Cảm Thức Chung Minh Họa Quá Trình Phát Triển Nhận Thức Tự Nhiên Của Con Người Theo Quan Điểm Của Bernard Lonergan (P1)

Sau hai cuộc thế chiến, con người băn khoăn đi tìm ý nghĩa cuộc sống hay ý nghĩa của hiện hữu của chính bản thân mình. Chiều kích hiện sinh chi phối toàn bộ nền triết học lúc ấy. Bên cạnh đó, với việc khám phá ra chuỗi ADN năm 1952 và nhiều phát minh khoa học khác, chủ nghĩa khoa học thực nghiệm cũng dần chi phối não trạng của con người. Dường như khoa học thực nghiệm chiếm vị trí quan trọng trong việc truy tìm chân lý. Ít nhiều các trường phái triết học cũng bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa duy khoa học và chủ nghĩa khoa học thực nghiệm. Đối với nhiều triết gia thuộc trường phái này, việc truy tìm chân lý phải đưa ra những kết quả rõ ràng, chính xác như trong toán học hay chân lý phải được kiểm chứng như trong các ngành khoa học thực nghiệm.

Luận văn tốt nghiệp chương trình Dự Bị và Triết Học

Tại Học Viện Thánh Giuse – Dòng Tên Việt Nam

Học viên thực hiện: Giuse Nguyễn Thế Anh, S.J.

Giáo sư hướng dẫn: Giuse Vũ Uyên Thi, S.J.

Tháng 03 năm 2020

Dẫn nhập

Sau hai cuộc thế chiến, con người băn khoăn đi tìm ý nghĩa cuộc sống hay ý nghĩa của hiện hữu của chính bản thân mình. Chiều kích hiện sinh chi phối toàn bộ nền triết học lúc ấy. Bên cạnh đó, với việc khám phá ra chuỗi ADN năm 1952 và nhiều phát minh khoa học khác, chủ nghĩa khoa học thực nghiệm cũng dần chi phối não trạng của con người. Dường như khoa học thực nghiệm chiếm vị trí quan trọng trong việc truy tìm chân lý. Ít nhiều các trường phái triết học cũng bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa duy khoa học và chủ nghĩa khoa học thực nghiệm. Đối với nhiều triết gia thuộc trường phái này, việc truy tìm chân lý phải đưa ra những kết quả rõ ràng, chính xác như trong toán học hay chân lý phải được kiểm chứng như trong các ngành khoa học thực nghiệm.

Trong bầu khí của Giáo Hội, từ khi Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đưa ra thông điệp “Aeterni Patris” (1879) để khởi xướng, khích lệ, cổ võ đường hướng “tân kinh viện”, nhiều các triết gia, thần học gia công giáo đã làm mới, tìm hiểu học thuyết của các triết gia Kinh Viện dưới nhãn quan của hệ tư tưởng hiện đại. Qua đó, có thể đối thoại với những luồng tư tưởng đương thời. Trong Dòng Tên, cũng đã có những suy tư để cổ võ trào lưu “tân kinh viện” này, trong số đó phải kể đến Joseph Maréchal (1878-1944), người quan tâm đặc biệt đến việc đối thoại với Kant. Bernard Lonergan (1904-1984) cũng một phần bị ảnh hưởng bởi Maréchal, cũng như nhiều triết gia công giáo khác ông cũng “muốn phát triển triết học để có thể hợp nhất những trực quan vào tri thức con người, điều được bắt nguồn từ những phát triển của khoa học hiện đại nhưng cũng tiếp tục mở ra những trực quan trong địa hạt đạo đức và tôn giáo dưới cái nhìn của Giáo Hội.”[1]

Tác phẩm Trực quan (Insight)[2] được ra đời trong bối cảnh đó, lần đầu xuất bản năm 1957. Ở khía cạnh nào đó đặc biệt trong lãnh vực tri thức luận, tác phẩm Trực quan như là cuộc đối thoại giữa triết thuyết của Aristotle, thánh Thomas Aquinas và Immanuel Kant. Một mặt, Lonergan không phủ nhận vị trí của khoa học thực nghiệm khi cho rằng, mọi nhận thức đều đến từ kinh nghiệm hay hình ảnh (image), một mặt cũng đồng quan điểm với Kant về vai trò của phán đoán trong quá trình tri nhận tri thức.

Đối với Lonergan, tri thức con người không phải là thứ mà con người có dễ nắm bắt, hay dễ công thức hóa. Con người không thể đạt được chân lý tuyệt đối (ideal knowledge), nhưng chỉ hiểu phần nào hay một mảng nào trong kho tàng tri thức rộng lớn. Do vậy, bên cạnh tri thức của toán học và khoa học thực nghiệm, con người cũng cần đến một loại tri thức khác mà Lonergan gọi là cảm thức chung hay cộng thức (common sense) để làm phong phú cho tri thức của mình. Tri thức của cảm thức chung là tiền đề và là sự bổ sung cho tri thức của khoa học. Bài viết là nỗ lực phân tích tri thức của cảm thức chung trong tiến trình phát triển nhận thức cách tự nhiên nơi con người trong dòng lịch sử nhân loại. Qua đó phần nào minh họa cho cấu trúc nhận thức bất biến năng động được khởi xuất từ kinh nghiệm sau đó là hiểu biết và cuối cùng là phán đoán. Cấu trúc năng động này cũng được thể hiện trong tri thức của khoa học thực nghiệm. Tuy thế, do giới hạn về thời gian và năng lực, bài viết chỉ cố gắng tập trung vào khái niệm cảm thức chung giới hạn trong chương sáu và chương bảy của Trực quan. Vì thế, người viết ít nhiều chỉ làm rõ được hai bước đầu trong quá trình nhận thức: kinh nghiệm, hiểu biết. Chiều kích phán đoán cũng như những yếu tố khác bổ sung cho khái niệm này được Lonergan khai triển ở những chương tiếp theo và trong những tác phẩm hậu Trực quan.

Ngoài phần giới thiệu này, bài viết còn gồm 3 phần khác. Trong phần một, tương ứng với năm chương đầu của Trực quan. Dựa trên những phân tích tỉ mỉ về nền tảng nhận thức trong toán học cũng như trong khoa học thực nghiệm, Lonergan đưa ra cấu trúc nhận thức bất biến trong mọi hoạt động nhận thức của con người. Qua đó, ít nhiều cũng thể hiện nhãn quan của ông về thế giới và tri thức. Phần hai, là phần trọng tâm của bài viết, phần này họa lại tư tưởng của tác giả về khái niệm cảm thức chung gói gọn trong hai chương sáu và bảy của Trực quan. Phần này ít nhiều là những minh họa của cấu trúc nhận thức được hình thành cách tự nhiên nơi con người ngang qua sự phát triển của cảm thức chung trong lịch sử văn minh nhân loại. Phần cuối là phần kết luận, tóm lược lại bài viết cùng một số nhận định cá nhân.

Chương 1: Tính năng động trong thuyết nhận thức

Năm chương đầu của Trực quan, Lonergan đã phân tích chi tiết tiến trình trực quan để đạt được tri thức ngang qua toán học cũng như khoa học thực nghiệm. Qua đó đặt nền cho cấu trúc của trực quan. Ông không chú trọng vào bản chất của nhận thức là gì, nhưng đề cao cấu trúc của nhận thức ngang qua câu hỏi: “chúng ta làm gì khi nhận thức.” Đáp án cho câu hỏi đó là cấu trúc nhận thức bất biến không chỉ áp dụng trong tri thức khoa học mà còn nơi cảm thức chung (common sense). Qua sự phân tích trực quan trong khoa học thực nghiệm, Lonergan cũng diễn tả quan điểm mình về thế giới: đó không phải là một vũ trụ tĩnh hoặc tất định, nhưng là một thế giới năng động và đang phát triển. Thế giới ấy cũng diễn tả về tri thức con người, qua thế giới “để nắm bắt sự năng động thiết yếu nơi trí tuệ con người.”[3]

Cách nhìn về thế giới như cách nhìn về tri thức

Lonergan quan niệm về thế giới không mang tính bất động hay tất định nhưng là một thế giới chuyển động theo tính xác xuất nổi lên (emergent probability). Có ba yếu tố trong sự phát triển năng động này. Đầu tiên, trong thế giới có những chu trình được tái diễn (schema of recurrence). Chẳng hạn, ta có một chuỗi các sự kiện A, B, C, có một sự liên hệ giữa các điều kiện của mỗi sự kiện để sự kiện khác có thể xảy ra. Nếu A xảy ra, B sẽ xuất hiện; nếu B xuất hiện sẽ dẫn đến sự xuất hiện của C… Và cứ thế sẽ lại xuất hiện A lần nữa. Một ví dụ sự tái diễn này là chu trình tái sinh của nước hay vòng tuần hoàn của Nitrogen hay hệ thống các hành tinh, các chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái và thậm cả hệ thống kinh tế. Chúng được lập đi lặp lại theo một chu kì nhất định dưới những điều kiện nào đó. “Ý niệm về giản đồ tái diễn xuất hiện khi nó ghi nhận lại những chuỗi điều kiện tích cực khác nhau vì một sự kiện thường xảy ra theo một vòng tuần hoàn.”[4] Để có một chuỗi các sự kiện tái diễn cần có những điều kiện cụ thể xác định và chắc chắn lập lại. Giản đồ tái diễn là sự kết hợp của các quy tắc cổ điển; một cách cụ thể, nó bắt đầu, tiếp tục và ngưng lại dựa theo các quy luật xác suất thống kê.[5] Ba khái niệm cần được phân biệt trong chu trình tái sinh là tính khả thi (possible), hầu chắc (probable) và chắc chắn (actual) sẽ xảy ra.[6]

Kế đến, quan niệm của Lonergan về thế giới là thế giới của tính xác suất nổi lên. “Xác suất nổi lên là sự nhận thức liên tục dựa trên những lịch trình liên tiếp trong xác suất của một chuỗi những điều kiện của giản đồ tái diễn.”[7] Nói cách khác, những gì khả dĩ sớm muộn gì cũng trở thành hiện thực nếu hội đủ những điều kiện thích hợp. Một khi đi vào vận hành, xác suất nổi lên của giản đồ tái diễn sẽ đem đến xác suất tồn tại cho chính nó.[8] Cả hai phương pháp cổ điển và thống kê đều có những điểm còn thiếu sót trong việc truy tìm tri thức. Tuy thế, cả khoa học lẫn toán học đều không thể nào diễn tả được một tri thức tuyệt đối, vẫn còn những phần mà khoa học không giải quyết định được, phần đó là phần xót của thực nghiệm (empirical residue). Việc truy tìm tri thức vẫn phải áp dụng nguyên tắc xấp xỉ hay gần đúng hoặc tính xác suất trong các phép toán. Tính xác xuất hiện lên vừa có tính xác suất thống kê vừa theo những quy luật cổ điển.

Sau đó, thế giới của Lonergan là thế giới luôn chuyển dịch năng động đến những góc nhìn cao hơn (higher viewpoint), sự hiểu biết cao hơn này bao hàm một hiểu biết nảy sinh dựa trên các phép toán được thực hiện theo quy tắc cũ và được diễn đạt trong một công thức của một quy tắc mới.[9] Thế giới quan hay cái nhìn của Lonergan về tri thức là một cái nhìn năng động và tri thức là điều luôn ở trong trạng thái chưa thành toàn và điều đó luôn thúc bách con người kiếm tìm tri thức. Tri thức con người cũng không chỉ gói gọn trong một khái niệm, công thức như trong toán học. Nhưng tri thức ấy vẫn ngày càng được phát triển theo quy luật nhất định của tính xác nổi lên nơi những chu trình tái diễn để đạt đến những hiểu biết cao hơn.

Sự tự thủ đắc (Self-appropriation) điểm đến và phương pháp[10] của nhận thức

Lonergan đưa ra hai khía cạnh khi đề cập đến self-appropriation: đó là điểm đến và phương pháp của nhận thức. Phần nào Lonergan cũng nằm trong trào lưu hiện tượng luận khi nhấn mạnh đến ý thức chủ thể tính trong quá trình nhận thức. Sự biết mình (self-knowledge) hay sự tự thủ đắc là đích nhắm mà Lonergan muốn nhắm đến. Toàn bộ quyển Trực quan được xem là những “bài tập” để thực tập, hầu đạt đến sự tự thủ đắc này.[11]

Con người làm gì khi nhận thức? Câu hỏi đã được Lonergan đưa ra để đặt nền tảng cho thuyết nhận thức của mình. Quá trình trả lời câu hỏi trên cũng là quá trình đi tìm cho mình một sự tự thủ đắc. “Sự nhận thức về những gì chúng ta biết đến từ những gì chúng ta là. Nhận thức chúng ta biết như thế nào đòi hỏi việc nhận ra chúng ta là ai.”[12] Đó là lời mời gọi cách cá vị để hiểu và hành động, qua đó hiểu được chính bản thân mình dưới khía cạnh tình yêu, hay hành động, và để tái lập cái căn tính riêng của riêng mình: “sự tự thủ đắc làm cho con người có khả năng như là một chủ thể nhận thức, người chọn lựa, người diễn viên để khám phá và tạo lập chính bản thân mình như là một hữu thể độc nhất và siêu vượt.”[13]

Khi chủ thể đạt đến sự tự thủ đắc là đạt đến chính cái hữu thể, cái logos của chính mình. Khi đó, chủ thể không chỉ hiện diện hay hiện hữu với người khác, “nhưng còn hiện diện chính mình trong bản thân mình. Hiện diện có được khi tôi ý thức về chính tôi và những điều tôi bận tâm.”[14] Ngoài ra, Ferera Lambe còn cho rằng tri thức như là sự tự thủ đắc (knowledge as self-appropriation), và sự tự thủ đắc đạt được khi chính bản thân một người trải nghiệm cách ý thức, hiểu biết cách rõ ràng, và phán đoán cách lý trí mà đạt đến sự hiểu biết về thực tại.[15] Do đó, có thể nói tiến trình tri thức là tiến trình để đạt được Sự tự thủ đắc nơi ấy chủ thể ý thức về bản thân mình cũng như những vận hành tri thức trong mình:

Sự tự thủ đắc hoặc biết mình là ý thức nơi chủ thể. Biết mình như là thành tựu lớn nhất của sự hiểu biết. Bước đầu, tôi ý thức về tôi, nhưng không phải về sự biết mình của tôi. Biết mình không phải là tức khắc nhưng là trung gian qua các hoạt động nhận thức. Do đó, để làm chủ (appropriate) hoặc hiểu về bản thân mình, tôi phải hiểu hoặc chiếm hữu những hoặc động nhận thức, mà nơi đó bản thân tôi như là người vận hành (operator).[16]

Chúng ta làm gì khi nhận thức? Ít nhiều câu trả lời được diễn tả qua phương pháp hay đích đến của tiến trình nhận thức, tôi được mời gọi để ý thức về hoạt động nhận thức. Quá trình ấy cần có sự phản tỉnh trên chính phán đoán nơi hiểu biết để có được tri nhận về đối tượng. Qua đó phần nào cũng mở ra phương pháp siêu nghiệm dựa trên nền tảng của sự tự thủ đắc: “một hệ quả của sự tự thủ đắc là phương pháp siêu nghiệm, kinh nghiệm, hiểu biết, phán đoán và chọn lựa của chính tôi như là kinh nghiệm, hiểu biết, phán đoán và chọn lựa của hữu thể.”[17] Phương pháp ấy là phương pháp thực nghiệm trong khía cạnh, “chúng quan tâm dữ liệu của ý thức với ý thức của chủ thể trong kinh nghiệm hiện sinh và trong hành vi hiểu biết của chủ thể.”[18] Phương pháp ấy không chỉ giới hạn ở cái biết lý thuyết, nhưng còn đẩy mạnh ở khía cạnh quyết định và thực hành, “trên hết, mục đích của Trực quan là mời gọi mỗi cá nhân, quyết định và hành động.”[19] Như thế, sự tự thủ đắc là sự chú tâm – chú tâm đến chính mình khi kinh nghiệm, lãnh hội và phán đoán. Kế đến là sự hiểu biết chính mình khi kinh nghiệm, lãnh hội và phán đoán. Sau cùng là khẳng định chính mình khi kinh nghiệm, lãnh hội và phán đoán.[20] Quá trình nhận thức là hành động có ý thức, ngang qua ý thức cách con người ý thức được hoạt động ý thức nơi bản thân mình.[21]

Trực quan và cấu trúc nhận thức của trực quan

Lonergan lấy ví dụ điển hình ngang qua câu chuyện nổi tiếng của Archimedes để minh họa cho những đặc điểm của trực quan. Có năm đặc tính của trực quan.[22] Đầu tiên, như là sự tháo gỡ những căng thẳng của việc tìm tòi, nhờ sự tháo gỡ căng thẳng này mà Archimedes đã thốt lên “eureka” trong vui sướng. Kế đến, chúng đến cách bất chợt, không ngờ trước được. Thứ ba, trực quan như là một kiểu vận hành không nằm ngoài bối cảnh, nhưng là điều kiện bên trong của bối cảnh ấy. Thứ tư, trực quan là ngưỡng cửa giữa sự cụ thể và trừu tượng. Trực quan là sự liên kết giữa giác quan và sự tưởng tượng, giữa điều được phô bày và điều ngụ ý. Cuối cùng, trực quan trở thành cách sắp xếp tính thói quen trong trí của một người.

Đối với Lonergan, con người có thể có nhiều dạng trực quan khác nhau, chẳng hạn những trực quan trong toán học, khoa học thực nghiệm và ngay cả trực quan trong cảm thức chung. Tuy nhiên, có các dạng tri thức này có một điểm chung là có cùng cấu trúc để hình thành nên tri thức ấy, cấu trúc ấy được gọi là quá trình nhận thức. Cấu trúc đó là cấu trúc bất biến, nền tảng cố định mà Lonergan đã quả quyết: “để hiểu thấu đáo những gì để hiểu, bạn không chỉ hiểu tất cả theo đường rộng những gì được hiểu, nhưng còn sở hữu một nền tảng cố định, một mẫu thức bất biến, mở ra sự phát triển xa hơn nữa của sự hiểu biết.”[23] Quá trình hay mẫu thức bất biến ấy trải qua ba bước được khởi đi từ kinh nghiệm, sau đó là sự hiểu biết và cuối cùng là phán đoán.

Ở bước thứ nhất, là bước của ý thức thường nghiệm (empirical consciousness) hay gọi đơn giản hơn là kinh nghiệm. Ảnh hưởng bởi tư tưởng của Aristotle và thánh Thomas Aquinas, Lonergan cho rằng quá trình nhận thức phải khởi đi từ kinh nghiệm. “Nếu không có kinh nghiệm thì không có bất kỳ một sự hiểu biết nào. Cho dẫu con người có tiềm thể để hiểu biết, nhưng tri thức thực sự chỉ đến sau kinh nghiệm, nơi ấy con người tiếp xúc trực tiếp với thực tại.”[24] Trong bước này, chủ thể thâu nhận dữ liệu của giác quan, dữ liệu của ý thức thường nghiệm. Những kinh nghiệm này vẫn chưa là tri thức nhưng đó chỉ là một dữ liệu cảm quan mang tính chủ quan nơi chủ thể. Dữ liệu cần được đào sâu hơn nữa để có thể mang giá trị khách quan hơn. Bên cạnh những dữ liệu giác quan, chủ thể kinh nghiệm còn thu nhận cả dữ liệu ý thức trong qua trình kinh nghiệm sự vật.[25]

Kế đến, con người là động vật có khả năng suy tư, phản tỉnh và đặt câu hỏi, “khi con vật không làm gì, nó ngủ. Khi con người không làm gì, họ đặt câu hỏi.”[26] Con người đặt những câu hỏi để giải thích hoặc đào sâu những dữ liệu kinh nghiệm ở bước đầu. Đó cũng là giai đoạn tiếp theo trong quá trình nhận thức: hiểu biết (understand) hay ý thức mang tính tri thức (intellectual consciousness). “Cấp độ này cũng quan tâm đến các hành vi hiểu biết (acts of understanding), và việc hình thành các khái niệm. Các khái niệm biểu tỏ hành vi hiểu biết, và cả hai đều là thành quả của sự tìm hiểu (inquiries).”[27] Ở bước thứ hai này, khao khát tìm kiếm tri thức của con người qua việc đặt câu hỏi, trả lời các câu hỏi và phát triển thành các khái niệm, tiền đề, giả thiết, công thức mang tính phổ quát.

Không dừng lại ở việc tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi. Những vấn đề khác sâu hơn, rộng hơn lại được gợi lên và con người tiếp tục tìm kiếm những câu trả lời ở cấp độ phản tư (reflection) từ đó có được sự hiểu biết mang tính phản tư (reflective understanding). Cấp độ hiểu biết chỉ dừng lại ở bình diện tri thức ở bình diện cái hiểu (intelligibility). Cấp độ phản tư đi xa hơn để khẳng định một vật là hiện hữu (existence) hay thực tại (reality).

Đáp án cho câu hỏi về sự tồn tại hay thực tại là một phần của cấp độ thứ ba của quá trình nhận thức, Lonergan gọi là lý tính của ý thức (rational consciousness) hoặc là phán đoán. Như vậy, cấp độ thứ ba khẳng định hoặc phủ định về một vấn đề, một sự việc.[28] Phán đoán là một hành động của lý trí.[29] Đó là kết quả cuối cùng hành vi phản tỉnh của sự hiểu biết, thông qua những gì chúng ta hiểu biết về thực tại để xác quyết hoặc phủ nhận thực tại. Qua sự phán đoán, hình thành một tri thức về chân lý (truth).[30]

Khi chia thành ba bước hay ba giai đoạn của quá trình nhận thức, không có nghĩa những bước này xảy ra riêng lẻ hay tuần tự, hoặc có sự phân biệt và không có sự nối kết giữa chúng. Ngược lại, đó là một quá trình năng động của nhận thức. Cả ba bước được kết hợp trong một tiến trình duy nhất. “Tiến trình nhận thức cũng không chỉ là kinh nghiệm, không chỉ là hiểu biết, không chỉ là phán đoán, cũng không chỉ là những cái nhìn tức thời hoặc trực giác về sự vật. Nhưng đó là quá trình của cả kinh nghiệm, hiểu biết và phán đoán kết hợp chung với nhau.”[31] Cả ba bước hòa quyện lại thành một thành một thể thống nhất, thành một cấu trúc cho các tri thức của con người. Khi đó, “cái tổng thể được liên kết bởi cái từng phần, mỗi phần lại liên kết với những phần khác qua chức năng. Một tổng thể sở hữu một sự tất yếu nhất định trong sự thống nhất của nó, nếu loại bỏ bất cứ phần nào thì cái tổng thể sẽ bị tiêu tan, và bất cứ phần nào khác thêm vào thì cũng trở nên dư thừa.”[32] Ngoài ra, trong quá trình kinh nghiệm, hiểu biết, phán đoán để đưa ra quyết định, các cấp độ cao hơn hoặc nhấn chìm hoặc phủ nhận những cấp độ bên dưới, vượt lên chúng nhưng cũng đồng thời bảo tồn và giữ lại chúng.[33]

Cần phải có quá trình tự hiệu chỉnh (self-correcting) cho quá trình nhận thức này. Tiến trình tự hiệu chỉnh này là “sản phẩm của những hành vi lặp đi lặp lại, có sự thiết lập dữ liệu mới, sửa chữa những trực quan còn dang dở, sửa lỗi những phán đoán sai lầm. Những thiếu sót của những trực quan lại gợi lên những câu hỏi khác để bổ sung vào cho trực quan. Phán đoán gợi lên những câu hỏi sâu hơn và làm cho tri thức phát triển.”[34] Trí hiểu gợi lên câu hỏi từ kinh nghiệm, trí hiểu tìm câu trả lời và tiếp tục đặt câu hỏi rộng hơn. Sau đó để tìm những hiểu biết mới hơn về để phản tỉnh. Qua đó có những trực quan cao hơn. Trong khoa học, quá trình tự hiểu chỉnh này phát xuất từ việc đưa ra những định đề, giả thiết sau đó đi chứng minh và cuối cùng đạt được những trực quan qua những định nghĩa (definition).

Đối với Lonergan, tri thức con người là một yếu tố động. Có sự tích lũy theo chu trình tái diễn đến những góc nhìn cao hơn và có tính chất nơi tính xác nổi lên. Hơn nữa, quá trình nhận thực là một tiến trình năng động với một cấu trúc bất biến được áp dụng chung cho sự nhận thức của con người trong mọi lãnh vực. Quá trình nhận thức ấy có khởi điểm là chính ý thức nơi chủ thể, có một điểm đến và một phương pháp nơi sự tự thủ đắc. Từ những khái niệm căn bản trong thế giới quan của Lonergan, cũng như quá trình nhận thức và phương pháp của nhận thức, ta thử đi tìm hiểu sự phát triển của cảm thức chung trong lịch sử nhân loại, liệu sự phát triển này có nét tương đồng nào trong thuyết nhận thức đã đề cập ở trên?

Chương 2: Quá trình phát triển nhận thức qua cảm thức chung

Trong chương trước, ta đã có cái nhìn sơ khởi về thuyết nhận thức của Lonergan. Cấu trúc nhận thức ấy không chỉ được áp dụng trong khoa học thực nghiệm nhưng còn trong cảm thức chung. Chương này phần nào làm rõ quá trình phát triển của cảm thức chung, qua đó cố gắng làm rõ sự phát triển trong quá trình nhận thức cách tự nhiên của con người. Chương này gồm ba phần: đầu tiên là những đặc điểm cũng như cách hiểu của Lonergan về khái niệm cảm thức chung, đó là tri thức thực hành đến từ những vấn đề cụ thể của cuộc sống. Kế đến, vai trò của chủ thể hay nói đúng hơn là chính chủ thể vận hành quá trình hình thành và phát triển của cảm thức chung. Cuối cùng, là sự phát triển của cảm thức chung dẫn đến sự phát triển của các cộng đồng hay xã hội trong lịch sử nhân loại.

Đặc điểm của cảm thức chung

Có thể có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm cảm thức chung. Cảm thức chung không phải là một trong những thiên hướng (instinct) hoặc cảm xúc đặc biệt của chân lý, hay cảm thức chung liên quan đến hoạt động tức thời của tri thức, mang đặc tính tự nhiên trước khi được học hành hay huấn luyện đặc biệt nào.[35] Phần nào cả hai nhận định trên đều cho rằng cảm thức chung nhấn mạnh đến vai trò của trực giác. Tuy nhiên, cảm thức chung được Lonergan sử dụng ở đây với mục đích làm sáng tỏ tính tự nhiên và vai trò của trực quan xung quanh bối cảnh hoạt động của tiền nhận thức.[36]

Cảm thức chung – tri thức thực hành

Lonergan không đưa ra một định nghĩa rốt ráo hay một khái niệm tròn đầy về cảm thức chung. Tuy thế, Lonergan cũng chỉ là những mô tả, những gợi ý, mang đến cho tâm trí con người điều gì đó thuộc kinh nghiệm của chính họ, điều gì đó quen thuộc với những kinh nghiệm đời thường. [37] Con người không chỉ tri nhận những trực quan trong các lãnh vực lý thuyết thuần túy như: toán học, vật lý, sinh học. Bên cạnh đó, có những trực quan khác cũng là một phần của tri thức. Chúng là những tri thức thực hành (practical intelligent) hay được gọi là cảm thức chung, hoặc là cộng thức, điều mà không được dạy ở trường lớp, không được diễn tả qua định nghĩa, công thức hay ngôn từ. Đó là tri thức hay tài khéo của người nông dân trên ruộng đồng, hay bàn tay điệu nghệ của những thợ thủ công, là kỹ năng tuyệt vời cũng những người thợ máy, là sự hiểu biết về những kinh nghiệm cuộc sống, hay về tình yêu hoặc kinh nghiệm về kiếp nhân sinh của con người.[38]

Cảm thức chung cũng là một dạng trực quan, do đó, cũng có sự tích lũy và phát triển. Trong tác phẩm Hiểu Biết và Hữu Thể (Understanding and Being), Lonergan đã miêu tả cách thức hay phương pháp cảm thức chung được tích lũy và phát triển: “cách thức thông truyền căn bản của cảm thức chung là ngang qua những truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, qua đó những người muốn hiểu, những người muốn trở nên khôn ngoan, có thể có những trực quan, điều mà sẽ thành toàn trong cuộc sống của họ.”[39] Cảm thức chung là sự khôn ngoan thực tiễn được thông truyền tương tự cách thức lưu truyền những kinh nghiệm dân gian. Cái cảm thức chung của một nhóm người chưa chắc đã có thể áp dụng vào nhóm người khác vì mỗi nhóm người đều có những trực quan riêng của mình. Bởi vì, mỗi người đều có một căn tính riêng, và có nhiều điểm khác nhau về: giới tính, sở thích, bối cảnh nghề nghiệp, văn hóa xã hội. Vì thế, cảm thức chung cũng là trực quan biệt thù và có nhiều dáng vẻ khác nhau: “có sự đa dạng trong cảm thức chung ở mỗi địa phương, mỗi nghề nghiệp, mỗi hệ thống xã hội. Tùy vào từng nơi, từng nghề và từng nhóm người mà một người có những cách xử trí qua lời nói hoặc hành động khác nhau phù thuộc vào mỗi hoàn cảnh và địa vị của người ấy.”[40] Đó là điều làm nên sự khác biệt và đa dạng giữa các trực quan trong cảm thức chung.

Hơn thế, tri thức thực hành là điều sống còn của con người trong xã hội nguyên thủy. Con người không chỉ tìm kiếm tri thức vì tri thức nhưng là do chính nhu cầu, khao khát được sống và phát triển đã thúc đẩy con người truy tầm tri thức. Cảm thức chung thỏa mãn nhu cầu đó của con người, “khao khát hiểu biết, đơn giản là một phần của khao khát được sống, và tri thức là một phần của cuộc sống. Tri thức là phần quan trọng và có vai trò cơ bản trong cuộc sống.”[41] Tri thức không tách biệt với cuộc sống và tất cả tri thức đều là thành quả kiếm tìm để phục vụ cho sự phát triển của con người.

Một điểm khác cần được nhấn mạnh là về chính chữ “chung” (common) của cảm thức chung. Chính từ ngữ này đã gợi lên cho người đọc một suy nghĩ, cảm thức chung không của riêng ai, nhưng là chung của một nhóm, một cộng đồng. Theo nghĩa nào đó cảm thức chung là “sự kết hợp của những ý kiến hoặc niềm tin với nhau, ít nhiều cũng có yếu tố sai lỗi và thành kiến trong đó, cảm thức chung tạo thành tiếng nói chung trong cộng đồng, điều mà ai cũng biết.”[42] Trong tác phẩm Phương pháp luận Thần học (Method in Theology), Lonergan nhấn mạnh lại điều này: “cảm thức chung mang tính chung trong cộng đồng, không phải cho mọi người ở mọi nơi và mọi thời, nhưng chỉ là chung trong một nhóm người thuộc một cộng đồng qua việc thông truyền với người khác.”[43] Vì là trực quan hay sự hiểu biết chung trong cộng đồng nên những hiểu biết này cũng có thể được chia sẻ trong cộng đồng để giúp người khác có thể học được qua sự truyền thông và tương tác với người khác. “Mỗi cảm thức chung của cộng đồng thì là một cái kho chứa chung, ẩn tàng sau sự tích lũy ấy là những giải pháp để giải quyết những vấn nạn, phục vụ những nhu cầu, bận tâm, sở thích cụ thể của cộng đồng.”[44]

Do thế, một mặt cảm thức chung là trực quan rất riêng xuất phát từ chính chủ thể và phần nào cũng bị ảnh hưởng bởi tác động nhu cầu của cộng đồng. Những trực quan này phải được hiểu trong những bối cảnh cụ thể và đặc thù, đó là tương quan của chính chủ thể với thế giới. Vì lẽ đó, cảm thức chung chỉ có thể được giải thích và làm sáng tỏ bằng cảm thức chung và chỉ nơi cảm thức chung mà thôi.[45] Để hiểu cảm thức chung nhất thiết phải hiểu được bối cảnh sống của chính chủ thể, là nhân tố chính hình thành nên cảm thức chung. Mặt khác, cảm thức chung là gia sản chung trong nền văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.

Tóm lại, cảm thức chung là tri thức thực hành, liên quan đến một số bối cảnh sống cụ thể; mỗi thời gian và địa điểm đều có cảm thức chung của giây phút nơi chốn ấy.[46] Do vậy, “cảm thức chung, bao gồm những trực quan cơ bản cho phép con người giải quyết các tình huống cá nhân và cụ thể trong các sự việc phát sinh từ cuộc sống thường nhật, theo tiêu chuẩn của văn hóa hoặc địa vị mà người ấy thuộc về.”[47]

Đặc tính của cảm thức chung

Có hai đặc điểm của cảm thức chung. Thứ nhất, cảm thức chung được xét đến ở khía cạnh tri thức (intellectual). Cảm thức chung được tìm thấy nơi mọi ngóc ngách của cuộc sống, trong bất kì nền văn hóa, bất kỳ hoạt động nào của con người, ngay cả người khôn cũng như kẻ dại. Cảm thức chung được khơi lên từ việc đặt câu hỏi xuất phát từ óc hiếu tri hay sự tò mò của con người.[48] “Có một sự xây dựng của một nhóm (cluster) các trực quan, nhưng nhóm này không nhằm mục đích đi đến các định nghĩa phổ quát và các định đề phổ quát, điều chịu ảnh hưởng bởi sự suy luận có hệ thống và nghiêm ngặt. Các nhóm này nhằm mục đích hướng dẫn hành động cụ thể, và nó được thể hiện, không phải trong cách thức nghiêm ngặt, mà bằng giao tiếp.”[49]

Tuy thế, quá trình tìm kiếm sự khôn ngoan ban đầu cũng chỉ là nhưng hành vi thẩm vấn (inquiry) tự phát, giống như một đứa trẻ luôn hỏi, cái gì đó? Và tại sao lại như thế? Quá trình này cũng mang đến sự tích lũy trực quan, nhưng chỉ là những trực quan tự phát. Từ sự hiểu biết ban đầu này, có những câu hỏi khác được gợi lên và từ đó tích lũy được những trực quan cao hơn. Tuy nhiên, trong quá trình tích lũy những trực quan cao hơn, không thể tránh khỏi những sai lỗi hay hiểu sai về trực quan trước. Vì thế, cần một quá trình gọi là tự hiệu chỉnh và học hỏi để có thể được tích lũy và tiến triển trong cảm thức chung. Quá trình tự hiệu chỉnh này sẽ kiểm tra, rà soát phát hiện ra những lỗi lầm của con người và từ đó sửa đổi để có thể tĩch lũy những trực quan. Quá trình này tương tự như quá trình tự hiệu chỉnh trong khoa học:

Như các nhà toán học phát triển từ hình ảnh qua những trực quan và công thức đến các biểu tượng thúc đẩy những trực quan cao hơn, như nhà khoa học phát triển từ dữ liệu thông qua trực quan và công thức đến những thực nghiệm, điều cũng thúc đẩy những trực quan cao hơn, quá trình học tập tự phát (spontaneous process of learning) và tự hiểu chỉnh là một vòng tròn (circuit) trong đó những trực quan bộc lộ những nhược điểm qua các hành động hoặc lời nói hoặc suy nghĩ được biểu lộ trong thông truyền, tất cả chúng sẽ thúc đẩy những câu hỏi tiếp theo và dẫn đến những bổ sung cho những trực quan.[50]

Một mặt sự tích lũy những trực quan mang tính chủ quan nơi cá nhân chủ thể. Nhưng, những trực quan này cũng có thể được thông truyền, truyền đạt từ người này sang người khác. Con người là động vật có tính xã hội, do đó, quá trình học hỏi nơi chủ thể có phần chủ động, tìm kiếm trực quan, nhưng chủ thể cũng một phần bị động dưới tác động khác nhau của môi trường mà chủ thể đang hiện hữu. Lonergan đã diễn tả rất rõ điều này:

Việc cộng tác tự phát của các cá nhân cũng là sự phát triển chung của tri thức trong gia đình, bộ tộc, quốc gia, và toàn thể nhân loại. Một người được sinh ra không chỉ với những nỗ lực để tìm tòi và hiểu biết thuần túy của bản thân; nhưng họ còn được ném vào trong cộng đồng, nơi ấy sở hữu những câu trả lời từ một cái “kho” (fund) chung, và mỗi người cũng có thể rút ra phần chia sẻ của mình từ kho chung đó, được đo bằng năng lực, sở thích và năng lực của mình.[51]

Và do đó, quá trình học hỏi và sửa lỗi không phải là chỉ là quá trình của cá nhân, nhưng còn là tác động của cả môi trường của xã hội và cộng đồng. Hơn nữa, chính cộng đồng cũng là điểm khởi cho việc cải thiện và phát triển trực quan để mang lại lợi ích cho cộng đồng không chỉ trong thế hệ này mà cho thế hệ tương lai.[52] Quá trình tích lũy trực quan trong cảm thức chung là quá trình không hồi kết vì luôn có sự đi tìm và sửa chữa những hiểu biết sai lạc trong nhận thức. Tuy thế, không có một phương pháp kiểm chứng nhất định, không có khái niệm đúng sai, phải trái, hay tốt xấu trong cảm thức chung. Nhưng sự nhận định và đánh giá của cộng đồng, với những tác động của những trực quan này với lợi ích chung, chính là việc khách quan hóa cảm thức chung nơi chủ thể.

Thứ hai, khi đề cập đến cảm thức chung, Lonergan còn đề cập đến khía tính chất thực hành hay thực tiễn (practical) của cảm thức chung. Cảm thức chung không chỉ mang chiều kích tri thức, có thể được tích lũy và thông truyền trong một cộng động, cảm thức chung mang tính thực tiễn (practical). Tri thức không chỉ ở bình diện cái biết ở trên lý thuyết nhưng còn diễn tả cái biết trong những trường hợp cụ thể. Khía cạnh này diễn tả đến những kiến thức thực hành, thực tiễn trong cuộc sống. Như những đặc điểm của cảm thức chung đã nêu ở trên, chúng vận hành trong một cộng đồng, không tồn tại hoàn toàn trong bất kỳ một người nào. Chúng được chia nhỏ trong nhiều người, để cung cấp cho mỗi người một sự hiểu biết về vai trò và nhiệm vụ của mình trong việc phát triển cảm thức chung.[53]

Tự bản chất của cảm thức chung đã mang tính thực tiễn, Lonergan đã miêu tả cảm thức chung là “những tác vụ thực tiễn của cuộc sống thường nhật”[54] và chúng tìm kiếm tri thức trong lãnh vực “chế tạo và hoạt động.”[55] Trở lại với thời văn minh sơ khai của con người, con người đã biết truyền cho nhau những tri thức thực hành. Tri thức này giúp con người phát triển các công cụ lao động, biết làm lưới đánh bắt cá, cải tiến và phát triển thành các loại công cụ khác nhau nhờ quá trình tự hiệu chỉnh. Ngay cả những phát minh về kỹ thuật trong thời hiện đại cũng có thể đã được khởi hứng từ những tri thức thực hành của con người trong lịch sử phát triển của nhân loại. Chính động lực và khát khao sinh tồn đã làm cho con người nảy ra những sáng kiến trong lịch sử và từ những sáng kiến này dẫn đến sự phát triển trong lịch sử văn minh của con người.

Có hai nghĩa của từ “thực tiễn” (practical). Một mặt, từ này mang nghĩa tương đương với khái niệm “poeis” của Aristotle. Theo nghĩa này, “thực tiễn” nghĩa là việc phát triển những kỹ năng sử dụng công cụ lao động hay phát triển công cụ lao động ấy. Nhưng tính “thực tiễn” không chỉ dừng lại ở việc “thực thành” những kĩ năng sử dụng sự tài khéo đôi tay, bàn chân mà còn mang tính “praxis” nghĩa là một dự hướng để tạo lập nên chính con người của mình, như là một hữu thể vừa mang tính cá nhân vừa mang chiều kích cộng đồng. “Praxis”, không đơn thuần là đạt được kết quả cách thực tiễn nhưng là sự nhận thức toàn vẹn tính chủ thể nơi con người. Chủ thể không chỉ là chủ thể mang tính tri thức hay ý chí, hay chủ thể của tri thức thực hành, nhưng còn là chủ thể hiện sinh. Theo ý nghĩa này, góc nhìn Lonergan về praxis như là khuôn mẫu của cuộc sống, nơi ấy chủ thể hiện hữu cấu thành nên chính mình và thế giới quan của bản thân mình.[56]

Nguồn:https://sjjs.edu.vn/

>>Đọc Phần 2<< >>Đọc Phần 3<<

[1] Gerard Whelan S.J., “The Continuing Significance of Bernard Lonergan,” La Civiltà Cattolica, September 6, 2008.

[2] Rất khó để có thể diễn tả hết được nội hàm của từ “Insight” trong tiếng Việt. Trong phạm vi bài viết, tác giả xin tạm “Insight” thành “Trực quan”. Tuy theo nghĩa thông thường từ “trực quan” vẫn không diễn tả được hết nội hàm của từ “Insight”. Nhưng trong bài viết từ “Trực quan” ở đây được dùng theo nghĩa: đó như là một sự hiểu biết sâu xa, cái nhìn thấu đáo, hay một sự thông hiểu xuyên suốt và có sự phản tỉnh của chủ thể trên sự vật, hiện tượng.

[3] Lonergan, Insight – A Study of Human Understanding (New York: Philosophical Library, 1957), 33.

[4] Lonergan, Insight, 118.

[5] cf. Hugo Meynell, An Introduction to The Philosophy of Benard Lonergan (London: Macmillan Academic and Professional Ltd, 1991), 33.

[6] cf. Lonergan, Insight, 119.

[7] Lonergan, Insight, 122.

[8] The Fellows of the Woodstock Theological Center, The Realms of Desire: an Introduction to the Thought of Bernard Lonergan (Washington DC: Woodstock Theological Center, 2011), 34.

[9] Lonergna, Insight, 16.

[10] Nhưng đúng hơn phải sử dụng từ: sư phạm, cách thức mà người thầy truyền đạt kiến thức cho học sinh. Thầy giáo thì không giải thích căn kẽ mọi điều nhưng chỉ khơi gợi lên cho học sinh và từ đó học sinh tự tìm tòi và thực hiện. Từ đó câu hỏi về cách thức đạt được tri thức thì quan trọng hơn và khó hơn là chính tri thức.

[11] Lonergan, Understanding and Being, ed., Elizabeth A. Morelli, & Mark D Morelli (Toronto: University of Toronto Press, 1990), 3.

[12] William A. Mathews, Lonergan’s Quest – A Study of Desire in the Authoring of Insight (Toronto: University of Toronto Press, 2005), 242.

[13] James L. Marsh, “Self-Appropriation Lonergan’s Pearl of Great Price”, in In Deference to the Other, ed. Jim Kanaris and Mark J. Doorley (Albany: State University New York Press, 2004), 54.

[14] Lonergan, Understanding and Being, 15.

[15] Ferena Lambe, Methodical Relations of Cognitional Theory, Epistemology and Metaphysics in Bernard Lonergan (Roma: Gregorian & Biblical Press, 2017), 308.

[16] cf. Ferena Lambe, 371.

[17] James L. Marsh, “Self-Appropriation Lonergan’s Pearl of Great Price,” 55.

[18] Ferena Lambe, 315.

[19] Lonergan, Insight, 19.

[20] Lonergan, Understanding and Being, 33.

[21] Vincent G. Potter, On the Understanding Understanding (New York: Fordham University Press, 1994), 35.

[22] cf. Lonergna, Insight, 4-6.

[23] Lonergan, Insight, xxviii.

[24] Ferena Lambe, 254.

[25] John D. Dadosky, Structure of Religious Knowing – Encountering the Sacred in Eliade and Lonergan (New York: State University of New York Press, 2004), 46.

[26] Lonergan, Insight, 10.

[27] cf. John D. Dadosky, Structure of Religious Knowing, 46.

[28] cf. John D. Dadosky, Structure of Religious Knowing, 47.

[29] cf. Lonergan, Verbum: Word and Idea in Aquinas, ed. David Burrell (Notre Dame: University of Notre Dame, 1967), 72.

[30] cf. Lonergan, Verbum: Word and Idea in Aquinas, 60-61.

31] Ferena Lambe, 261.

[32] Cyril Orji, Ethics and Bias in Africa – An Analysis of Bias, Decline, And Conversion Based on The Works of Bernard Lonergan (Milwaukee: Marquette University Press, 2008), 59.

[33] John D. Dadosky, Structure of Religious Knowing, 46.

[34] Michael Shute, The Origins of Lonergan’s Notion of the Dialectic of History: A Study of Lonergan’s Early Writings (Baltimore: University Press of America, 2003), 13.

[35] Cf. Daniel J. Sullivan, An Introduction to Philosophy (Illinois: Tan Books and Publishers, 1992), 248.

[36] Mark D. Morelli and Elizabeth A. Morelli, ed., The Lonergan Reader (Toronto: University of Toronto Press, 1997), 97.

[37] cf. Lonergan, Understanding and Being, ed. Elizabeth A. Morelli, & Mark D Morelli (Toronto: University of Toronto Press, 1990), 88.

[38] cf. Lonergan, Insight, 173.

[39] Lonergan, Understanding and Being, 92.

[40] Lonergan, Insight, 180.

[41] Lonergan, Understanding and Being, 86.

[42] Daniel J. Sullivan, An Introduction to Philosophy, 247.

[43] Lonergan, Method in Theology (Toronto: University of Toronto Press, 1990), 154.

[44] cf. Lonergan, Insight, 175.

[45] cf. Lonergan, Insight, 177.

[46] cf. Jeremy D. Wilkins, Before Truth – Lonergan, Aquinas, and the Problem of Wisdom (Washington DC: The Catholic University of America Press, 2018), 253.

[47] Lonergan, Understanding and Being, 91-92.

[48] Lonergan, Understanding and Being, 88.

[49] Lonergan, Understanding and Being, 89.

[50] Lonergan, Insight, 174.

[51] Lonergan, Insight, 175.

[52] cf. Lonergan, Insight, 175.

[53] cf. Lonergan, Insight, 211.

[54] Lonergan, Method in Theology, 89.

[55] Lonergan, Insight, 207.

[56] cf. Donna Teevan, Lonergan – Hermeneutics & Theological Method (Milwaukee: Marquette University Press, 2005), 189.