ĐỨC MẾN TRONG ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN - Phần 2

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Tình yêu làm nên cuộc sống con người; nhưng tình yêu cũng làm ra bao nhiêu tội ác trong cuộc sống con người. Đó chẳng phải chỉ là những là những thứ tình yêu ghen tuông, tình yêu mù quáng; nhưng đó còn là biết bao tội tham nhũng, bất công, gian tham… mà trong thâm sâu chúng cũng có phần dính dáng đến một thứ tình yêu nào đó. Tình yêu làm nên cuộc sống con người, nhưng con người thường chỉ đạt được một thứ tình yêu “nửa chừng xuân”, tình yêu vụn vặt và què quặt, khiến cho cuộc sống con ngươi cứ mãi loay hoay; khổ vì yêu mà không yêu cũng khổ; yêu để sống nhưng nhiều khi vì yêu mà không còn muốn sống….

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

2. Tình yêu : chân chính và giả tạo

2a : Tình yêu của con người

* Tầm mức của tình yêu con người

Tình yêu làm nên cuộc sống con người; nhưng tình yêu cũng làm ra bao nhiêu tội ác trong cuộc sống con người. Đó chẳng phải chỉ là những là những thứ tình yêu ghen tuông, tình yêu mù quáng; nhưng đó còn là biết bao tội tham nhũng, bất công, gian tham… mà trong thâm sâu chúng cũng có phần dính dáng đến một thứ tình yêu nào đó. Tình yêu làm nên cuộc sống con người, nhưng con người thường chỉ đạt được một thứ tình yêu “nửa chừng xuân”, tình yêu vụn vặt và què quặt, khiến cho cuộc sống con ngươi cứ mãi loay hoay; khổ vì yêu mà không yêu cũng khổ; yêu để sống nhưng nhiều khi vì yêu mà không còn muốn sống….

Thật ra con người khao khát yêu thương, nhưng lại không có đủ phẩm cách xứng tầm của tình yêu. Thế rồi, trong mức độ giới hạn của mình, người ta vẫn cứ yêu, yêu một cách méo mó, lệch lạc. Cái nguy lớn là những thứ tình yêu méo mó ấy ru ngủ, hoặc trói chặt con người. Con người tưởng rằng mình cũng biết yêu, để lâng lâng ca tụng tình yêu. Con người lao vào tình yêu méo mó, nhưng lại không đủ khả năng ra khỏi hoặc vươn lên trên tình yêu ấy…. Quả thật, trong cuộc sống hằng ngày, có quá nhiều thứ tình yêu bị biến chất làm cho con người bị lạc hướng trong khu rừng của tình yêu; và người ta có thể nói về tình yêu rằng : “rượu càng ngon thì dấm càng chua”; nghĩa là sự biến chất của một điều càng cao qúi bao nhiêu thì lại càng trở nên tệ hại bất nhiêu.

Thách đố lớn của con người là cuộc chiến giữa tình yêu và ích kỷ; nhưng ích kỷ như là một sự ghen ghét nhiều khi lại không nguy hiểm và không lớn cho bằng “ích kỷ trong tình yêu”, nghĩa là một thứ ích kỷ trá hình, nghĩa là một thứ “luân thường lai” như Kant nói, nghĩa là một thứ tình yêu chiếm hữu, đóng kín trong cái tôi của riêng mình. Hay có thể nói cách khác, ích kỷ không hẳn chỉ là không có tình yêu nhưng còn là một thứ tình yêu nửa vời, một thứ gian dối của tình yêu. Cái thứ “luân thường lai” của tình yêu làm cho người ta không thấy được bản chất sa-tan của chính mình, làm cho người ta luôn tự bào chữa cho chính mình, … mà thật ra đó chỉ là né tránh sự thôi thúc của đích thực của tình yêu, để an thân trong một thứ ích kỷ trá hình.

* Tình yêu, xa và gần

Chúng ta thử tiếp cận tình yêu dưới một khía cạnh : xa và gần; nghĩa là khía cạnh đối tượng của tình yêu. Vấn đề dặt ra là : Tình yêu đi từ cái chung đến cái riêng hay đi từ cái riêng đến cái chung ? Đó là một vấn đề rất thực tế mà cũng rất nan giải của cuộc sống hằng ngày. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta có thể thấy, người ta luôn luôn sa vào một lựa chọn để loại trừ. Khi tình yêu “gần” thì không thể “xa”, và ngược lại. Khi người ta yêu người thân của mình và không còn đủ năng lực để có thể cống hiến đúng mực cho những người ngoài vòng yêu thương của mình. Khi người ta muốn đi xa trong tình yêu, thì người ta lại không bao giờ có thể yêu hết mình một ai cả. Cái tình cảm tréo ngoe đó làm cho tình yêu của con người luôn luôn hé lộ một khiếm khuyết không thể vượt qua.

* Tình yêu, lý trí và tình cảm

Ta thử tiếp cận một khía cạnh khác của tình yêu con người, đó là xét đến những năng lực của chủ thể trong hành trình đi đến tình yêu. Ở đây, người ta thấy rằng cái tình cảm thì bao giờ cũng hướng tới một đối tượng cụ thể, không thể có cái tình cảm của một tình yêu chung chung, phổ quát. Ngược lại, cái nhận thức của lý trí thì, bình thường, lại nhằm tới đối tượng là sự phổ quát. Như thế, Khi người ta bị lôi cuốn bởi cái eros như một cơn “đam mê xuất thần”, thì thứ tình yêu ấy bất cần đến sự can thiệp của lý trí. Nhưng nếu người ta quá thiên về lý tri, yêu như là một thứ Philein, thì chính thứ tình yêu ấy lại chống đối lại tình yêu hy sinh mạng sống cho bạn hữu :

“Trong khi người Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do-thái hay Hy-lạp, Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người”.(1 Cr 1,22-25)

* Tình yêu, phong phú và triệt để

Ta thử tiếp cận một khía cạnh khác của tình yêu con người, khía cạnh phong phú và triệt để, nghĩa là xét đến khía cạnh tình cảm, đến chính con tim của chủ thể yêu. Ở đây, ta lại thấy rằng tính chất phong phú và triệt để là những tiêu chuẩn căn bản của tình yêu chân chính, nhưng hai tính chất ấy lại luôn đi ngược chiều nhau. Chúng ta có thể thấy là tình yêu thì luôn phải phong phú, tuôn trào, rộng mở. Bởi vì giới hạn của tình yêu là tình yêu không giới hạn; bởi vì tình yêu mà lại chấp nhận loại trừ một phần nào đó, loại trừ một ai đó, thì đó đã là điều gì có nguy cơ phản lại chính tình yêu. Tính chất phong phú của tình yêu có nghĩa là tình yêu càng cho đi thì càng mạnh mẽ; tình yêu càng chia sẻ cho nhiều người thì lại càng sung mãn và mãnh liệt.

Tính cách triệt để của tình yêu có nghĩa là tình yêu thôi thúc ta dâng trọn vẹn cả bản thân mình cho người mình yêu; tình yêu không phải là một sự tính toán chía phần con tim, để yêu người này một chút, yêu người kia một chút. Tình yêu của hai người với nhau, để đạt đến mức triệt để, cần phải thể hiện như sự dâng trọn vẹn bản thân cho nhau, trong suốt cuộc hành trình cuộc đời …

Tính chất phong phú đòi tình yêu phải có khả năng tuôn tràn đến những người khác. Tính chất triệt để lại đòi tình yêu phải dâng trọn cho một người, không còn lại gì cho ai khác nữa. Làm sao để có được tính chất “triệt để - phổ quát” nơi tình yêu con người ? Đó là một nan đề mà con người không dễ giải quyết được.

Trong cách nhìn của Kinh Thánh, chúng ta có thể nhận biết rằng, với tội lỗi, con người không còn có thể sống trọn vẹn “hình ảnh Thiên Chúa” nơi bản thân của mình được nữa. Con người được sáng tạo nên giống Thiên Chúa, nghĩa là con người được mời gọi để sống với Chúa. Nhưng khi không sống được trọn khao khát yêu thương khi sống với Chúa, con người ta bộc lộ khao khát yêu thương của mình thành những phản ứng nổi loạn : điều đó

- Giống như một người nhận tiền để mua nhà, nhưng vì chưa mua được nhà, nên tiêu xài vụn vặt hết tiền; cũng thế, vì con người không tìm thấy được một tình yêu chân thật, nên người ta sử dụng tình yêu vào những chuyện vớ vẩn, như yêu sự vật thay vì là yêu ai khác…

- Giống như một người nhận được một cây gậy để hái quả ngọt trên cây, nhưng vì không hái được quả, nên người đó dùng gậy đập phá lung tung; cũng thế, vì con người không tìm thấy được tình yêu chân thật, nên người ta “trả thù đời” bằng ghen tương, bằng lợi dụng, lừa đảo trong tình yêu…

- Giống như một người con, nhận được những món quà của mẹ như một bằng chứng về tình yêu, tình yêu dâng trọn bản thân cho đứa con, nhưng đứa con lại quá ham mê những món quà, quá ham mê hưởng thụ cho mình mà quên mất tình nghĩa, nên đòi hỏi thứ này điều kia; cũng thế, con người đón nhận được tình yêu để đi đến với tình yêu thương của ai khác, nhưng vì ham hưởng thụ, vì quá hời hợt, nên đứa con chỉ biết tìm cho mình những đồ vật.

*** Thật ra con người không thể đi trọn được con đường yêu thương… vì chẳng thể đi từ cái chung mà cũng chẳng thể đi từ cái riêng; chẳng thể vừa phong phú vừa triệt để; chẳng thể thống nhất trọn vẹn lý trí và tình cảm trong tình yêu. Tình yêu thôi thúc con người, như sóng dạt dào, nhưng là những ngọn sống “không có chân”, không có nền, nên cứ ào ạt rồi lịm tắt, cứ mãnh liệt nhưng rồi lại đuối sức để rồi chìm lắng…. Những tội ác phát xuất từ tình yêu, thật ra không phải là do chính tình yêu, nhưng là do từ những khiếm khuyết của tình yêu, những khuyết phạp trong mức độ yêu thương của con người.

Đức Benedicto XVI, Trong Thông Điệp Thiên Chúa là Tình Yêu, sau khi trình bày sự khác biệt giữa hai thứ tình yêu eros và agape, đã nói rằng :

“Nếu như người ta đưa việc đối kháng này đến mức triệt để, thì điểm đặc thù của Kitô giáo sẽ bị tách ra khỏi những liên hệ căn bản của cuộc sống con người, và trở thành một thế giới đặc biệt, người ta có thể nhìn ngắm một cách kinh ngạc, nhưng lại bị cắt lìa khỏi sự toàn diện của đời sống con người” (số 7)…

và “…trên căn bản, tình yêu là một thực tại duy nhất, nhưng lại có nhiều chiều kích khác nhau – tùy trường hợp, có thể chiều kích này nổi trội hơn chiều kích kia. Nhưng nơi nào cả hai chiều kích bị tách biệt nhau, thì sẽ xuất hiện một bức hý họa, hay có khi một hình thức què quặt của tình yêu” (số 8).

Nhận định ấy nhằm thống nhất mọi giá trị của tình yêu, nhưng qua đó, chúng ta cũng có thể thấy rằng, thật sự, chẳng mấy khi người ta có thể làm được sự thống nhất ấy; nghĩa là ta luôn thấy những hình thức què quặt của tình yêu con người.

2b. Tình yêu đến từ Thiên Chúa

* Đức Mến là nguyên lý sống cho đời sống đức tin

Đức Tin là cửa để đi vào thế giới niềm tin, nhưng chính đức Mến là nguồn sức sống cho đời sống ấy. Không có đức mến, đời sống tâm linh khó có thể vững bền và sâu sắc. Ngược lại, trong đức Mến của Thiên Chúa, người ta như tìm thấy nguyên lý sống, tìm thấy “lửa”, tìm thấy động lực, và tìm thấy niềm vui cho sống đạo để có thể đi dài trên hành trình đời sống thánh hiến. Nếu ta chỉ biết sống đức Cậy, nghĩa là đến với Chúa vì chính con người, vì thương con người mà ta cậy dựa vào Chúa, vì muốn xoa dịu những khổ đau của người nghèo,… thì ngay chính tính cách bấp bênh của tình thương con người với nhau có thể làm cho ta bị ru ngủ, khiến ta chỉ đạt được những giải pháp nửa mùa. Nẻo đường ấy làm cho cho đời sống tâm linh luôn thất thường, lúc hăng hái, lúc mệt mỏi, lúc chán nản, lúc an thân…; và sâu xa hơn, chính tình yêu của chúng ta đối với tha nhân cũng có nguy cơ trở thành một thứ “tình yêu lai”, tình yêu nhuốm đầy tính ích kỷ, quy ngã, hoặc chiếm hữu…

Trong niềm tin, chúng ta xác tín rằng : chính đức Mến đến từ Thiên Chúa, chứ không phải nguyên lý tình yêu của con người, có thể giúp con người đi trọn hành trình yêu thương. Nói đúng hơn, hai thứ tình thương ấy, với Chúa và với con người không loại trừ nhưng bổ túc cho nhau. Tất cả mọi thứ tình thương đích thực đều liên hệ mật thiết với nhau như một “vòng tròn của đức Mến”. Lòng yêu thương con người cũng xuất phát từ Chúa và thôi thúc ta tìm đến với tình thương trọn vẹn hơn ở nơi tình thương của Chúa; tình thương từ Chúa thì luôn phong phú và tuôn tràn đến với anh chị em của mình. Càng yêu thương anh chị em một cách trọn vẹn, người ta càng đi đến gần hơn với tình thương của Chúa; và càng đến gần tình yêu của Chúa, người ta càng được hun đúc thêm lửa mến trong tình thương với anh chị em của mình. Đó là điều ta có thể tạm gọi được là một thứ “tình tay ba”. Tình “tay ba” ở đây không phải là một tình huống éo le bi đát, nhưng như một dấu hiệu của sự phong phú trong tình yêu, một dấu hiệu cần thiết để nhận chân được tình yêu đích thực; đến nỗi ta có thể nhận ra đó là một nguyên tắc của đức Mến Kitô giáo.

Trong nguồn mạch của đức Mến đến từ Thiên Chúa Chúa, ta thử nhìn lại các thách đố của tình yêu như đã nêu trên.

* Tình yêu Thiên Chúa thanh lọc tình yêu con người

Nói như đức Benedicto XVI, tình yêu Kitô giáo không chống lại tình yêu Eros. Tình yêu Eros là một sự say đắm, khi mà lý trí bị xâm chiếm bởi một cơn “điên dại thần bí”. Nhưng tình yêu Eros cần phải được thanh luyện trong tình yêu Agape của Kitô giáo .

“Từ cái nhìn ngắn ngủi về hình ảnh của Eros trong lịch sử và trong hiện tại, chúng ta thấy có hai chiều kích rõ rệt. Chiều kích thứ nhất, tình yêu có liên hệ với Thiên linh : tình yêu hứa ban sự vô hạn, vĩnh cửu – sự cao cả và hoàn toàn khác với thực trạng hằng ngày của chúng ta. Đồng thời cũng cho thấy, con người, để đạt đến đó, không phải chỉ đơn thuần là tùng phục bản năng. Sự thanh luyện và trưởng thành rất cần thiểt, và các điều này phải kinh qua con đường từ bỏ. Đây không phải là phủ nhận, cũng không phải là “đầu độc” Eros, nhưng là chữa lành để đạt được sự cao cả thực sự của nó” (Số 5).

Nếu quả thật con người không thể đạt đến những chiều kích gần như trái ngược nhau của tình yêu chân chính : gần và xa; chung và riêng, phong phú và triệt để, thì con người lại cũng không được dừng lại ở một giải pháp nửa mùa nào. Đó lại là một tính cách khác, cũng là tính chất rất căn bản, của tình yêu con người : tình yêu thì phải luôn thăng tiến, vận hành vươn lên, nấu nung khao khát, âm thầm kêu gọi, thúc đẩy mạnh mẽ… Bỏ mất tính chất vận hành vươn lên thì ngay lập tức tình yêu con người bị biến chất. Ở đây có thể hiểu được một chút tính chất thanh lọc của Agape đối với Eros. Agape thanh lọc Eros bằng cách không ngừng thôi thúc để Eros không được an thân trong sự quy ngã, hưởng thụ của chính mình. Agape làm cho bước khởi đầu của tình yêu Eros được đi vào vận hành hướng tới tình yêu không giới hạn về mọi phương diện.

Thế giới vật chất, mặc dầu người ta nhìn thấy trong đó một sự chuyển động không ngừng, nhưng vẫn luôn là một sự chuyển động hướng tới chỗ trung hòa, luôn tìm về một sự “cân bằng” để ngừng nghỉ; trong khi đó, thế giới sinh vật thì lại có một sức mạnh nào đó có tính cách “khuấy động”, luôn được “hút lên” để vươn đến một trình độ cao hơn. Tuy nhiên, chỉ nơi con người, và đặc biệt trong tình yêu, con người như được mời gọi để vươn lên đến tuyệt đối trong chính mức độ giới hạn của bản thân. Chỉ tình yêu và chỉ tình yêu Agape từ Thiên Chúa mới giúp con người làm trọn được khát vọng sâu xa, khát vọng được mời gọi vươn lên mãi trong tình yêu thương.

* Tình yêu của Thiên Chúa, vừa gần vừa xa

Khi dấn thân vào lịch sử, Thiên Chúa không trực tiếp đến với mọi người, nhưng Ngài lại muốn dùng chính con người để đến với con người. Đường lối thể hiện tình yêu cứu độ của Thiên Chúa là chọn một người vì một dân, chọn một Dân vì mọi dân tộc khác… Cũng thế, Chúa chọn Giáo Hội vì nhân loại; và như thế, “con người là con đường của Giáo Hội” như đức Gioan Phaolô II nhiều lần nhắc nhở; rồi Chúa chọn mỗi người trong Giáo Hội là vì lợi ích chung của Giáo Hội cũng như lợi ích chung của nhân loại. Đó là ý nghĩa sâu xa của bản thân Giáo Hội, ý nghĩa của chức vu và tác vụ trong Giáo Hội, ý nghĩa của các đoàn sủng trong các dòng tu… Trong Giáo Hội không ai nhận được một ơn huệ nào cho riêng mình, những luôn là được lãnh nhận để biết cho đi… Hành trình của tình yêu của Chúa, xuyên qua những người “gần” để đến với những người ”xa”. Có lẽ Chúa chọn đường lối ấy cũng là chọn vì con người, chọn cho con người. Con người có thân xác và trước tiên liên hệ với thế giới bên ngoài, liên hệ với người khác qua thân xác của mình. Con người cần trước tiên yêu mến những người “thân cận” với mình. Tuy nhiên, đó không bao giờ có thể là con đường đóng kín hoặc giới hạn, mà phải là con đường thực sự chứ không phải pháo đài, nghĩa là có khả năng mở đến những người ở “xa”.

Như thế, mỗi người Kitô hữu được quyền coi mình là “môn đệ yêu dấu” của Chúa Giêsu, là người “ở gần”; nhưng cũng phải luôn hiểu ra là “môn đệ yêu dấu” là để chia sẻ tình yêu của Chúa cho anh chị em của mình, chứ không phải để hãnh diện hay vênh mặt lên với anh chị em của mình.

Như thế, trong chuơng trình cứu độ của Thiên Chúa, ta có thể khám phá ra hướng đi của đức Mến : Từ việc đón nhận Đấng Giêsu Kitô, để thấy được Ngài trong mọi người. Đường lối Thiên Chúa đi từ cái riêng đến cái chung; vì con người có thể xác, vì con người vốn yếu đuối tầm thường, vì đạo của Chúa mời gọi những người nghèo… Nhưng cái riêng ở đây lại là chính đức Giêsu và chỉ Đức Giêsu Kitô mà thôi; vì chỉ trong đức Giêsu Kitô, người ta mới có thể “nhìn thấy” Ngài trong anh chị em của mình được.

* Tình yêu nơi Thiên Chúa, luôn phong phú và triệt để

Nhìn lại trong Kinh Thánh, chúng ta có thể thấy một nét kỳ lạ của tình yêu, đó là “tình tay ba”. Đây không phải là tình tay ba của Hàn Quốc để làm cho tình yêu thêm rắc rối, để cả ba đều đau khổ, rồi cuối cùng một kẻ bị loại, hoặc một kẻ phải ra đi vĩnh viễn với cái chết tức tưởi. Mối tình tay ba trong Chúa là một sự phong phú của tình yêu, là sự ứa tràn của tình yêu để đến với nhân vật thứ ba.

+ Thứ nhất chúng ta nhận thấy tình yêu của Chúa Cha đối với Chúa con được tuôn tràn xuống các môn đệ :

“Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy”.(Ga 15,9; xc. Ga 6,40; 14,20; 15,16; 16,23; 16,25; 16,27; 20,21; 20,17; …)

+ Rồi chúng ta cũng thấy con đường Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ không phải là con đường đến với chính Ngài mà thôi, nhưng còn là con đường đến với Chúa Cha :

“Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người." (Ga 14,7; xc. Ga 6,65; 12,26, 14,2; 14,6; 14,9….)

+ Chúng ta thấy Chúa Thánh Thần như hoa trái phong phú của mối tình giữa Chúa Giêsu và các môn đệ.

“Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi”. (Ga 14,16; xc. Ga 14,26; 15,26; 16,15;…)

* Tình yêu của các môn đệ Chúa Giêsu với nhau không thể nào ra khỏi quy luật “tay ba” như thế :

“Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau ; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. (Ga 13,34; Ga 13,35; 15,12…)

* Cũng thế, trong hệ thống quản trị của Giáo Hội, Chúa Giêsu đòi hỏi Phêrô, muốn chăm sóc chiên, yêu mến Thầy; vì chỉ bằng tình yêu của Thầy, Phêrô mới có thể tận tình chăm sóc đoàn chiên :

“Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô : "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không ?" Ông đáp : "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giê-su nói với ông : "Hãy chăm sóc chiên con của Thầy." (Ga 21,15-17 tt)

Cũng thế, thái độ tha thứ của con người với nhau không phải là những nhân đức luân lý mà con người có thể cố tập cho được, nhưng cũng xuất phát từ chính sự tha thứ của Chúa cho chính mình…(Xc Mt 18, 21-30)

Do đó, trong đức Tin, chúng ta hiểu ra điều thiết yếu trong đời sống Giáo Hội, đó là một thứ quy trình “tình tay ba”, nghĩa là tình yêu vừa luôn luôn cụ thể đối với một ai khác, lại vừa luôn phải mở rộng hướng tới những người khác nữa. Tình yêu của chúng ta đối với Chúa, tình yêu của Chúa đối với ta, và tình yêu của chúng ta đối với nhau, đó là những chiều kích gắn liền vói nhau. Nếu tình yêu của chúng ta với Chúa mà không thể hiện ra nơi anh chị em của mình, thì, như thánh Gioan đã nói, đó là kẻ nói dối.

“Nếu ai nói : "Tôi yêu mến Thiên Chúa"

mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối ;

vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy,

thì không thể yêu mến Thiên Chúa

mà họ không trông thấy”. (1Ga 4,20)

Ngược lại nếu quên đi tình yêu của Chúa, chúng ta sẽ chỉ yêu thương một cách hạn hẹp và méo mó.

“Hỡi anh em là những người con bé nhỏ,

chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi,

nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm”. (1Ga 3,18)

Thiếu vắng tình yêu Thiên Chúa, người ta chỉ biết yêu những người thích hợp với mình; hoặc người ta không thể chấp nhận được nhau vì nhiều lý do hết sức chính đáng, và tình yêu bị thua cuộc trước sức mạnh của sự ghen ghét.… Những điều đó hoàn toàn không phải là nguyên lý của Tin Mừng Đức Giêsu Kitô.

* Tình yêu Thiên Chúa như chân trời mở rộng

Chiều kích tâm linh là chân trời rộng mở cho mọi điều thiện hảo trong cuộc sống con người. Không có chiều kích tâm linh, người ta không thể tha thứ mãi, không thể bác ái trọn vẹn, không thể tìm thấy một tiêu chuẩn vững bền cho mệnh lệnh luân lý, không thể sống trọn niềm tin vào con người… Chiều kích tâm linh thể hiện trong các tôn giáo. Thế nhưng, điều đặc biệt của Kitô giáo là đức Mến của Thiên Chúa; đức Mến như là động lực căn bản của hành trình tâm linh. Không có đức Mến, dù chân trời có mở rộng, con người vẫn không thể đi trọn được hành trình ấy. Trong chiều kích tâm linh, con người được mời gọi yêu thường người khác đến cùng, tha thứ đến cùng, sống trọn giới luật luân lý như một “yêu sách tuyệt đối”… nhưng dù nhận ra chân trời ấy, con người không dễ có thể đi được.

Chúng ta cũng có thể tìm thấy một nguyên tắc trong đời sống con người : muốn vượt lên khỏi cái xấu thì không thể chỉ dừng lại ở cái không xấu không tốt. Lựa chọn như thế sẽ làm cho con người “rớt lại” trong thế giới của cái xấu; vì bản thân của con người đã mang sẵn mầm mống của tội. Muốn tiêu diệt cái xấu thì phải vươn lên được cái tốt. Do đó, tình nghĩa con người với nhau cũng không thể vững vàng được nếu như không được nuôi dưỡng bằng tình yêu lớn lao, tình yêu vô điều kiện, tình yêu thứ tha, tình yêu hiến mạng sống vì bạn hữu…Tình yêu ấy không thể có ở đâu khác ngoài tình yêu của Thiên Chúa, thể hiện trong hiến tế của đức Giêsu Kitô.

Do đó, trong đời sống người tín hữu, trong đời sống cộng đoàn…nếu ta chưa yêu thương được thì hãy nhận ra sự yếu đuối của mình, mở lòng chờ đợi Chúa hoán cải tâm hồn chứ không bao giờ được bào chữa bằng cách kể tội chị em của mình. Dù với bất cứ lý do gì, những lý do rất đúng và rất thật, người môn đệ của Chúa không có quyền loại trừ anh chị em của mình, vì Chúa vẫn thương đến chính những người ấy, và vì Chúa vẫn mời gọi ta dấn bước hơn nữa trên con đường yêu thương.

Chính khi ta khao khát được yêu thương chị em của mình nhiều hơn, ta mới nhận thức được sự yếu kém của mình. Còn khi ta tìm được nhiều lý do để loại trừ, hoặc tìm cách ứng xử theo kiểu chọn mức độ trung bình, mức độ đúng đắn, mức độ phải phép nào đó, tức là ta từ chối đường lối tình yêu phong phú và triệt để của Chúa. Ngược lại, chính khi khao khát được nhập cuộc yêu thương bằng tình yêu của Chúa, ta mới biết mở lòng để cho tình yêu của Chúa thấm nhập và biến đổi con tim của mình.

2c. Đức Ái trong đời sống thánh hiến

* Gợi ý suy niệm

1. Sống trong đời sống thánh hiến, nhưng tôi có thực sự khao khát tình yêu của Chúa không ?

2. Tôi có thật lòng muốn yêu thương anh chị em của tôi trong cộng đoàn nhiều hơn không ?

* Gợi ý thực hành

1. Suy niệm đoạn văn Ga 15, 12-15

Chú thích:

[2] Xc. Thông Điệp Thiên Chúa là Tình Yêu của đức Benedicto XVI, số 4

Xem tiếp phần 3