Cảm Thức Chung Minh Họa Quá Trình Phát Triển Nhận Thức Tự Nhiên Của Con Người Theo Quan Điểm Của Bernard Lonergan (P2)

Sau hai cuộc thế chiến, con người băn khoăn đi tìm ý nghĩa cuộc sống hay ý nghĩa của hiện hữu của chính bản thân mình. Chiều kích hiện sinh chi phối toàn bộ nền triết học lúc ấy. Bên cạnh đó, với việc khám phá ra chuỗi ADN năm 1952 và nhiều phát minh khoa học khác, chủ nghĩa khoa học thực nghiệm cũng dần chi phối não trạng của con người. Dường như khoa học thực nghiệm chiếm vị trí quan trọng trong việc truy tìm chân lý. Ít nhiều các trường phái triết học cũng bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa duy khoa học và chủ nghĩa khoa học thực nghiệm. Đối với nhiều triết gia thuộc trường phái này, việc truy tìm chân lý phải đưa ra những kết quả rõ ràng, chính xác như trong toán học hay chân lý phải được kiểm chứng như trong các ngành khoa học thực nghiệm.

Luận văn tốt nghiệp chương trình Dự Bị và Triết Học

Tại Học Viện Thánh Giuse – Dòng Tên Việt Nam

Học viên thực hiện: Giuse Nguyễn Thế Anh, S.J.

Giáo sư hướng dẫn: Giuse Vũ Uyên Thi, S.J.

Tháng 03 năm 2020

Tương quan với khoa học thực nghiệm:

Cũng như khoa học, cảm thức chung cũng tạo nên những trực quan và là một phần của tri thức con người. Cũng có sự tích lũy, tăng trưởng để đạt đến những trực quan cao hơn. Tuy thế, những trực quan của cảm thức chung vẫn có các điểm khác với trực quan của các ngành khoa học thực nghiệm.

Đầu tiên, cả cảm thức chung và khoa học đều có chung một cách thức hay một phương pháp để đạt được trực quan. Quá trình tự hiệu chỉnh trong khoa học và cảm thức chung cùng khởi đi từ những trực giác hay việc đặt những nghi vấn cho những vấn đề hay hiện tượng trong tự nhiên cũng như trong xã hội. Sau đó phát triển thành những câu hỏi, những tìm tòi, những giả thuyết để có thể giải đáp được những nghi vấn đó. Và cuối cùng đạt được trực quan. Tuy thế, sự phát triển và tự sửa lỗi của cảm thức chung không đưa đến một định đề hay một khái niệm mang tính phổ quát như trong khoa học. Do đó, cùng một tiến trình phát triển nhưng cảm thức chung không giống như khoa học vì chỉ đề cập đến tri thức trong bối cảnh cụ thể và đặc thù mà thôi:

Không giống như khoa học, cảm thức chung là dạng tri thức riêng đặc thù trong những trường hợp cụ thể. Chúng không mang tính phổ quát vì bao gồm một tập hợp những trực quan vẫn còn dang dở cho đến khi có thêm ít nhất một trực quan cao hơn (further insight) được thêm vào; một khi trực quan cao hơn được thêm vào thì lại không còn phù hợp, do đó, cảm thức chung ngay lập tức trở lại đến trạng thái chưa kiện toàn của nó.[57]

Do vậy, tuy cảm thức chung và khoa học cùng khởi đi từ những vấn đề, những trường hợp cụ thể trong cuộc sống, nhưng cảm thức chung không xây dựng cho mình một hệ thống vững chắc, những khái niệm phổ quát và không mang tính phương pháp hay lý thuyết (theory). Sự chắn chắn hay tính tri thức thuần túy nơi cảm thức chung không được đề cao. Vì bị tác động và ảnh hưởng bởi tính chủ quan nơi chủ thể nên không có một cơ chế để xác thực hay khách quan hóa các trực quan của cảm thức chung. Lonergan phần nào miêu tả cụ thể hơn đặc điểm này của cảm thức chung: “có một loại tri thức với một phương pháp khác với kĩ thuật logic. Đó là cảm thức chung, và ai trong chúng ta cũng có chúng. Mặc dù có sự khác biệt về cảm thức chung từ tầng lớp này đến tầng lớp khác, nền văn hóa này đến nền văn hóa khác hay từ công việc này đến công việc khác, nhưng cảm thức chung đủ là điểm chung cho mọi người.”[58] Ngược lại, những trực quan trong khoa học thực nghiệm toán học thì lại đưa ra những định lý, những định đề để từ đó phát triển theo hướng diễn dịch những tiền đề để đạt được những tri thức khách quan, phổ quát và được kiểm chứng nơi mọi người. “Đó là tri thức là kết quả minh nhiên đến từ nỗ lực có phương pháp, để đạt đến kiến thức vì chính kiến thức, mà không chú ý đến bất kỳ lợi ích thực tiễn nào có thể phát sinh từ chúng.”[59] Chẳng hạn như sự phát triển của toán học, ban đầu con người chưa tìm ra được ứng dụng của chúng, nhưng sau đó con người mới biết áp dụng những tiến bộ trong toán học đến phát sinh ra nhưng lợi ích thực tiễn trong cuộc sống.

Nhà toán học và nhà khoa học quan tâm đến chính kiến thức lý thuyết đặc thù, trong khi những người khác chuyên về áp dụng những kiến thức vào cuộc sống thực tiễn. Tuy nhiên, mọi người phải tự gánh vác cuộc sống của mình; tất cả mọi người phải liên tục đương đầu với những con người những tình huống cụ thể. Đó là một kiến thức phát sinh trong bối cảnh sống toàn cầu và bối cảnh đó quyết định giới hạn của sự hiểu biết này.[60] Do vậy, khoa học cần cảm thức chung, vì một mình khoa học thì chưa đủ để làm cho tri thức trở nên trọn vẹn: “khoa học cần phương pháp để đạt đến đối tượng trừu tượng và phổ quát; nhưng các nhà khoa học cũng cần cảm thức chung để áp dụng các phương pháp đúng đắn trong thực thi các nhiệm vụ cụ thể của các nghiên cứu cụ thể, như các nhà logic học cần cảm thức chung nếu họ muốn năm được ý nghĩa đằng sau hành vi ngôn ngữ của con người.”[61]

Hơn nữa, ở khía cạnh nào đó, cảm thức chung cũng bổ sung cho cái biết của khoa học:

Các câu hỏi của cảm thức chung và trực quan nảy sinh từ việc đi vào các tình huống rõ ràng, cụ thể, duy nhất, mà ở đó chúng ta như là chủ thể của cảm thức chung tham dự và hướng về chúng trong cuộc sống của chúng ta. Trong khi những trực quan của khoa học liên quan đến các mối quan hệ trong dữ liệu theo nghĩa độc lập với bất kỳ cá nhân nào liên quan đến chúng, những trực quan của cảm thức chung trực tiếp đưa ta đến với những tình huống đó.[62]

Tri thức con người không chỉ là tri thức thuần túy mang tính khoa học. Những tri thức được xác định rõ ràng và được biểu hiện qua các con số, các công thức có giá trị phổ quát như tri thức của toán học hay các ngành khoa học thực nghiệm. Bên cạnh đó, tri thức còn có những mảng khác vượt qua khỏi những gì là thường hằng bất biến, phổ quát. Chúng đi vào từng chi tiết của cuộc sống mà nơi đó không một con số hay một công thức nào có thể biểu diễn được. Tri thức đó là tri thức thực hành, tri thức của cảm thức chung. Một mặt tri thức là chắc chắn là hệ thống, nhưng một mặt tri thức cũng mang nghĩa linh hoạt; linh động. Sự phát triển của khoa học không tách rời với sự phát triển của cảm thức chung. Cả hai có những tách biệt, khác nhau nhưng cùng hỗ trợ và cùng phát triển mang lại sự phát triển cho tri thức con người.

Tóm lại, cảm thức chung là kết quả của tiến trình tích lũy các trực quan để đạt đến sự hiểu biết cao hơn (higher viewpoints). Đó là sự phát triển của con người xét theo mối liên hệ với những sự vật khác và với vật được liên kết, phát triển trong môi trường cũng như cấu trúc của xã hội.[63] Tri thức con người được khởi đi từ chính những cảm thức chung – những tri thức trong thực hành. Đó là việc kinh nghiệm để hiểu biết những vấn đề đang tồn tại trong cuộc sống và giải quyết những vấn đề ấy theo cách tự nhiên mang lại lợi ích chung cho cộng đồng. Nói cách khác, lịch sử tri thức con người bắt đầu hình thành từ những kinh nghiệm cụ thể trong cuộc sống, những tri thức thực hành. Những tri thức là một phần của cuộc sống mang lại cho con người cái nhìn tự nhiên về chính thế giới với giác quan tự nhiên của mình. Bên cạnh tri thức khoa học vẫn còn loại tri thức thực hành. Tri thức này gắn bó với từng hoạt động trong đời sống thường nhật. Tuy thế, chúng lại không được áp dụng phổ quát hay công thức hóa. Đó là những nền tảng cho việc phát triển những quy tắc phổ quát trong khoa học. Có thể nói cảm thức chung là nền tảng, là bước đầu trong quá trình nhận thức. Chúng khởi đi những gì là căn bản, gắn liền với cuộc sống, gắn liền với những kinh nghiệm thường nghiệm của con người. Sau đó, những nhà khoa học mới cố gắng khái quát chúng để tạo nên những khái niệm phổ quát và trở nên những tri thức khách quan. Sự phát triển của cảm thức chung phần nào cũng là sự phát triển của tri thức cách tự nhiên của con người. Cảm thức chung được hình thành và phát triển trước tiên nơi chủ thể trong mối tương quan với các sự vật (đối tượng) khác và cảm thức chung cũng tạo ra sự phát triển nơi sự vật (đối tượng) ở trong mối liên hệ với chúng ta.[64]

Chủ thể kinh nghiệm điểm khởi cho quá trình hình thành cảm thức chung

Tiến trình nhận thức, đặc biệt tri thức thực hành là sự tích lũy trực quan mang tính chủ quan nơi chủ thể nhận thức. Cái trực quan của chủ thể được khởi xuất, tích lũy và phát triển trong thế giới quan của chủ thể. Do đó, chủ thể chính là điểm khởi để phát sinh và phát triển cảm thức chung. Bước đầu, sự phát triển của cảm thức chung cũng là sự phát triển tri thức nơi chủ thể. Tuy nhiên, mỗi người cũng đều thay đổi và phát triển vì thế, chính bản thân của cảm thức chung cũng đã bị thay đổi theo chủ thể.

“Chủ thể của cảm thức chung lại là bối cảnh của chủ thể.”[65] Do đó, có thể phần nào sự hình thành cảm thức chung được khởi xuất từ sự hiểu biết từ cái nhìn chủ quan của chính chủ thể. Dần dà cái nhìn chủ quan đó được khách quan hóa dần dà để tạo ra những trực quan khách quan trong cộng đồng. Để hiểu được sự phát triển của cảm thức chung nơi chủ thể phải hiểu được điều gì đã cấu thành nên chính chủ thể. Theo Lonergan, đó chính là mẫu thức hay khuôn mẫu của kinh nghiệm (pattern of experience). Vậy mẫu thức kinh nghiệm là gì? Và đâu là đặc điểm đặc biệt trong cách hiểu của Lonergan về mẫu thức kinh nghiệm? Mẫu thức kinh nghiệm có đóng góp gì cho sự phát triển của cảm thức chung.

Mẫu thức kinh nghiệm nơi chủ thể:

Lonergan nhấn mạnh đến kinh nghiệm là điểm khởi của tiến trình nhận thức: “xuất phát từ kinh nghiệm, từ những sự vật khả giác mà con người đạt đến căn nguyên hữu hình của tri thức con người.”[66] Con người được khuôn mẫu lên bởi những kinh nghiệm, điều đó khuôn đúc nên sự hiểu biết của con người. Hơn nữa, kiểu hiểu biết quyết định nên chính bản thân mỗi người. Do thế, hoạt động chủ thể kinh nghiệm cũng là hoạt động con người tự tạo nên chính bản thân mình (self-making). Khác với con vật, con người không chỉ kinh nghiệm, giác quan để duy trì sự sống, nhưng còn là sống có phẩm giá, một sự phát triển trọn vẹn của trong cuộc sống con người.

Với Lonergan, cách hiểu kinh nghiệm cũng có thể khác so với nhiều các tác giả khác. Ông không bàn bạc đến kinh nghiệm của giác quan, nhưng đề cập đến mẫu thức kinh nghiệm – điều gì làm nền tảng cho quá trình nhận thức trong kinh nghiệm của con người. Khái niệm này có thể được hiểu thông qua hay tiếp cận qua sự trừu tượng của giác quan (sensation):

Khái niệm mẫu thức kinh nghiệm có thể tiếp cận cách tốt nhất khi ta nhận thấy thật trừu tượng khi nói về giác quan. Không còn nghi ngờ gì nữa, tất cả chúng ta đều quen thuộc với các hành vi nhìn thấy, nghe, chạm, nếm, ngửi. Tuy nhiên, những hành động như vậy không bao giờ xảy ra cách độc lập với các sự kiện khác. Trái lại, chúng có chung một nền tảng; chúng có chức năng liên quan đến các việc chuyển động nói chung; và chúng xảy ra trong một vài bối cảnh năng động cách này cách khác thống nhất các nội dung đa tạp của giác quan và các hành vi giác quan.[67]

Theo quan điểm của Lonergan, kinh nghiệm không chỉ dừng lại ở những giác quan hay cảm giác (impression) nhưng còn mở ra trong khía cạnh ý thức (consciousness) là điều kiện cho kinh nghiệm có thể xảy ra. “Kinh nghiệm được hiểu theo nghĩa là ý hướng tính ý thức trong các cấp độ và dòng chảy của ý thức.”[68] Như thế, phần nào Lonergan đã phủ nhận triết thuyết duy nghiệm khi giới hạn tri thức con người chỉ giới hạn trong giác quan và cảm giác.[69] Theo Michael Vertin, có hai chiều kích của kinh nghiệm: chiều kích nội tại và chiều kích ngoại tại.[70] Chiều kích ngoại tại hướng đến các cơ quan tiếp nhận cảm giác để tạo nên những hình ảnh hay giác ảnh (phantasms). Đó là bước đầu hiểu biết về sự vật và gồm cả hiểu biết về chủ thể khác. Trong chiều kích nội tại hay chiều kích ý thức bao gồm những hành động ý thức ẩn phía sau. Chiều kích này là khởi đầu cho việc ý thức những hành động của mình, ý thức mình như một chủ thể kinh nghiệm. Đây là bước đầu trong quá trình nhận thức bản thân hay ý thức được chính mình.

Vì thế, kinh nghiệm, không phải là kinh nghiệm của giác quan, nhưng là những gì là toàn bộ con người như là chủ thể. Đó là con người của kinh nghiệm, nhưng không chỉ là kinh nghiệm của các cơ quan cảm giác, nhưng là dữ liệu của kinh nghiệm (data of experience).[71] Dữ liệu kinh nghiệm chỉ cung cấp cho con người những dữ liệu cảm quan (data of sense), nhưng chủ thể còn được đẩy đến dữ liệu của ý thức (data of consciousness). “Dữ liệu ý thức được nảy sinh trong sự tỉnh thức (awareness) hay ý thức về những hoạt động trí năng cũng như sự ý thức về chủ thể của các hoạt động này. Con người có thể trở nên ý thức về những hoạt động của hiểu biết, cảm xúc cũng như những hoạt động của giác quan.”[72] Hay nói cách khác, mẫu thức kinh nghiệm chính là ý thức của con người. Kinh nghiệm của con người khác với các sinh vật khác cho dẫu cũng có những cơ quan cảm giác tương tự. Nhưng con người có ý thức và ý hướng trong kinh nghiệm của mình. Do vậy, ở đây ta không đề cập đến dữ liệu cảm quan của kinh nghiệm, nhưng đề cập đến ý hướng hay ý thức hay điều kiện hoặc mẫu thức để có được những kinh nghiệm.[73]

Mẫu thức kinh nghiệm được miêu tả trong sự liên hệ như là một thành phần trong cái tổng thể như trong quá trình hình thành trực quan. Kinh nghiệm không là kinh nghiệm giác quan không phải riêng lẻ, nhưng đó là một dòng chảy kinh nghiệm được định hướng bởi ý thức được đặt trong bối cảnh cụ thể: “khi đã được bổ sung bởi những ký ức và kéo dài bởi những hành động tưởng tượng đoán trước, dòng cảm giác trở thành dòng nhận thức. Đó là dòng chảy nhận thức mà chúng ta ý thức.”[74]

Mẫu thức kinh nghiệm của mỗi người được phân biệt bởi những thúc đẩy khác nhau đến từ nội tại của con người. Những thúc đẩy ấy làm cho con người ý thức về chính kinh nghiệm mình sẽ thủ đắc. Nhưng ý thức của con người thì đa diện. Một người có thể nói rằng, không chỉ một dòng ý thức, nhưng có một nguyên lý nền tảng cấu thành trong ý thức và được điều khiển bởi ý muốn, quyền lợi, sở thích và chú tâm.[75] Mẫu thức điều khiển quá trình nhận thức nhưng lại bị chi phối bởi các quá trình sàng lọc của hệ thần kinh: “Các nhu cầu của các mẫu thức và các tiến trình thần kinh (neural) hướng tới việc kiểm soát và chọn lựa, chúng được gọi là sự vận hành của nhu cầu (demand functions). Sự vận hành này sẽ tìm một vài tâm lý tiêu biểu (psychic) và liên hội ý thức, nhưng các yêu cầu cụ thể của chúng có thể được đáp ứng trong nhiều cách thức khác nhau.”[76]

Hơn nữa, Lonergan cho rằng kinh nghiệm mỗi người thì khác nhau vì những nhu cầu và sở thích khác nhau của từng người:

Sự khác biệt giữa dòng tri giác của một người so với người khác được tìm thấy trong mẫu thức của sở thích (interests) và mục tiêu (objectives), trong khao khát và sợ hãi, điều nhấn mạnh các yếu tố và khía cạnh của trình bày khả giác, làm phong phú chúng với các liên tưởng (associations) và kí ức, dự phóng của cá nhân, và đưa chúng vào các tiến trình (courses) tương lai của các hoạt động có thể mang lại hoa trái.[77]

Như thế, các kinh nghiệm phần nào đã được ý thức chọn lọc trước, những kinh nghiệm những dữ liệu cảm quan nào được ý thức thì mới trở nên dữ liệu kinh nghiệm. Có một cơ chế chọn lọc xảy ra trước khi các cơ quan cảm giác thâu nhận dữ liệu cảm quan. Cơ chế này được định hướng hay giới hạn bởi “ước muốn, sở thích, ý hướng và chủ đích của con người.”[78] Đó cũng làm nên sự đa dạng trong nhận thức của chủ thể này với các chủ thể nhận thức khác. William A. Matthew cũng đồng tình với quan điểm này khi cho rằng: “ý thức của con người được cấu thành bởi những điều kiện của cơ thể, và bị chi phối bởi những “ước muốn”, chính những ước muốn này là khuôn mẫu cho những kinh nghiệm.”[79]

Kinh nghiệm của chủ thể khởi đi từ ý thức của chủ thể. Lonergan phân biệt nhiều mẫu thức kinh nghiệm khác nhau. Những mẫu thức này phụ thuộc vào cách con người ý thức hay quan tâm bị chi phối bởi những luồng ý thức hay những bận tâm của chủ thể về chúng.

Những mẫu thức kinh nghiệm khác nhau

Mỗi kinh nghiệm mang tính cá vị và chủ quan vì mỗi người được tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau, có các mẫu thức kinh nghiệm khác nhau, có ý thức cũng như sở thích hay bận tâm khác nhau. Với Lonergan, có nhiều loại kinh nghiệm, mỗi loại kinh nghiệm ấy được định hướng bởi những bận tâm hay luồng ý thức về chúng. Tuy chia ra thành các kinh nghiệm nhưng không có nghĩa là có một kinh nghiệm nào đó là tinh tuyền chúng được trộn lẫn, chuyển đổi và thậm chí là xung đột với nhau: “ý thức của con người là đa hình. Các mẫu thức kinh nghiệm có thể mang tính sinh học, nghệ thuật, thẩm mỹ, trí tuệ, thực hành và huyền bí. Các mẫu thức này xen lẫn; pha trộn hay trộn lẫn; hoặc có thể can thiệp, xung đột và thậm chí làm cho con người định hướng sai hoặc đổ vỡ trong nhận thức.”[80] Ta thử đi tìm hiểu ba mẫu thức kinh nghiệm và xem đâu là điều cấu thành nên chủ thể và phát triển cảm thức chung trong chủ thể kinh nghiệm.

Đầu tiên, Lonergan chú tâm vào phân tích mẫu thức sinh học của kinh nghiệm: “mẫu thức là một tập hợp các mối quan hệ khả tri (intelligible), liên kết các chuỗi cảm giác, ký ức, hình ảnh, quan niệm, cảm xúc và chuyển động cơ thể với nhau; và việc gọi tên mẫu thức sinh học đơn thuần là để khẳng định rằng những chuỗi liên kết này quy về các hoạt động hấp thụ và sản sinh sau cùng, hoặc nói trong phạm vi tiêu cực là sự tự bảo tồn.”[81] Mẫu thức sinh học của kinh nghiệm bận tâm đến nhu cầu tồn tại hay duy trì nòi giống của các sinh vật. Tất cả hoạt động này chi phối đến những kinh nghiệm cũng như những trực quan của loài. Nói khác đi, yếu tố ngoại tại tác động lên ý thức của chủ thể, chủ thể không ý thức đến những yếu tố nội tại nhưng bị định hướng bởi những điều kiện và những thay đổi ngoại tại.[82]

Tiếp đến, mẫu thức tri thức (intellectual) của kinh nghiệm. Con người là động vật bậc cao, do đó, những kinh nghiệm của con người không chỉ gói gọn trong kinh nghiệm của sinh học với những nhu cầu hay bận tâm về cái ăn, cái ở, hay chỉ dừng lại ở chuyện sinh tồn hoặc duy trì nòi giống. Theo Aristotle, con người là động vật khao khát được hiểu biết. Do đó, ngoài mẫu thức sinh học, kinh nghiệm còn có mẫu thức tri thức hay trí tuệ. Mẫu thức này bị tri phối bởi tinh thần ham tìm kiếm hay học hỏi của con người trên khía cạnh lý thuyết.[83] Con người đam mê khi đi tìm sự hiểu biết, nghiên cứu những vấn nạn hay những bí ẩn trong cuộc sống dưới nhãn quan của khoa học. Vẫn có những dòng ý thức để tìm kiếm những điều mới để thỏa lòng khao khát hiểu biết của con người. Mẫu thức này một phần bị chi phối bởi: “năng khiếu tự nhiên, trong khi đào tạo, phát triển theo độ tuổi, trong những cảnh huống ngoại tại, khi có cơ hội đối mặt với một vấn đề và cung cấp ít nhất là cơ hội gián đoạn (intermittent) để giải quyết vấn đề.”[84] Mẫu thức này không chỉ bị chi phối bởi năng lực nội tại nơi chủ thể, nhưng phần nào cũng chịu tác động của môi trường môi trường sống và nhiều yếu tố ngoại tại khác.

Cuối cùng là mẫu thức kịch nghệ (dramatic)[85] của kinh nghiệm. Mẫu thức kinh nghiệm này đề cập đến kinh nghiệm cuộc sống hằng ngày (ordinary living) của chủ thể với khía cạnh tương quan với người khác xét như là một hữu thể hiện sinh.[86] Do đó, mẫu thức này cấu thành nên con người trong cách đối nhân xử thể, trong sự tương quan hài hòa giữa chính mình và với người khác. Những quan tâm chi phối mẫu thức này là làm cách nào có thể sống tốt, hài hòa với người khác và đạt được cuộc sống hạnh phúc ngang qua việc đưa ra một quyết định và thực thi quyết định ấy hay sống quyết định ấy.

Với Lonergan, cuộc sống hằng ngày thì đầy ắp những cung bậc cảm xúc khác nhau. Khi đó, con người có “khả năng của sự giải phóng có tính mỹ thuật và sự sáng tạo nghệ thuật. Cuộc sống chính là nghệ thuật. Không như toán học, con người không thể tìm được lời giải chính xác và minh bạch cho các vấn đề trong cuộc sống của mình, trong nghĩa nào đấy, cuộc sống của mỗi người là một nghệ phẩm và con người chính là nghệ sĩ cho tác phẩm ấy.”[87] Nếu không có kinh nghiệm kịch nghệ, nếu không có cảm xúc thì con người chẳng khác nào một cỗ máy. Kinh nghiệm kịch nghệ khiến cho cuộc sống con người thêm phần sinh động, đáng sống, có chút kịch tính, có chút bay bổng, lãng mạn nhưng không kém phần lý tính:

Con người không chỉ có khả năng tự do thẩm mỹ và sáng tạo nghệ thuật mà tác phẩm đầu tiên của con người chính là cuộc sống của anh ta. Ta cần nhận ra chính nơi cơ thể và hành động của anh ta sự đẹp đẽ, quý giá và đáng ngưỡng mộ cần phải được tôn vinh trước tiên, rồi sau đó mới tính đến những tác phẩm hội họa, điêu khắc, âm nhạc và thơ ca họa lại chính cuộc sống ấy. Cái giá trị, phong cách ấy phải được tôn vinh nơi con người trước hết, sau đó mới là nơi các sản phẩm nghệ thuật.[88]

Bên cạnh đó, con người là động vật có xã hội tính, những tương quan chi phối cuộc sống của mình. Con người cũng bận tâm đến việc làm sao sống tốt trong tương quan với người khác. “Con người hình thành và tạo lập được cuộc sống kịch nghệ của mình với những đóng góp cá nhân và những đóng góp ấy thành hình lên cuộc sống cá nhân của con người.”[89] Do vậy, mẫu thức kịch nghệ thì tìm đến phẩm giá của mình, là kinh nghiệm để sống và biến cuộc đời mình thành một nghệ phẩm. Mẫu thức này là mẫu thức quan trọng trong việc hình thành cảm thức chung. Chúng mẫu thức kinh nghiệm của hành động, giải quyết những vấn đề cụ thể trong cuộc sống trong tương quan hài hòa với người khác.

Cảm thức chung được hình thành đầu tiên nơi chính chủ thể. Mẫu thức kinh nghiệm kịch nghệ làm cho con người có ý thức đi tìm kiếm những giải pháp cách tự nhiên để giải quyết những vấn nạn trong cuộc sống. Theo thuyết nhận thức của Lonergan, tri thức xuất phát từ chính kinh nghiệm nơi chủ thể. Điều đó tương đồng với cảm thức chung, xuất phát từ những hành động và việc làm cụ thể trong cuộc sống.

Các cộng đồng – hoa trái của sự phát triển cảm thức chung

Quá trình hiểu biết (knowing) của con người không chỉ giới hạn trong sự hiểu biết của cá nhân, nhưng còn mở rộng ra với tri thức của cả cộng đồng nhân loại.[90] Chính sự phát triển tri thức đã làm cho xã hội phát triển. Khi đó, con người có những tương quan mới, trong một thế giới mới: “thế giới đó là cộng đồng, là xã hội của chủ thể, nơi ấy hình thành lên những hoàn cảnh tương quan của cá nhân cũng như trong nhóm. Chủ thể liên hệ nhiều cách với thế giới qua kinh nghiệm, qua cảm xúc hay sự tự phát, ý thức và đạo đức.”[91]

Bước đầu, trực quan của cảm thức chung được hình thành từng nơi cá thể. Nhưng với những tương quan trong xã hội, cảm thức chung của chủ thể có thể tác động hoặc bị tác động bởi cảm thức chung của chủ thể khác. Cảm thức chung lúc này phải được kiểm chứng nơi cộng đồng, khi đó cảm thức chung trở thành cảm thức chung nơi cộng đồng. Nói khác đi, cảm thức chung được hình thành nơi chủ thể kinh nghiệm sau đó chúng được phát triển trong cộng đồng nguyên thủy với tính liên chủ thể tự phát. Sự hình thành cảm thức chung cũng minh họa cho bước thứ nhất của nhận thức: kinh nghiệm. Kế đến, sự phát triển của cảm thức chung dẫn đến sự hình thành của xã hội dân sự, hay đó là sự “khái niệm hóa” cảm thức chung, đây được xem là bước thứ hai của quá trình nhận thức: sự hiểu biết. Đến đây, ta cùng xét hai thành quả trong sự phát triển cảm thức chung: tính liên chủ thể và tính xã hội.

Tính liên chủ thể trong cộng đồng nguyên thủy

Lonergan khẳng định rằng: “Cộng đồng nguyên thủy đã có tính liên chủ thể (intersubjectivity).”[92] Trong xã hội nguyên thủy, con người đã có những tương quan rất căn bản để có thể tồn tại. Con người không là một đơn tử (monad) tách rời với các đơn tử khác theo cách hiểu của Leibniz. Nhưng con người là một động vật có xã hội tính, là loài vật có tương quan. Con người chỉ có thể sống còn là nhờ các mối tương quan trong xã hội với tư cách là “thành viên của một bầy, một tổ, có chức năng và phụ thuộc lẫn nhau.”[93] Có những tương quan tri phối tiến trình nhận thức của cá nhân, do vậy con người dường như không có một tri thức thuần túy (pure intelligence), nhưng ít nhiều chịu tác động bởi yếu tố liên chủ thể.

Đầu tiên, con người bị ảnh hưởng bởi những tương quan trong gia đình. Trong gia đình có truyền thống có lịch sử của dòng họ, có những “gia quy” những chuẩn mực đạo đức riêng của mỗi dòng họ. Trong gia đình, con người có các tương quan căn bản nhất trong xã hội. Đó là “Sợi dây nối kết mẹ với con thơ, vợ với chồng, cha với con đi vào quá khứ của tổ tiên, mang lại ý nghĩa và sự gắn với bộ tộc, bộ lạc và quốc gia.”[94] Tiếp đến, con người bị ảnh hưởng bởi làng xã, đất nước trải dài trong truyền thống cũng như trong chiều dài lịch sử của quốc gia, mỗi người là một phần của lịch sử của xã hội, có vai trò trong việc hình thành tính liên chủ thể trong cộng đồng. Từ đó hình thành tính liên chủ thể không chỉ giới hạn trong gia đình, bộ tộc, quốc gia mà còn có thể mở rộng trong cả lịch sử nhân loại. Mỗi gia đình, bộ tộc hay quốc gia đều có những tiêu chuẩn riêng trong việc hành xử và phát triển cảm thức chung trong cộng đồng.

Từ sự liên kết này, có thể con người có những kinh nghiệm, phán đoán và hành động tương đồng với nhau, điều đó thể hiện tính “tự phát” (spontaneous) trong mỗi cộng đồng. Do đó, có sự cộng hưởng trong những tương quan trong cộng đồng: “các liên kết của liên chủ thể, làm cho kinh nghiệm của mỗi người cộng hưởng với kinh nghiệm của người khác; ngoài sự chia sẻ cơ bản này, còn có các hoạt động hướng đến hướng đến việc hiểu và nhấn mạnh cách hành xử thông minh, điều tạo ra và bổ sung cách cư xử, cam kết chung.”[95] Từ chính sự cộng hưởng này, tính liên chủ thể dường như là sợi dây liên kết mọi người để mọi người có cùng chung một số kinh nghiệm: vui mừng, buồn đau, thống khổ… của người khác trong cộng đồng. “Cái cảm thức thuộc về một nhóm đưa ra một tiền đề năng động cho những công việc chung, cho sự giúp đỡ lẫn nhau, cho sự đồng cảm để chia ngọt sẻ bùi với nhau.”[96] Đó là những cảm thức chung mang chiều kích nhóm hay cộng đồng.

Sự phát triển của cảm thức chung phải đưa đến một lợi ích cụ thể nào đó.[97] khi cảm thức chung không phù hợp với tiêu chuẩn khách quan hóa của cộng đồng, chúng sẽ bị loại ra khỏi cộng đồng và không trở thành điểm chung trong cộng đồng. Đối với Lonergan, con người gắn bó với cộng đồng liên chủ thể thông qua sự nhạy của (sensitivity), tính liên chủ thể, tính tự phát, hoặc tính liên chủ thể tự phát của con người.[98] Đó là cách cư xử cơ bản nhất của một con người bình thường, chúng mang tính bộc phát và tự nhiên và phần nhiều mang yếu tố cảm xúc trong quyết định. Tuy nhiên, cách cư xử bình thường đó phải mang đến cái tốt: “một mẫu thức khả tri về các mối quan hệ tạo điều kiện cho việc kiện toàn các mong muốn của mỗi người bằng những đóng góp của anh ta để thực hiện những ước muốn của người khác và bảo vệ mỗi người khỏi những nỗi sợ hãi của riêng họ theo cách mà họ đóng góp cho việc giúp người khác xua đuổi những đối tượng người khác sợ hãi.”[99] Do đó, sự tốt lành là đối tượng của khao khát (object of desire) là sự hài hòa trong cộng đồng là tiêu chuẩn và là kết quả của sự phát triển hài hoà cảm thức chung.

Hơn thế, sự trật tự đó phải là thành tựu của bốn cấp độ. Khởi đầu từ bởi sự lượng định các kinh nghiệm chung, hoặc một lịch sử chung mà các thành viên có thể nói và nghĩ với nhau. Cộng đồng được đưa ra bởi các hình mẫu và thức thông qua việc hiểu biết và phán đoán chung như là sự tán thành ý nghĩa nơi các kinh nghiệm chung. Và cộng đồng tiến đến hiệu quả qua những cam kết để tìm kiếm một lợi ích chung.[100] Lúc này, cộng đồng không chỉ là tập hợp những cá thể sống gần, tập trung lại với nhau, giới hạn trong một không gian địa lý. Cộng đồng là “sự đạt được ý nghĩa chung”, ý nghĩa chung này đã được hình thành từ những thế hệ trước trong lịch sử, và đạt sự thành toàn chung này có thể là ngôn ngữ, tôn giáo, văn hóa, xã hội, kinh tế…[101] Hơn thế, “một cộng đồng được khởi từ sự kết hợp các chức năng cấu thành và giao tiếp của ý nghĩa. Đường biên của chúng được đánh dấu bởi những kinh nghiệm, hiểu biết và phán đoán chung.”[102] Sự phát triển của cảm thức chung dẫn đến việc tách rời con người ra khỏi tính “tự nhiên” trong các tương quan và thiết lập nên một chuỗi những chiều kích tương quan mới.[103]

Cảm thức chung phát xuất nơi chủ thể và được khách quan hóa trong cộng đồng và tạo nên tính liên chủ thể tác động ngược lại lên chủ thể. Ngay trong cộng đồng liên chủ thể này đã có sự phát triển của cảm thức chung từ kinh nghiệm của cá nhân thành những kinh nghiệm chung, phán đoán chung của một nhóm. Tuy thế, nó vẫn thể hiện tính tự phát hay là tính “cảm xúc” tự nhiên nơi liên chủ thể tính.[104] Không dừng lại ở cộng đồng nguyên thủy, cảm thức chung tiếp tục được “cơ chế hóa” hay cộng đồng nguyên thủy được mang những chiều kích mới trong tương quan với một xã hội dân sự, nghĩa là có tổ chức và có cơ cấu hay thể chế.

Từ cộng đồng nguyên thủy đến cộng đồng dân sự

Với sự phát triển của cảm thức chung, con người không chỉ dừng lại ở xã hội nguyên thủy tương quan với người khác trong tính liên chủ thể. Hơn thế, có những phát kiến dựa trên nền tảng của cảm thức chung, từ đó hình thành nên cộng đồng dân sự. Con người thuộc về thế giới của cộng đồng dân sự nơi ấy có các cơ chế về kinh tế, luật pháp, chính trị. Ban đầu, tri thức thực hành phát triển tạo nên những công nghệ hay công cụ lao động, từ đó thúc đẩy sự phát triển về kinh tế, và kéo theo là sự ra đời pháp luật, chính trị và thể chế nhà nước. Sự phát triển của cảm thức chung cũng hòng phục vụ cho một xã hội phát triển trong trật tự.[105] Điều con người muốn đạt đến lúc này nơi cảm thức chung là sự phát triển cuộc của sống trong một xã hội ổn định.

Chính cảm thức chung là nguyên tố dẫn đến bước chuyển từ xã hội nguyên thủy sang xã hội dân sự. Cộng đồng dân sự là thành quả của tri thức thực hành được chuyển hóa vào trong cuộc sống con người. Cộng đồng dân sự tích hợp những cải tiến mới của công nghệ và kinh tế trong sự phân công lao động.[106] Con người được kết nối với cộng đồng dân sự chủ yếu thông qua sự hiểu biết liên quan đến các vấn nạn và những gì đang xảy ra trong cuộc sống của cộng đồng.[107] Nói khác đi, sự phát triển của cảm thức chung đã đưa đến những cơ chế hay định thức cho xã hội.

Như trong bài giảng “The Role” giả thiết, tính liên chủ thể, cộng đồng dân sự và văn hóa không hề khác biệt về mặt địa lý hay riêng biết, nhưng chúng giống như các cấp độ khác nhau trong cùng một cộng đồng.[108] Theo Lonergan, lịch sử phát triển của loài người của loài người hệ tại ở việc mở rộng các ý tưởng nơi cảm thức chung. Có một chu trình tái diễn nhưng dưới tác động của con người trong việc hình thành cơ chế xã hội. Đầu tiên, có sự tích lũy cảm thức chung từ hoạt động thường nhật. Cảm thức chung thúc đẩy những phát triển công nghệ, điều thúc đẩy kinh tế và dẫn theo đến những thay đổi trong cơ cấu chính trị. Từ những sự thay đổi này sẽ dấn đến việc phát triển cảm thức chung. Chu trình lại tiếp tục tái diễn không có điểm dừng và tiếp tục tác động để cảm thức chung phát triển. Lonergan viết: “khi các phát kiến được tích lũy, chúng đặt ra các vấn đề và nảy sinh các phát kiến khác. Các phát kiến mới bổ sung và cải thiện các phát kiến cũ, để bộc lộ những khả năng mới và cuối cùng, để lần lượt đưa ra một chuỗi những hiểu biết cao hơn về cơ học và công nghệ, đánh dấu sự tiến bộ trong tiến trình phát triển vật chất của con người.”[109]

Theo dòng lịch sử nhân loại, sự phát triển của xã hội là kết quả của sự phát triển tri thức nơi cảm thức chung. Xã hội dân sự là kết quả của trật tự xã hội mang tính tri thức của cảm thức chung và xã hội nguyên thủy là sản phẩm của tính liên chủ thể tự phát.[110] Từ những tri thức thực hành liên quan đến đời sống trong xã hội nguyên thủy, cam thức chung đã được cụ thể hóa ngang qua sự phát triển của công nghệ, tổ chức nhà nước. Đó là sự phát triển tri thức rất tự nhiên nơi lịch sử con người. Sự phát triển cảm thức chung này minh họa cho quá trình nhận thức mà năng động theo ba bước đã nêu lên ở trên. Xuất phát từ những vấn đề cụ thể mà con người bận tâm trong cuộc sống, con người cố gắng gọi tên hay “khái niệm” hóa những vấn đề ấy. Từ trực quan ở chiều kích kinh nghiệm, có sự phát triển tự nhiên để đến những trực quan cao hơn ở chiều kích tri thức, hay sự hiểu biết. Một mặt khi con người sống trong một xã hội có thể chế, nền văn minh nhân loại đã có một tiến đáng kể. Nhưng mặt khác, những thành tựu ấy cũng đã làm cho con người ngày càng xa xã hội nguyên thủy, xa với cách thức tự nhiên trong hành xử của con người và con người ngày càng có nhiều tương quan phức tạp khác. Vì thế, có tương quan căng thẳng nhưng cũng chính là những năng động trong quá trình phát triển của cảm thức chung.

Những căng thẳng trong việc phát triển cảm thức chung

Có hai năng động cũng là những căng thẳng trong cộng đồng. Lonergan không sử dụng từ căng thẳng theo nghĩa tiêu cực, nhưng đó là yếu tố then chốt của sự phát triển. Phát triển cần có sự căng thẳng giữa giới hạn hiện tại và sự vượt lên của giới hạn đó để tạo nên những thành quả mới.[111] Ngay trong chính chủ với tính liên chủ thể nhận thức đã có sự căng thẳng và hơn nữa cũng có sự căng thẳng khi xét đến quan hệ của tính liên chủ thể ấy trong tương quan với những phát triển của cảm thức chung để thành những cơ chế xã hội mới.

Trong chủ thể, có hai yếu tố dẫn đến sự căng thẳng này: ý thức cũng như những gì nằm sâu trong tầng vô thức của con người. Trong chủ thể và đặc biệt trong mẫu thức kịch nghệ kinh nghiệm, Lonergan dùng một hình ảnh mang tính ẩn dụ, trong nhà hát, con người không chỉ yêu mến ánh sáng, nhưng còn thích bóng tối, vì cả ánh sáng và bóng tối đều mang lại cho cuộc sống sự kịch tính trong đó.[112]

Kế đến, sự năng động và căng thẳng trong cộng đồng tạo ra sự phát triển trong xã hội. Noi xã hội nguyên thủy thể hiện tính liên chủ thể tự phát, cái tốt đơn giản là đối tượng của sự khát khao, nhưng trong xã hội dân sự, cái tốt là cái được diễn tả trong trật tự của xã hội. Dường như đó cũng là tiêu chuẩn khách quan nơi cảm thức chung để khách quan hóa các trực quan nơi chủ thể kinh nghiệm. Tuy thế, sự nổi lên của xã hội dân sự vẫn không hủy bỏ tính liên chủ thể của xã hội nguyên thủy, vì “cả hai tính chất liên chủ thể và xã hội trật tự tri thức đều có nền tảng bên trong chính con người.”[113] Chính hai yếu tố ấy cũng là nguyên nhân dẫn đến căng thẳng trong cộng đồng, cả hai đều có những đặc điểm và những khuynh hướng khác nhau, nhưng cùng được phú bẩm trong bản tính con người.[114] Một mặt, cảm thức chung phát triển và tạo nên hình thức cộng đồng dân sự. Nhưng một mặt cộng đồng dân sự vẫn không tách rời khỏi tính liên chủ thể tự phát nơi con người.

Những căng thẳng này tạo ra những cặp biện chứng. Với Lonergan, phép biện chứng có bốn đặc điểm: (1) Có sự hội tụ của các sự kiện nơi một đặc tính đã xác định; (2) những sự kiện này có thể được truy hồi bởi cả hai nguyên lý; (3) Những nguyên lý là đối nghịch nhưng bao hàm lẫn nhau; (4) Những nguyên lý này được sửa chữa bởi những thay đổi là kết quả được rút ra từ chúng.[115] Các cặp biện chứng này đối lập nhưng được kết nối cách sống còn, vì vậy những thay đổi tổng thể mà chúng tác động sẽ được xác định bởi tỷ lệ của sự cân bằng.[116] Nếu tương quan biện chứng giữa các cặp hài hòa thì sẽ tạo nên sự phát triển ngay cả trong cá nhân và cộng đồng. Ngược lại, nếu các cặp phát triển không hài hòa sẽ dấn đến tình trạng thoái hồi trong sự hiểu biết nơi cảm thức chung.

Nguồn:https://sjjs.edu.vn/

>>Đọc Phần 1<< >>Đọc Phần 3<<

[57] Lonergan, Insight, 175.

[58] Lonergan, Understanding and Being, 94.

[59] Lonergan, Understanding and Being, 94.

[60] cf. Lonergan, Understanding and Being, 86.

[61] Lonergan, Insight, 179.

[62] William A. Mathews, Lonergan’s Quest, 330.

[63] cf. Charles Onyango Oduke, S.J., “Lonergan’s Notion of Cosmopolis: a Study of a Higher Viewpoint and a Creative Framework for Engaging Individual and Social “Biases” with Special Relevance to Socio-Political Challenges of Kenya and the Continent of Africa” (PhD diss., Boston College, Boston, 2005), 126.

[64] Lonergan, Insight, 242.

[65] William A. Mathews, Lonergan’s Quest, 330.

[66] cf. Lonergan, Understand and Being, 161-169.

[67] Lonergan, Insight, 181.

[68] Elizabeth A. Murray, “Lonergan and the Key to Philosophy,” in Finding God in All Things, ed. Mark Bosco and David Stagama (New York: Fordham University Press, 2007), 61.

[69] cf. Ferena Lambe, 349.

[70] cf. Michael Vertin, “Meréchal, Lonergan, and the Phenomenology of Knowing,” in Creativity and Method – Essay in Honor of Bernard Lonergan, ed. Matthew L. Lamb (Milwaukee: Marquette University Press, 1981), 415-416.

[71] cf. Lonergan, Understanding and Being, 16.

[72] Seeking for Foundations

[73] cf. Ferena Lambe, 348.

[74] Lonergan, Insight, 73.

[75] Lonergan, Insight, 205.

[76] Lonergan, Insight, 190.

[77] Lonergan, Insight, 73.

[78] Lonergan, Insight, 182.

[79] William A. Mathews, Lonergan’s Quest, 331.

[80] Lonergan, Insight, 385.

[81] Lonergan, Insight, 183.

[82] cf. Lonergan, Insight, 183 – 184.

[83] John D. Dadosky, Structure of Religious Knowing, 50.

[84] Lonergan, Insight, 186.

[85] Từ Dramatic xuất phát từ gốc từ “drama” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là làm (do), hành động (act) hoặc sống (live).

[86] John D. Dadosky, Structure of Religious Knowing, 50.

[87] William A. Mathews, Lonergan’s Quest, 333.

[88] Lonergan, Insight, 187.

[89] John D. Dadosky, Structure of Religious Knowing, 51.

[90] Ferena Lambe, 9.

[91] William A. Mathews, Lonergan’s Quest, 338.

[92] Lonergan, Insight, 212.

[93] Lonergan, Insight, 212.

[94] Lonergan, Insight, 212.

[95] Lonergan, Insight, 215.

[96] Lonergan, Insight, 212.

[97] Matthew L. Lamb, “The Social and Political Dimension of Lonergan’s Theology,” 258.

[98] cf. William A. Mathews, Lonergan’s Quest, 339.

[99] Lonergan, Insight, 213.

[100] cf. Joseph A. Komonchak, “The Church,” in The Desire of the Human Heart, ed. Vernon Gregson (New Jersey: Paulist Press, 1988), 228.

[101] cf. Lonergan, Method in Theology, 79

[102] Donna Teevan, Lonergan – Hermeneutics & Theological Method, 160.

[103] Mark D. Morelli and Elizabeth A. Morelli, The Lonergan Reader, 123.

[104] cf. Matthew L. Lamb, “The Social and Political Dimension of Lonergan’s Theology,” in The Desires of The Human Heart, ed. Vernon Gregson (New Jersey: Paulist Press, 1988), 267.

[105] cf. William A. Mathews, Lonergan’s Quest, 339.

[106] Michael Shute, The Origins of Lonergan’s Notion of the Dialectic of History, 26.

[107] William A. Mathews, Lonergan’s Quest, 340.

[108] William A. Mathews, Lonergan’s Quest, 339.

[109] Lonergan, Insight, 208.

[110] Michael Shute, The Origins of Lonergan’s Notion of the Dialectic of History, 27.

[111] Matthew L. Lamb, The Social and Political Dimension of Lonergan’s Theology, in The Desires of The Human Heart, ed. Vernon Gregson. 267.

[112] William A. Mathews, Lonergan’s Quest, 334.

[113] Lonergan, Insight, 214

[114] Lonergan, Insight, 215.

[115] Lonergan, Insight, 217.

[116] William A. Mathews, Lonergan’s Quest, 341.