Sứ Vụ Ngôn Sứ Hôm Nay - Phần 4

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Mikha sinh tại Moreset (1,14), một miềm đồi núi phía nam Juđa. Có lẽ vì quê hương bị tàn phá do cuộc xâm lăng của Assyria, nên ông lên Giêrusalem và hoạt động tại đó. Mikha sống cùng thời với Isaia và hai vị ngôn sứ có lẽ biết nhau.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Mi Kha, ngôn sứ của người nghèo

1. Tiểu sử

Mikha sinh tại Moreset (1,14), một miềm đồi núi phía nam Juđa. Có lẽ vì quê hương bị tàn phá do cuộc xâm lăng của Assyria, nên ông lên Giêrusalem và hoạt động tại đó. Mikha sống cùng thời với Isaia và hai vị ngôn sứ có lẽ biết nhau.

Thời đó, đế quốc Assyria hùng mạnh, đã tàn phá Israel năm 722-721 và công hãm Giêrusalem năm 701.

Sứ điệp của Mikha khá giống với các ngôn sứ khác,

- Thực thi công lý như Amos

- Yêu thích lòng nhân từ như Hôsê;

- Tin tưởng vào Giavê như Isaia.

Mikha trình bày sứ điệp dưới hình thức một cuộc xét xử của Giavê.

2. Ngôn sứ bênh vực người nghèo

Mikha cũng là một ngôn sứ tố cáo những bất công để bênh vực người nghèo như Amos. Ông tố cáo những thành phần có chức quyền và có tiền bạc, họ lợi dụng ưu thế của mình mà làm thiệt hại cho người nghèo :

- Ông tố các các ngôn sứ “công chức” vì sự lạc quan giả tạo của họ, có tính cách theo thời, và cả những mưu mẹo trục lợi của họ :

Mk 3,5-8 :

“ĐỨC CHÚA phán thế này

về các ngôn sứ đã làm cho dân tôi lầm lạc :

Khi răng chúng cắn được cái gì thì chúng hô : "Bình an",

còn khi không ai bỏ gì vào miệng chúng,

thì chúng lại mở cuộc thánh chiến tấn công họ.

Vì thế, các ngươi chỉ có đêm mà không có thị kiến,

chỉ có tối tăm mà không bói toán được gì.

Đối với các ngôn sứ, mặt trời sẽ lặn, và ngày sẽ ra tối tăm.

Các nhà chiêm thị sẽ xấu hổ, bọn bói toán sẽ bẽ mặt hổ ngươi,

tất cả bọn chúng phải che môi bịt miệng

vì Thiên Chúa không đáp lời.

Phần tôi, trái lại, nhờ thần khí của ĐỨC CHÚA,

tôi được đầy sức mạnh, công lý và can trường

để loan báo cho nhà Gia-cóp biết tội phản nghịch,

cho nhà Ít-ra-en biết tội lỗi của nó.

- Ông đau đớn tố cáo những gian lận, lừa đảo trong việc buôn bán

Mk 6,10-12 :

“Hỡi nòi gian ác, làm sao Ta chịu nổi

những của cải chiếm được bằng dối gian,

ê-pha thiếu hụt, xấu xa ghê tởm ?

Ta coi là liêm chính thế nào được

những bàn cân gian trá, những túi đựng các quả cân gian?

Hạng giàu có trong thành thì hung hãn,

còn dân thành lại quen ăn gian nói dối,

miệng hay nói lời lẽ gian tà.

Ồng chúc dữ cho những người chủ bóc lột tá điền

Mk 2,1-5 :

Khốn thay những kẻ nằm trên giường

toan tính chuyện xấu xa, lập mưu làm điều ác !

Vừa tảng sáng đã đem ra thực hiện

vì nắm sẵn quyền bính trong tay.

Muốn cánh đồng nào là chúng cướp lấy,

muốn ngôi nhà nào là chúng chiếm đoạt.

Chúng bắt giữ cả chủ lẫn nhà, cả người lẫn gia nghiệp.

Vì vậy, ĐỨC CHÚA phán như sau :

Ta toan tính giáng hoạ xuống gia tộc này

khiến các ngươi không rút cổ ra được,

cũng không thể ngẩng đầu bước đi, vì thời đó sẽ là thời tai hoạ.

Ngày ấy, người ta sẽ ngâm thơ chế giễu các ngươi,

sẽ cất lên bài ca than vãn : "Chúng tôi đã bị huỷ diệt hoàn toàn,

phần đất của dân tôi đã vào tay kẻ khác.

Than ôi, người ta lại tước đoạt của tôi,

và chia đồng ruộng của chúng tôi cho quân phản nghịch!"

Vì vậy, trong đại hội của ĐỨC CHÚA sẽ chẳng ai chăng dây chia phần cho ngươi.

- Ông tiên báo một cuộc tàn phá dành cho những kẻ bóc lột những con nợ không có khả năng chi trả :

Mk 2,8-10 :

“Các ngươi đã nổi lên như kẻ thù chống lại dân Ta,

các ngươi giựt áo choàng ra khỏi áo dài

của những kẻ trở về từ mặt trận

đang điềm nhiên đi đường.

Phụ nữ của dân Ta, các ngươi đuổi khỏi mái nhà thân yêu của họ.

Còn con cái họ, các ngươi đã vĩnh viễn lấy đi

niềm vinh dự Ta đã ban cho chúng.

Hãy chỗi dậy lên đường !

Đây không phải là chốn nghỉ ngơi,

vì ngươi ra ô uế, nên sẽ bị tiêu diệt,

một cuộc tiêu diệt vô cùng thảm khốc.

- Ông đe dọa các người lãnh đạo bóc lột người dân

Mk 3,1-12

3,1 Và tôi nói : Vậy hãy nghe đây,hỡi các thủ lãnh nhà Gia-cóp,

hỡi các tướng lãnh nhà Ít-ra-en, nhiệm vụ của các ông

há chẳng phải là thi hành công lý ?

Thế mà các ông lại ghét điều lành, ưa điều ác,

các ông lột da khỏi thân người ta và lóc thịt khỏi xương của họ.

Chúng ăn thịt dân tôi và lột da khỏi mình họ ;

xương của họ, chúng đập gãy tan.

Chúng chặt ra từng mảnh như thịt trong chảo, trong nồi.

Bấy giờ chúng kêu lên cùng ĐỨC CHÚA,

nhưng Người chẳng đáp lời.

Thời ấy, Người ngoảnh mặt làm ngơ

vì chúng đã làm điều gian ác.

………..)

Hãy nghe đây, hỡi các thủ lãnh nhà Gia-cóp,

hỡi các tướng lãnh nhà Ít-ra-en, là những kẻ ghê tởm công lý

và bẻ cong những gì ngay thẳng.

Các ngươi xây Xi-on bằng máu,

dựng Giê-ru-sa-lem bằng bất công.

Các thủ lãnh của nó xét xử dựa theo quà cáp,

các tư tế dạy bảo vì tiền, các ngôn sứ bói toán vì bạc.

Chúng ỷ vào ĐỨC CHÚA mà nói :

"ĐỨC CHÚA chẳng ở giữa chúng ta hay sao ?

Tai hoạ sẽ chẳng giáng xuống chúng ta đâu !"

Bởi vậy, chính vì các ngươi lầm lỗi

mà Xi-on sẽ thành ruộng cày,

Giê-ru-sa-lem nên chốn tan hoang,

và núi Đền Thờ hoá ra nơi cao rậm rạp.

và Mk 7,3 :

“Bàn tay chúng thạo làm điều ác :

thủ lãnh chuyên phiền hà, thẩm phán quen đòi quà hối lộ,

bậc trưởng thượng buông lời độc ác

luân thường đạo lý bị ngửa nghiêng ;

Như thế, ông cũng thực sự là một ngôn sứ bênh vực người nghèo như Amos.

3. Ngôn sứ của người nghèo

Tuy nhiên, có lẽ Mikha làm sáng lên một điều sâu xa hơn, theo cảm nhận của tôi, mà ta tạm gọi là “ngôn sứ của người nghèo”. Mikha còn nói tới thái độ khiêm nhường và trung tín bước đi theo đường lối của Giavê; đó là một thái độ của người nghèo, những người bé mọn trước nhan của Giavê. Mikha tuyên sấm về việc Giavê triệu tập số còn sót lại bằng những con chiên què, những người bị tan tác tha phương và không còn bám víu vào loài người.

3.1 Trước tiên, chúng ta thấy Mi kha tuyên báo số còn sót lại, tức những người được Giavê yêu thương và cứu thoát là những người bé mọn nhất, tầm thường nhất trong Dân, những người đau khổ :

“Ngày ấy - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA -

chiên nào què, Ta sẽ quy tụ lại,

chiên nào đi lạc xa hay bị Ta giáng hoạ, Ta sẽ tập hợp về.

Ta sẽ dùng chiên què làm số sót,

biến chiên đi lạc thành dân tộc hùng cường.

ĐỨC CHÚA sẽ cai trị chúng tại núi Xi-on

từ nay đến muôn đời muôn thuở.

Phần ngươi, hỡi Tháp của Đàn Chiên,

hỡi Đồi của con gái Xi-on,

vương quốc của con gái Giê-ru-sa-lem

và vương quyền thuở trước, sẽ lại trở về với ngươi.

Tại sao bây giờ ngươi lại kêu la ầm ĩ ?

Nơi ngươi nào chẳng có vua sao ?

Hay cố vấn của ngươi đã bị tiêu diệt

khiến ngươi phải quằn quại đau đớn

như người phụ nữ lúc sinh con ?

Hỡi con gái Xi-on, hãy đớn đau quằn quại,

hãy kêu la như phụ nữ lúc sinh con,

vì giờ đây, ngươi phải đi khỏi thành và ra đồng ruộng mà ở.

Ngươi phải đi đến tận Ba-by-lon

và tại đó ngươi sẽ được cứu thoát ;

ở đó ĐỨC CHÚA sẽ chuộc ngươi lại từ tay kẻ thù ngươi. (Mk 4, 6-10).

Đó là lời tuyên sấm của Chúa, lời tuyên sấm mang lại niềm hy vọng cho những người bé mọn nhất, những người không còn biết bám víu vào đâu để rồi đặt tất cả cuộc đời mình, tương lai của mình vào tay Thiên Chúa. Đám dân còn sót lại, theo sự chọn lựa của Chúa, chính là những người nghèo hèn nhất, những người bị loại ra bên lề của cuộc sống.

“Vì thế, Đức Chúa sẽ bỏ mặc Ít-ra-en

cho đến thời một phụ nữ sinh con.

Bấy giờ những anh em sống sót của người con đó

sẽ trở về với con cái Ít-ra-en.(…)

Bấy giờ giữa chư dân, số còn sót lại của nhà Gia-cóp

sẽ như sương ĐỨC CHÚA gửi đến,

như sương móc trên đám cỏ xanh.

Nó không cậy trông ở người thế,

chẳng mong chi nơi con cái loài người.(Mk 5,2.6)

Lời tuyên sấm của Mikha cho thấy nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa, đường lối của Thiên Chúa khác hẳn cách suy nghĩ bình thường của con người.

3.2 Dân bé mọn ấy, những con chiên què ấy, sẽ được Chúa triệu tập lại, cũng nhờ một đấng Mêsia xuẩt hiện ở một nơi nhỏ bé mà người ta không chờ đợi. Vâng, ngưòi thứ nhất trong sống còn sót lại ấy chính là một vị vua Messia, sinh ra tại thôn Bethlehem, một thôn nhỏ nhất trong các thành phố của Giuđa, thậm chí có nhiều lúc còn không được kể như một đơn vị hành chính.

“Phần ngươi, hỡi Bê-lem Ép-ra-tha,

ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa,

từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện

một vị có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en.

Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa.

Vì thế, Đức Chúa sẽ bỏ mặc Ít-ra-en

cho đến thời một phụ nữ sinh con.

Bấy giờ những anh em sống sót của người con đó

sẽ trở về với con cái Ít-ra-en.

Người sẽ dựa vào quyền lực ĐỨC CHÚA,

vào uy danh ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Người

mà đứng lên chăn dắt họ. Họ sẽ được an cư lạc nghiệp,

vì bấy giờ quyền lực Người sẽ trải rộng ra đến tận cùng cõi đất.

Chính Người sẽ đem lại hoà bình.

Khi Át-sua xâm nhập xứ sở và giày đạp đất nước chúng ta, chúng ta sẽ đặt bảy mục tử và tám thủ lãnh chống lại chúng.

Họ sẽ dùng gươm mà cai trị đất Át-sua,

lấy giáo mà cai trị xứ Nim-rốt.

Nhưng Người sẽ giải thoát chúng ta khỏi Át-sua

khi nó xâm nhập xứ sở, và giày xéo lãnh thổ chúng ta”. (Mk 5,1-5)

Ta biết rằng Bethlehem vẫn được coi là nơi nhỏ bé. Sách Giosuê, khi kể danh sách các thành của Giuđa, bản văn tiếng Hipri không kể đến Bethlehem, (Gs 15,58); chỉ có bản Hy lạp mới thêm vào. Thế nhưng, Ngôn sứ cho thấy, dù nhỏ bé như thế, nhưng Bethlehem lại có một nguồn gốc vững chắc “có từ thuở trước”. Có người cho rằng Mikha có ý nói đến gốc gác xa xưa của triều đại David… nhưng cùng có người hiểu về nguồn gốc thiên giới của Đấng Messiah. Dầu sao đi nữa, người ta thấy có thể chấp nhận nghĩa thứ hai, theo nghĩa sung mãn, để nói về nguồn gốc thiên giới.

Truyền thống Do Thái cũng như Kitô giáo đều đồng thanh giải thích lời Mikha trực tiếp chỉ Đấng cứu Thế, và chỉ có ý nghĩa ấy thôi :

“Họ trả lời : "Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng : 'Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời." (Mt 2,5-6).

3.3 Nhiệm cục cứu độ trong truyền thống Kinh Thánh

Điều Mikha tuyên sấm thực sự là một đường nét quan trọng trong nhiệm cục Cứu Độ của Thiên Chúa. Đạo Cứu Độ, đạo về một Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh em… được bộc lộ trong chiều hướng logích của tình yêu, đạo ấy được minh chứng trong chính đường lối cứu độ luôn dành ưu tiên cho những người nghèo, những người bé mọn. Thiên Chúa là Cha yêu thương, không tìm danh giá cho mình hay tìm xoa dịu tính tự ái của mình, nhưng tỏ tình yêu đặc biệt cho những đứa con bé mọn nhất, những người rớt vào những hoàn cảnh khó khăn nhất, cả về vật chất lẫn tinh thần.

Dnl 7,7:

ĐỨC CHÚA đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em, không phải vì anh em đông hơn mọi dân, thật ra anh em là dân nhỏ nhất trong các dân.

Is 29,19

Nhờ ĐỨC CHÚA, những kẻ hèn mọn sẽ ngày thêm phấn khởi,

và vì Đức Thánh của Ít-ra-en,

những người nghèo túng sẽ nhảy múa tưng bừng.

Is 66,2

Tất cả những vật ấy, chính tay Ta đã làm.

Tất cả những vật ấy đều là của Ta - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA.

Kẻ được Ta đoái nhìn : đó là người nghèo khổ,

người có tâm hồn tan nát, người nghe lời Ta mà run sợ.

Tv 116,6

Hằng gìn giữ những ai bé mọn,

tôi yếu đuối, Người đã cứu tôi.

3.4 Nơi cuộc đời và sứ vụ của Chúa Giêsu

Sứ vụ của Đức Giêsu rõ ràng là nhằm tới những người nghèo: Khởi đầu sứ vụ Chúa đã được đầy Thánh Thần để đi loan báo Tin Mừng cho những người nghèo {Lc 4,16,21}; đức Giêsu chỉ vui mừng một lần duy nhất khi nhận ra nhiệm cục cứu độ của Chúa Cha được thể hiện : “Ngay bấy giờ được Thánh Thần tác động, đức Giêsu hớn hở vui mừng và nói . . . “ {Lc10, 21}. Kiểu sống của Chúa Giêsu la lê la với những người nghèo. . . Ngài luôn bênh vực những người nghèo và xác định phẩm giá của người nghèo dựa vào lòng tôn trọng của chính tình thương của Chúa. Niềm vui mừng lớn nhất trong cuộc đời Chúa Giêsu chính là khám phá ra thánh ý yêu thương đặc biệt của Chúa Cha dành cho những người bé mọn nhất. Chúng ta tạm kể ra một vài đoạn trong Kinh Thánh :

Lc 10,21

Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng và nói : "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.

Mt 18,10 :

"Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này ; quả thật, Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.

Mc 9,42 :

"Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn.

Lc 14,13 :

Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù.

1 Cr 1, 26-31 :

26 Thưa anh em, anh em thử nghĩ lại xem : khi anh em được Chúa kêu gọi, thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái. 27 Song những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh ; 28 những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có, 29 hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người. 30 Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Đức Ki-tô Giê-su, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em, 31 hợp như lời đã chép rằng : Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa. 1 Cr 1, 26-31

4. Ngôn sứ của người nghèo trong thời đại hôm nay

4.1 Tôn trọng phẩm giá của người nghèo

Các triết gia lớn nhất của Hy Lạp, và cũng là của thế giới, như Platon và Aristote, đã không phân biệt được phẩm giá và tài năng. Một khi không phân biệt được phẩm giá và tài năng, người ta, hoặc sẽ rơi vào thái độ khinh thường những người có ít tài năng trong cuộc đời; hoặc là người ta muốn “cào bằng” tất cả, ăn đồng chia đều trong tất cả mọi công việc, dù đó là những công việc thực sự không thích hợp. Các triết gia Hy Lạp thấy rằng các người phụ nữ và người nô lệ có ít trí khôn, nên đương nhiên cũng phải là những người thấp kém trong đô thị. Ngược lại một số trào lưu xã hội lại muốn cào bằng bằng cách phân chia tất cả mọi người phải và được làm những công việc như nhau.

Chính Tin Mừng của Chúa Giêsu mới thật sự là nguồn mạch của phẩm giá con người, phẩm giá là-người cũng như phẩm giá làm-người. Chúa Giêsu cho thấy phẩm giá là-người của những kẻ bé mọn và khẳng định nền tảng của sự bình đẳng ấy được chuẩn nhận nơi chính Thiên Chúa :

Mt 18,10

"Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này ; quả thật, Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.

Chúa Giêsu cũng khẳng định phẩm giá làm-người khi cho biết điều quí trọng của đời sống con người không phải là một so sánh sự hơn thua bên ngoài, nhưng là sự sẵn sàng cho đi ít nhiều những gì thuộc về chính bản thân mình :

Lc 21,3-4 :

“Người liền nói : "Thầy bảo thật anh em : bà goá nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. 4 Quả vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào dâng cúng ; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình."

Tình yêu thương bộc lộ trong một sự tôn trọng phẩm giá con người không đương nhiên đồng nghĩa với làm việc bác ái hay từ thiện. Con người cần cơm ăn áo mặc, cần nhà cửa và nhiều phương tiện khác,… những trên hết con người cần được người khác đón nhận như một con người, cần được sống và chết như một con người, cần được là và được làm người, chứ không phải như một con vật hay như một món đồ chơi của kẻ khác.

Là ngôn sứ của người nghèo ngày hôm nay, trước tiên chính là làm sáng lên phẩm giá của một con người; và nhất làm sáng lên phẩm giá của người nghèo.

4.2 Sức mạnh của lời chứng của người nghèo

4.2.1. Nguyên lý mang lại sức sống cho Giáo Hội

Nếu trở lại lịch sử Giáo Hội, chúng ta sẽ nhận ra một sự khác biệt giữa các nguyên - lý -sống, xét như động lực làm sinh động sức sống của Giáo Hội, đó là sự khác biệt giữa : giáo huấn, làm gương, và làm chứng.

Trong ba trăm năm đầu của Giáo Hội, nguyên lý nuôi dưỡng đời sống đức tin Kitô giáo nằm trong lời chứng của các vị tử đạo, dù là giáo sĩ hay giáo dân. Thời đó, các vị tử đạo là những người được tôn trọng hơn hết, và lời chứng của các ngài cũng là nguồn động lực lớn lao nhất cho đời sống đức Tin Kitô giáo. Qủa thật, so với sức mạnh của quyền lực trần thế, các vị tử đạo là những con người nhỏ bé, yếu đuối, “trần trụi”, thua cuộc. Nhưng những con người yếu đuối ấy lại dám đương đầu một cách hiên ngang với một sức mạnh có thể tiêu diệt bản thân mình. Hành vi chấp nhận hy sinh mạng sống thể hiện được một lòng can đảm kỳ diệu, và là lời chứng mạnh mẽ nhất về quyền năng của Thiên Chúa. Đó không phải là sự cam đảm của bản thân các vị tử đạo có khả năng bảo vệ đức Tin; đó không phải là sự “cao cả” của một nhân đức luân lý (can đảm) có khả năng che chở cho nguyên lý siêu nhiên (đức Tin); đó cũng không phải là sức mạnh của nhân đức luân lý có khả năng khơi nguồn cho một mạch sống phong phú như một gương sáng cho người khác noi theo. Ngược lại, chính nhờ đức Tin, những con người yếu đuối có thể trở nên can đảm; chính quyền năng của Thiên Chúa đã biến những con người vốn yếu đuối mỏng giòn trở thành những con người mạnh mẽ phi thường.

“Nhờ đó, Cha kiện toàn sức mạnh nơi những con người mỏng giòn, và tăng sinh lực cho những người yếu đuối, để họ làm chứng cho Cha” (Kinh Tiền Tụng lễ các Thánh Tử Đạo)

Như thế, cội nguồn sức mạnh trong hành vi tử đạo chính là quyền năng đầy tình yêu thương của Thiên Chúa chứ không phải đức độ của con người; nguồn sức sống lan tràn và làm sinh động cho sự sống của Giáo Hội chính là Thiên Chúa trong tác động siêu nhiên của Ngài chứ không phải nhân đức luân lý như một mẫu gương hoặc như một bài học. Nguyên lý cứu độ Kitô giáo không phải chỉ tác động đến con người như một giáo huấn tri thức soi sáng trí khôn, không phải chỉ như một gương sáng có khả năng khơi dậy ý chí; nhưng chính là ân sủng siêu nhiên có khả năng biến đổi toàn diện con người, mà rốt cùng vẫn quy về nguyên lý của tình yêu. Chính tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện như một sự liên đới, hiệp thông cụ thể của Chúa Giêsu với vị tử đạo đã làm nên lòng can đảm phi thường của các ngài, và cũng chính tình yêu ấy trở nên như một nguyên lý sống căn bản cho sự sống kitô giáo trong lòng Giáo Hội. Điều gì là cứu cánh thì cũng là nguyên lý và điều gì là nguyên lý thì cũng là cứu cánh. Nếu cứu cánh của cuộc đời các vị tử đạo là được sống bên Chúa, thì nguyên lý làm cho các ngài trở thành chứng nhân của Chúa cũng chỉ có thể là tình yêu thương của Chúa. Điều đó cũng đúng cho tất cả bước hành trình của Giáo Hội.

4.2.2 Những chuyển biến

Khi Giáo Hội thoát khỏi được thời kỳ bị bắt hại, thì nguyên lý mang lại sức sống trong đời sống Giáo Hội cũng đổi khác. Các giáo sĩ khẳng định quyền và uy thế của mình trong Giáo Hội; quyền và uy thế đó bộc lộ, dĩ nhiên trong việc quản trị, những sâu xa hơn trong chức năng giáo huấn. Giáo huấn luôn là một trong những yếu tố quan trọng của đời sống đức Tin Kitô giáo, những không phải là nguyên lý sống căn bản; vì Kitô giáo không phải là một học thuyết, những là một sự sống. Nếu lấy nguyên lý giáo huấn là nguyên lý chính yếu, chúng ta rơi vào não trạng của người Hy Lạp. Đối với người Hy Lạp, thần thánh không thể là những ý muốn “trái chứng trở trời”, nhưng phải là những gì biểu lộ một trật tự. Dần dần thần thánh được đồng hóa với quy luật, và nhiệm vụ chính yếu của con người không phải là tương giao theo phương thức thờ phượng, nhưng là hiểu biết. Do đó, chính các triết gia mới là nhân vật quan trọng nhất trong xã hội của người Hy Lạp. Hiểu biết là yếu tố quan trọng nhất trong việc hoán cải một con người; và Socrate đã có thể phát biểu rằng : không ai là người gian ác cố tình. Người ta gian ác chỉ vì không hiểu biết; và nhiệm vụ chính yếu của các triết gia Hy Lạp là giúp con người tìm được sự hiểu biết quy luật, tức hiểu biết thần thánh, để có thể sống theo thần thánh.

Trong truyền thống Do Thái Kitô giáo, tội lỗi không phải chỉ là một sự thiếu hiểu biết, mà là sự cắt đứt một tương quan. Từ đó, tội lỗi làm xáo trộn con người, và con người chỉ có thể tìm lại được “trật tự” trong bản thân mình khi nối lại được mối tương quan căn bản nhất, tương quan thân tình với Chúa. Thánh Phaolô nói rằng : “Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu : vì điều tôi muốn (nghĩa là tôi biết điều đó là tốt), thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét (nghĩa là tôi biết điều đó là xấu), thì tôi lại cứ làm”. (Rm 7,15).

Nếu nhìn vào đời sống của Giáo Hội, chúng ta thấy vẫn có những cảm nghĩ theo kiểu người cha mắng đứa con : “tao đã giải nghĩa cho mày mọi nguy cơ của ma túy rồi, tại sao mày lại cứ hút hít”, thì chúng ta có thể hiểu được đời sống Kitô giáo đã không còn bắt mạch vào đúng nguồn của sức sống Kitô giáo.

Đồng thời, cũng vào lúc Giáo Hội không còn những chứng tá của các vị tử đạo nữa, thì vào thế kỷ thứ IV, xuất hiện các tu sĩ. Tu sĩ là những người có một đời sống, nói chung, có thể trở nên gương mẫu cho các thành phần khác trong Giáo Hội. Quả thật, qua dòng lịch sử Giáo Hội, sự hiện dịen và đời sống người tu sĩ là một đóng góp quan trọng cho sức sống của Giáo Hội. Tuy nhiên, một cách chung chung, đời sống tu sĩ được thể hiện như gương mẫu cao cả cho người tín hữu. Gương sáng luôn là điều cần thiết, nhưng vẫn không phải là nguyên lý căn bản của sức sống Kitô giáo. Nếp sống nhà tu thường khác biệt hẳn với nếp sống chung của người tín hữu, nên dễ tạo nên tình trạng “kính nhi viễn chi”. Đó là tình trạng người tín hữu thật lòng kính phục đời sống tu sĩ thánh thiện, những không cảm nhận được gia tăng thêm lòng trông cậy. Gương sáng soi chiếu giống như ngọn đèn chiếu thẳng vào mắt và người đi đường bị chói mắt chứ không thấy rõ hơn bước đường của chính mình; trong khi làm chứng lại giống như một ngọn đèn chiếu đằng sau để cho những người đang mê lầm tìm được đường đi trong thế giới mịt mù. Người ta kính phục đời sống của người đi tu chứ không dễ nhận ra dấu vết tình thương của Thiên Chúa. Nếu sự hiện diện, hoặc đức độ của người tu sĩ, chỉ lôi kéo được những người tín hữu “khá đạo đức” hoặc qui tụ được một số thành phần ưu tuyển, thì ta có thể đoán được tác động của người tu sĩ mới chỉ nằm trong mức độ làm gương.

4.2.3. Đâu là nguyên lý sống của Giáo Hội hiện nay ?

Hình như từ sau thời kỳ bị bắt hại, sức sống của Giáo Hội không còn mạnh mẽ nữa, vì không còn tác động của “làm chứng”. “Giáo huấn” và “làm gương” tỏ bày tài năng của nhân đức của con người. Giáo huấn và làm gương làm cho người ta thấy rõ được nhân vật này, đấng bậc kia. Trong khi đó, “làm chứng” lại có khả năng làm sáng lên chính quyền năng và tình yêu thương của Chúa. Người Kitô hữu làm chứng về ơn cứu độ của Thiên Chúa, hoặc trở nên như “ánh sáng trần gian”, như “men”, như “muối” phải thực sự làm sáng lên tác động cứu độ của Thiên Chúa chứ không phải đức độ của người này người kia. Một cách nào đó, ơn cứu độ của Thiên Chúa chỉ có thể sáng lên như ánh sáng nơi tối tăm, nghĩa là trong sự yếu đuối và tầm thường của người làm chứng. Chính nhờ đó, tác dụng của “làm chứng” có thể giúp cho người khác, đặc biệt là những người sống trong “bóng tối” được thêm niềm trông cậy và xác tín vào quyền năng của Chúa. Có lẽ chúng ta nên đọc lại bản văn của thánh Phaolô trong thư thứ hai Corintho :

“Và để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Xa-tan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại. Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này. Nhưng Người quả quyết với tôi : "Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối." Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Ki-tô ở mãi trong tôi. Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Ki-tô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh”. (2 Cr 12, 7-10)

* Trở về với truyền thống : ơn cứu độ cho người nghèo.

Sức mạnh của “làm chứng” có thể tìm thấy ở đâu trong Giáo Hội hiện nay ? Tôi nghĩ rằng ta có thể tìm thấy nơi chính người nghèo, những người nghèo cả về thể chất và tinh thần, cả trong năng lực và đức độ, những người nghèo được cứu độ. Thật sự ra, “giáo huấn” và “gương sáng”, trong nền tảng của Kitô giáo, ưu tiên hơn hết, cũng phải là “lời chứng” một cách nào đó. Giáo huấn thể hiện chức năng “lời chúng” khi chính giáo huấn ấy được trải ra một quá trình được Lời Chúa cật vấn, khi giáo huấn bộc lộ một sự đảo ngược lối nhìn, khi người rao giảng nghiệm ra được một lần “à ra thế !” đối với đường lối của chính Thiên Chúa. Chính trong ý nghĩa đó mà thánh Thomas nói được rằng : tôi học được dưới chân Thánh Giá nhiều hơn trong sách vở. Cũng thế, gương sáng thể hiện chức nang “lời chứng” khi đời sống luân lý ấy thực sự là một sự chiến thắng của quyền năng cứu độ trên bản tính yếu đuối mỏng giòn của con người. Tóm lại, giáo huấn và gương sáng chỉ có thể làm lời chứng trong và qua cái “nghèo”, cái “bé mọn” của chính mình.

Tuy nhiên, trong dòng lịch sử Giáo Hội, ở một tầm mức toàn diện hơn, chính những người “nghèo”, người tội lỗi sám hối… mới thực sự là những người có khả năng làm sống lại một niềm tin vào quyền năng Chúa và tạo nên động lực sống cho Giáo Hội. Ta có thể khẳng định đó là “quy luật” Kitô giáo, hiện nay và mãi mãi, vì đó chính là đường nét căn bản của lịch sử ơn cứu độ.

Trong hiện tình Giáo Hội, người nghèo chưa có “chỗ đứng” trong Giáo Hội. Giáo Hội vẫn bộc lộ trong rất nhiểu đường nét, từ tư tưởng cho đến quản trị, từ tu đức cho đến mục vụ… là giáo hội của những con chiên ngoan, hoặc giáo hội của những người có khả năng hiểu biết một cách nào đó. Sinh hoạt của Giáo Hội, bộc lộ sức sống của Giáo Hội, nói chung, vẫn có tính cách “từ trên xuống” và rất ít những mối tương tác của sự sống đức Tin trong sự hiệp thông “chiều ngang”, hoặc “từ dưới lên “. Người nghèo, người bé mọn trong Giáo Hội vẫn là những người lãnh nhận chứ không phải là người được “đóng góp” sự hiện diện của mình như một nét đặc trưng của Giáo Hội Chúa Kitô, và đóng góp chứng tá của mình như một căn tính đặc trưng của lịch sử ơn Cứu Độ Kitô giáo.

Làm ngôn sứ của người nghèo, ngôn sứ về phẩm giá người nghèo, cũng phải là ngôn sứ về quyền năng cứu độ của Thiên Chúa nơi người nghèo.

Chú thích:

[10] Điều này hơi giống như điều chúng ta đã thấy trong hành trình của thánh Vinh Sơn, đi từ một thứ “linh đạo cho người nghèo” đến một thứ “linh đạo của người nghèo”

Xem lại Phần 3

Xem tiếp Phần 5