân vì mình mà thôi. Dấn thân chỉ có thể là dấn thân vì ai khác.

Người đi vào đời sống hôn nhân hoặc đời sống tu trì đều một cách nào đó là những người “điếc không sợ súng”, nghĩa là không thấy hết được những khó khăn trong ơn gọi và sứ vụ mà mình lựa chọn. Điếc không sợ súng, một cách nào đó, là “tưởng bở” hóa ra là “dai”. Thế nhưng cái hay của hành trình “điếc không sợ súng” là : chính trên hành trình không được duyệt chính do lý trí, con người vẫn có thể đi cho trọn vẹn được. Đúng hơn, chính hành trình điếc không sợ súng thật ra lại tỏ lộ rõ rệt hơn động lực của hành trình : chính những tương giao trên hành trình dấn thân vì ai khác, chính những nghĩa tình được xây dựng trên hành trình dấn thân mới có thể nuôi dưỡng và trở nên động lực của hành trình dấn thân. Điếc không sợ súng, điều đó cũng có nghĩa là động lực để người ta đi trên đường đời, sâu xa hơn, không phải là lý trí lựa chọn một chương trình, không phải là một lý tưởng đẹp được mơ ước… nhưng chính bề dày nghĩa tình, nghĩa là chính những tình nghĩa, chính vì tha nhân mà ta gặp trên hành trình dấn thân làm cho người ta tìm được sức sống mới, liên tục phát sinh sức mạnh để đi trên hành trình ơn gọi và sứ vụ. Điếc không sợ súng, đó cũng là điều cần thiết, vì khi đó, người ta lao vào cuộc, có thể vì tưởng bở, nhưng không phải đi vào cuộc với sức mạnh và chương trình của mình, mà là nhờ sức mạnh của tình liên đới cụ thể, càng đi thì càng “tự sạc” điện cho mình bằng những kinh nghiệm của sống-với. Điều đó cũng cho thấy con người chỉ có thể dấn thân thực sự và dấn thân đến cùng vì ai khác, chứ không phải vì một chương trình hay vì bất cứ một sự vật nào khác.

* Yêu thương là dấn thân đến cùng

Đi vào nhịp bước tình nghĩa, người ta được mời gọi ra khỏi bản thân, dấn thân vì tha nhân và dấn thân cho đến cùng. Tiếng gọi của tình yêu chân chính bao giờ cũng thôi thúc con người đến một cách sống yêu thương trọn vẹn, triệt để, yêu thương đến cùng. Hành trình của tình yêu không phải nhằm đạt đến một sự an hòa cho bản thân, nhưng là vượt quá bản năng bảo vệ bản thân. Đó luôn luôn là một cuộc “vượt qua”. Tình yêu thương, trong khía cạnh dính dáng đến vận mạng con người, không thể được giải quyết bằng thái độ “đi giầy cao gót”, thái độ “đi cà khêu” trong cuộc đời. Để đến với ai khác trong tình yêu, ai khác như một bản thân có giá trị tuyệt đối, ai khác như vận mạng một đời người, ai khác với tất cả sự phức tạp của cuộc đời, người ta cũng phải hy sinh cả một đời.

Những người làm cha làm mẹ, những người có kinh nghiệm “cưu mang” một cuộc đời, “mang vác” một phận người,… có lẽ dễ hiểu được điều đó. Mang vác một cuộc đời là cả một hành trình gian nan, khốn cực mà người nào nhát đảm, an thân không thể nào đi trọn được. Để đồng hành với một phận người, người ta không thể đứng bên lề cuộc đời để khỏi vướng bùn nhơ, không thể đứng xa xa, cầm cây khều khều, gẩy gẩy… nhưng là xắn quần lên, là lội vào bùn, là ngụp lặn trong bùn. Có lẽ chính vì con người cần được cưu mang, cần được mang vác như thế mà Chúa cho con người có cha có mẹ.

4b. Thiên Chúa là Thiên Chúa dấn thân vào lịch sử

* Con người được kêu mời dấn thân và cần đến một Thiên Chúa dấn thân

Trong nhiệm cục sáng tạo và cứu độ, con người được mời gọi dấn thân. Có lẽ chúng ta cần hình dung tiến trình sáng tạo khác, trong đó, con người không phải phát xuất từ Thiên Chúa, đi ra khỏi Ngài như một đam mê vô vọng trong cuộc đời; cho đến khi khám phá ra nẻo đường sai lạc mà quay trở về thì được hoà nhập vào Thiên Chúa. Đó là mô hình “ngoại đại”, không bao hàm chiều hướng dấn thân chân chính. Mô hình sáng tạo cần được nhìn theo chiều hướng con ngưòi được sáng tạo từ hư vô để tiến đến với Thiên Chúa; và hành trình tiến đến ấy chính là lịch sử cuộc đời mình. Hành trình lịch sử như thế không phải là nẻo đường đi lạc cho bằng là nẻo đường cần thiết để đến với Chúa, để thể hiện mình như một lời đáp, thể hiện mình với tất cả tính độc đáo, riêng biệt và trường tồn mãi như là chính mình. Mỗi một con người, dấn mình trong lịch sử, sẽ mãi mãi là thằng tôi ấy, “đời đời kiếp kiếp” là thằng tôi độc đáo ấy, để đi vào một tình yêu “hoà nhi bất đồng” của Thiên Chúa.

Con người là người và làm người. Đời sống con người là một hành trình và phải dấn thân đi vào lịch sử; cái chính yếu của đời người là dấn thân chứ không phải giác ngộ; là một hành động chứ không phải lý thuyết, là chọn lựa và lao vào cuộc chứ không phải là bảo vệ một tình trạng nào. Dấn thân vào hành trình lịch sử, đó là một vận mạng vô cùng phức tạp chứ không phải chỉ là một bài học lý thuyết có thể được hiểu một lần là xong. Cuộc đời có muôn vàn tình huống mà không thể dễ dàng giải quyết bằng một nguyên tắc đã có. Do đó, con người không phải chỉ cần một Thiên Chúa soi sáng, dạy bảo cho bằng cần một Thiên Chúa đồng hành.

Con người được sáng tạo nên do tình yêu Thiên Chúa và được mời gọi sống trọn hành trình cuộc đời mình trên nẻo đường đi về cùng Thiên Chúa. Được sáng tạo cũng chính là được mời gọi, lời mời gọi ra khỏi hư vô để đi đến tình yêu trọn vẹn. Đó là một hành trình thực sự mang tính cách dấn thân. Đi vào đời và sống trọn cuộc đời trung tín với Chúa trong dòng lịch sử, đó chính là lời đáp thiết yếu của con người. Lời gọi và lời đáp cũng đều là tình yêu. Lời gọi hiện hữu cũng nhất thiết gắn liền với lời đáp thể hiện mình trong dòng lịch sử. Con người không thể hoàn thành vận mạng của mình như một sinh vật sống trong vòng tử sinh, không thể hoàn thành với những thành tựu dù rất cao cả của con người. Những người đứng trước cái chết, nhất là những người trải qua một cuộc đời lầm lũi khổ đau, thường sẽ nhận ra tính vô vọng, tính vô nghĩa tự tại của cuộc đời. Tính vô nghĩa ấy chỉ có thể được vượt qua khi người ta hiểu cuộc đời mình là lời đáp. Ý nghĩa trọn vẹn của đời sống con người chính là nhận ra mối liên hệ ý nghĩa của đời mình với Thiên Chúa, và đời sống ấy trở thành một lời đáp. Do đó, điều quí trong nhất của đời sống con người chính là được nhận ra Thiên Chúa là Cha, là bạn đồng hành, là Đấng liên lụy vào đời sống giới hạn của con người; và như thế, đời sống con người chỉ còn là đáp lại, là dấn thân và phó dâng …

* Thiên Chúa của mặc khải là một Thiên Chúa dấn thân vào lịch sử

Thiên Chúa của Abraham, Isaác và Giacóp không phải là Thiên Chúa của các nhà bác học, B.Pascal đã nói như thế. Điều đó trước tiên diễn tả một Thiên Chúa của Lời Hứa trong dòng lịch sử ơn cứu độ, một Thiên Chúa khác hẳn Thiên Chúa của các triết gia Hy Lạp. Thiên Chúa của người Hy Lạp an vị trong thế giới riêng và không biết gì đến con người, lại càng không bao giờ chịu phiền lụy vì cuộc sống con người. Một Thiên Chúa được muôn vật yêu mến nhưng chính Ngài chẳng yêu mến ai ngoài chính bản thân mình. Trong khi đó, Thiên Chúa của Lời Hứa là một Thiên Chúa dấn thân, đến độ trao ban chính Con Một của Ngài để chịu chết cho con người. Điều đó, người Hy lạp cho là điên rồ.

“… chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ”.(1 Cr 1,23)

Thiên Chúa bắt đầu dính dáng vào lịch sử của nhân loại ngay khi sáng tạo con người, đặc biệt khi Ngài hứa ban một “giòng dõi người nữ” (x. St 3,15); và lời hứa ấy được thực hiện chính thức trong dòng lịch sử khi Ngài chọn và gọi Abraham… Thiên Chúa cũng đi vào dòng lịch sử thăng trầm trên hành trình dấn thấn, mà một cách nào đó, ta tạm nói như Chúa “tưởng bở”. Thiên Chúa của Kinh Thánh là Thiên Chúa dính dáng vào cuộc sống con người đến độ cuối cùng “đành” trao ban chính Con Một duy nhất của mình.

Việc dính vào lịch sử, nói một cách con người, dã đưa Thiên Chúa vào cuộc thăng trầm của đời sống con người, gánh chịu những phiền lụy của cuộc lịch sử; nhưng đồng thời cũng là nơi Thiên Chúa thể hiện trọn vẹn bản chất yêu thương của Ngài. Tình yêu bao hàm dấn thân, nên Thiên Chúa yêu thương là Thiên Chúa dấn thân, và yêu thương đến cùng thì cũng là dấn thân đến cùng.

Càng dấn thân vào hành trình lịch sử của con người, thì Thiên Chúa như càng “hiểu ra”, hay đúng hơn càng bộc lộ khả năng cho đi nhiều hơn nữa… đến độ cho đi chính Con Một của Ngài. Thiên Chúa nhập thể và nhập thế. Mầu nhiệm nhập thể không dừng lại ở việc hiệp nhất “siêu hình” của bản tính Thiên Chúa với bản tính con người, nhưng là bước dứt khoát để đi vào hành trình nhập thế; nghĩa là đi vào hành trình lịch sử thăng trầm của đời sống con người. Khi cho đi chính Con Một, Thiên Chúa không còn là người ở ngoài vận mệnh của con người nữa. Thiên Chúa đã cho đi chính bản thân, nghĩa là Ngài công nhận tính tuyệt đối của bản thân, của vận mạng con người. Điều đó được diễn tả trong nhiều dụ ngôn, chẳng hạn dụ ngôn người chăn chiên dám từ bỏ chín mươi chín con chiên để đi tìm một con chiên lạc, dụ ngôn những người tá điền bất lương…. Khi dâng tặng bản thân, dù là một ngôi vị tuyệt đối tự thân, Thiên Chúa đã đi vào con đường thể hiện tuyệt đối trong trao tặng và lãnh nhận; nghĩa là trong bình diện giá trị nhân văn, hay giá trị siêu việt. Đúng hơn chính việc Thiên Chúa, từ một phẩm giá tuyệt đối tại thân của Ngài, đã yêu thương và dấn thân vì con người, đã làm nên tính tuyệt đối của phẩm giá con người. Phẩm giá con người, trong tình yêu của Thiên Chúa, có được một nền tảng vững chắc và siêu việt ….

"Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này ; quả thật, Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”. (Mt 18,10.)

Thiên Chúa dấn thân vào lịch sử con người, và đó là lịch sử của một dân cứng đầu cứng cổ… Có phải đó chính là thái độ của cha mẹ chăm sóc đến đứa con bướng bỉnh nhất của mình ??? Ta không thể chắc dân Israel là dân cứng đầu nhất, nhưng điều ta có thể thấy chắc chắn là, chính khi dấn thân và một dân “cứng cổ” như Sách Thánh nói, Thiên Chúa lại tỏ ra là Thiên Chúa hơn hết. Ngài tỏ ra Ngài chính là Thiên Chúa chứ không phải người phàm (x. Thông điệp Thiên Chúa là tình yêu). Đó chính là thái độ dấn thân đến cùng. Dấn thân vì con người, vì ai khác là một con đường dấn thân đến cùng, vì không thể bỏ một tuyệt đối, không thể phản lại chính sự công nhận tuyệt đối nơi ai khác, điều mà tình yêu thương đã “tiên báo” ngay từ đầu của hình trình yêu thương. Đã đi vào hành trình yêu thương, là đi vào hành trình tuyệt đối, và hành trình đó luôn luôn là dấn thân đến cùng.

Tất cả ý nghĩa của việc dân thân đến cùng đó được biểu lộ trong dụ ngôn những tá điều bất lương. Thiên Chúa không ngừng nẻo đường dấn thân khi mà đã có nhiều người đầy tớ bị đánh đập, bị giết… nhưng tiếp tục đi đến hành vi quyết liệt nhất là sai chính người con duy nhất của mình đến…

Chúa Giêsu chịu chết cho con người, đó là kết luận “phải đến” của một hành vi dấn thân vì yêu thương. Trên nẻo đường đó, ta thấy bóng dáng của tính tuyệt đối của phẩm giá, tính “triệt để” đến cùng ý nghĩa yêu thương chân chính.

* Thiên Chúa dấn thân vào mối tương giao với mỗi người

Nhóm 12 được Chúa Giêsu tuyển chọn, không phải qua một cuộc thi cử, phỏng vấn... để xét duyệt năng lực nhưng chỉ do ý muốn của Ngài; và kết quả của cuộc tuyển chọn ấy không có vẻ thành công. Cũng vậy, người ta vẫn có thể thấy Thiên Chúa tuyển chọn nhiều giám mục "cù lần", nhiều linh mục quan liêu, hống hách, nhiều tu sĩ quá lo bảo vệ nếp sống của mình... Sự thật đó thường khiến nhiều người khó chịu bực dọc; và chắc hẳn cũng có người thầm nghĩ Thiên Chúa đã chọn lầm. Thiên Chúa tuyển chọn theo Thánh Ý của Ngài, chúng ta cần nhìn ra mầu nhiệm tuyển chọn của Chúa, để nhận ra mầu nhiệm cứu độ và tôn trọng mầu nhiệm tuyển chọn ấy.

Như thế, chính vì phải "chọn lựa" những con người cù lần cho nên Chúa phải thức suốt đêm; nếu chỉ cần chọn lựa những người ngon lành, thì có lẽ Chúa chỉ cần một giờ là đủ. Nhưng trong mầu nhiệm tuyển chọn này, Chúa Giêsu đã cầu nguyện suốt đêm khi thi hành việc tuyển chọn này, vì tuyển chọn tức là chấp nhận, là chấp nhận vô điều kiện, tức là yêu thương cả những gì cù lần nơi các ông ấy; và đó mới là mầu nhiệm tuyển chọn trong tình yêu thương đích thực.

Dấn thân đến cùng vì tình yêu còn vượt qua một “thử thách” khác nữa, đó là dấn thân vì một con người. Tính tương giao ngôi vị là một bình diện căn bản của tình yêu. Tương giao ngôi vị làm cho phẩm chất của tương quan trở thành tuyệt đối. Cũng giống như sự ác là một điều dễ chấp nhận hơn tội. Sự ác thì vô ngã, ta cam chịu, và sức mạnh của lòng cam chịu là chính sự can đảm của bản thân ta. Tội là trách nhiệm với một ai khác. Tội không chỉ đòi hỏi một lòng can đảm để cam chịu, nhưng còn đòi hỏi một lòng quảng đại, tức đòi hỏi tình yêu để có thể đón nhận sự xúc phạm của ai khác. Theo một cách nói nào đó, ta có thể tạm nói rằng, khi yêu thương con người chung chung, Chúa vẫn còn thể hiện sự “can đảm” nhiều hơn; nhưng khi yêu thương những con người cụ thể, thì Chúa phải yêu thương hơn, quảng đại hơn rất nhiều …

Phải chăng cái tội cụ thể của một ai khác vẫn là điều dễ làm ta tức giận hơn ? Ta khó nói về Chúa như thế, nhưng có thể thấy một giao ước dính đến những con người cụ thể của nhiệm cục Tân Ước thì rắc rối hơn nhiều, vì nó tính đến từng con người, từng hoàn cảnh cụ thể, từng nết xấu cụ thể mà ta phải cảm thông và đón nhận, chứ không phải là một cách xử lý vấn đề theo những nguyên tắc chung một cách rõ ràng và minh bạch.

Chúa dấn thân vì cá nhân mỗi con người, đó cũng là một bước của tính tuyệt đối trong tình yêu. Tình yêu Thiên Chúa không thể không triệt để, không thể không đi đến từng cá nhân, đến từng chuyện vô cùng tai quái của biết bao con người trên thế gian này…

4c. Dám dấn thân vì nhau

* Gợi ý suy niệm

1. Có những gì trong đời tôi mà tôi khăng khăng giữ riêng cho mình, không dám tin vào sự dấn thân liên lụy của Chúa vào đời tôi ?

2. Tôi có hay rút ra những bài học vớ vẩn theo quy luật của thế gian mà đánh mất chiều hướng dấn thân mà Chúa mời gọi tôi không ?

* Gợi ý thực hành

1. Hãy khám phá niềm vui được liên lụy với Chúa và với nhau trên bước đường đời.

Xem tiếp phần 4