Cảm Thức Chung Minh Họa Quá Trình Phát Triển Nhận Thức Tự Nhiên Của Con Người Theo Quan Điểm Của Bernard Lonergan (P3)
Sau hai cuộc thế chiến, con người băn khoăn đi tìm ý nghĩa cuộc sống hay ý nghĩa của hiện hữu của chính bản thân mình. Chiều kích hiện sinh chi phối toàn bộ nền triết học lúc ấy. Bên cạnh đó, với việc khám phá ra chuỗi ADN năm 1952 và nhiều phát minh khoa học khác, chủ nghĩa khoa học thực nghiệm cũng dần chi phối não trạng của con người. Dường như khoa học thực nghiệm chiếm vị trí quan trọng trong việc truy tìm chân lý. Ít nhiều các trường phái triết học cũng bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa duy khoa học và chủ nghĩa khoa học thực nghiệm. Đối với nhiều triết gia thuộc trường phái này, việc truy tìm chân lý phải đưa ra những kết quả rõ ràng, chính xác như trong toán học hay chân lý phải được kiểm chứng như trong các ngành khoa học thực nghiệm.
Luận văn tốt nghiệp chương trình Dự Bị và Triết Học
Tại Học Viện Thánh Giuse – Dòng Tên Việt Nam
Học viên thực hiện: Giuse Nguyễn Thế Anh, S.J.
Giáo sư hướng dẫn: Giuse Vũ Uyên Thi, S.J.
Tháng 03 năm 2020
Quá trình phát triển biện chứng của cảm thức chung
Quá trình phát triển tri thức cụ thể trong cảm thức chung được diễn tả qua những căng thẳng căng thẳng như đã trình bày ở trên. Đi tìm sự hài hòa trong những căng thẳng cũng chính là phát triển.[117] Có sự phát triển cảm thức chung nơi chính chủ thể và trong các cộng đồng.
Phát triển biện chứng trong chủ thể:
Có thể nói, khi đề cập đến sự phát triển nơi chủ thể, Lonergan chú trọng đến yếu tố phát triển ý thức nơi chủ thể tính. Do vậy, sự phát triển nói chung có xuất phát điểm từ ý thức và phát triển là phát triển ý thức. Thomas J. McPartland cho rằng: “Lonergan nhấn mạnh đến tiến trình tìm kiếm cách ý thức là một tiến trình có cấu trúc và được vận hành bởi kinh nghiệm, hiểu biết và phán đoán.”[118]
Tri thức không chỉ là một ý tưởng và bản chất của nó là thứ điều được khám phá trong quá trình theo đuổi tri thức; nhưng còn làm cho chính bản thân chúng ta phát triển.[119] Phát triển tri thức không chỉ để thỏa mãn tính hiếu tri của con người, nhưng còn là để con người phát triển bản thân mình trở nên hài hòa với mình và với các tương quan khác. Có sự phát triển từ bên trong của con người khi đó mỗi chủ thể trở nên thức tỉnh (aware), ý thức rõ ràng, về những gì tri thức là; trở nên ý thức rõ ràng về sự phán đoán là gì; và thấy ý nghĩa ngầm ý nơi những gì tri thức và phán đoán là.[120] Trong chủ thể, cảm thức chung được tích lũy và phát triển ngang qua mẫu thức kinh nghiệm kịch nghệ. Một phần cảm thức chung được phát triển nơi chủ thể. Nơi chính chủ thể có sự tích lũy để phát triển trực quan. Phát triển là phát triển chiều kích ý thức, do đó, “sự phát triển của con người là sự phát triển bề trong nơi chủ thể, là chính bản thân tôi với các cấp độ vận hành khác nhau của ý thức.”[121]
Có hai yếu tố căng thẳng có tương quan biện chứng trong chủ thể: sự kiểm duyệt cho phép diễn tả hồn của việc vận hành nhu cầu qua lựa chọn những hình ảnh phù hợp hay sự kiểm duyệt cũng có thể kiềm chế chúng. Tác động của việc cho phép hay bỏ qua vận hành nhu cầu thay đổi lũy tĩch tri thức nơi chủ thể. Việc cho phép việc vận hành nhu cầu có thể mang đến sự pháp triển cụ thể và dự đè nén có thể ngăn cản sự phát triển ấy.[122] “Vì sự định hướng của kiếm duyệt bất cứ lúc nào và những nhu cầu thần kinh có thể gặp cả hai trường hợp, tùy thuộc vào quá khứ của dòng ý thức.”[123]
Sự phát triển của con người có thể nổi lên từ 3 khía cạnh cấp độ: cơ quan sinh học, ý thức và tri thức (intellectual).[124] Trong những cấp độ phẩm trật của hồn (psychic) và tri thức đó là những cấp độ của ý thức. Các yêu cầu thần kinh, mặc dù vô thức, vẫn tìm kiếm sự diễn tả hồn và hội nhập trong ý thức cảm giác, nhưng chúng ta có ý thức về các quá trình hữu cơ chỉ khi họ đang thất vọng từ các thói quen bình thường của mình. Lonergan cho rằng: “Con người, cũng như con vật, tồn tại những nhu cầu vật chất tiềm ẩn, và mẫu thức kinh nghiệm phải đương đầu những nhu cầu này bằng cách cấp cho chúng sự diễn tả hồn tâm linh và tích hợp ý thức. Ở con người, yếu tố sinh học không thể bị bỏ qua tuy nhiên, yếu tố ấy cần phải được chuyển đổi.”[125] Khi đề cập đến sự phát triển của con người, Thomas J. McPartland nhận định rằng: “Lonergan cho rằng ông có thể thiết lập đầy đủ các hoạt động nhận thức và mối quan hệ của họ trong ý thức trưởng thành, các giai đoạn phát triển cần thiết để đạt được ý thức trưởng thành khác biệt hoàn toàn của ý thức, và các loại thành kiến vừa ngăn chặn sự phát triển của cấu trúc nhận thức, vừa ngăn chặn sự thực thi trọn vẹn của hoạt động nhận thức.”[126]
Hơn nữa, con người còn là một chủ thể mang tính hiện sinh. Do đó, có một sự hội nhất trong hoạt động nhận thức bởi sự vận hành của sự cân nhắc, lượng giá và quyết định.[127]
“Con người không chỉ là một người của hiểu biết nhưng còn là con người của hành động; cùng một ý thức thông minh và lý trí làm cơ sở cho việc hành động cũng như hiểu biết; và từ bản sắc của ý thức, chắc chắn sẽ nảy sinh một sự cấp thiết không thể chối cãi cho sự tự nhất quán trong việc biết và làm.”[128] Phát triển chủ thể là phát triển những tính cách, đặc điểm đã cấu thành nên con người. Việc phát triển trong nơi chủ thể của cảm thức chung là dẫn đến “tiểu sử cá nhân,”[129] phát triển chủ thể chính là phát triển để đạt tới chính Sự tự thủ đắc.
Quá trình phát triển biện trong các cộng đồng
Quá trình phát triển cảm thức chung không chỉ dừng lại trong chủ thể. Nhưng sự phát triển ấy còn mở rộng ra hơn trong chiều kích tương quan với các cộng đồng. Sự phát triển nơi chủ thể cũng góp phần vào sự phát triển chung của cộng đồng. Cả hai phát triển cách biện chứng cách hài hòa để tạo nên một xã hội trật tự. Một mặt, cá nhân phát triển cộng đồng dân nguyên thủy tạo nên cộng đồng mang tính tự phát. Mặc khác, từ tính tự phát này có những phát minh trong công nghệ, dẫn đến sự khác biệt về kinh tế, định chính trị. Ngoài ra, sản phẩm tích lũy của những cảm thức chung đôi lúc không đến từ cộng đồng nguyên thủy nhưng lại đến từ cá nhân. Cá nhân là nguồn gốc của sự đột phá về công nghệ, kinh tế, chính trị và văn hóa.[130] Do vậy, quá trình biện chứng cộng đồng liên hệ đến nhiều dáng vẻ khác nhau của biện chứng cá nhân.
Theo đó, người ta có thể nói rằng một phép biện chứng trong cộng đồng có thể liên quan đến sự đa dạng nơi phép biện chứng từng cá nhân. Trong mối quan hệ này, cộng đồng giữ vai trò thống lĩnh, nó làm phát sinh các nhu cầu và định hình hướng đi trong việc hình thành tri thức nơi cảm thức chung.[131] Quá trình phát triển hay thoái hồi trong cộng đồng phụ thuộc vào sự thành công hay thất bại trong việc thích nghi tính liên chủ thể với những đòi hỏi nơi cảm thức chung.[132] Khi chủ thể nhận thức đặt trong bối cảnh của cộng đồng nguyên thủy, nếu có sự phát triển hài hòa thì tạo ra một trật tự tốt, hoa trái của sự phát triển cảm thức chung là trật tự của xã hội, một xã hội được phát triển hài hòa giữa cá nhân và tập thể, giữa kinh tế, chính trị, giữa văn hóa và xã hội. Tri thức con người tạo ra một xã hội phát triển và sự ổn định. Sự phát triển của kỹ thuật, dân sự, kinh tế, văn hóa phần nào cũng tương ứng hay tỉ lệ với sự phát triển của tri thức. Do đó, đích đến tối hậu của tri thức hay sự phát triển của con người là phát triển trong trật tự.
Quá trình phát triển biện trong cộng động nguyên thủy và dân sự được thể hiện ở sự căng thẳng của tính tự phát hay tính cảm xúc nơi liên chủ thể tính và những đòi hỏi lý tính trong việc phát triển xã hội. Sự ra đời của nhà nước dân sự không loại trừ xã hội nguyên thủy.[133] Chính sự căng thẳng giữa các khuynh hướng, đặc tính của liên chủ thể tự phát và tính tri thức trong trật tự xã hội làm nên cấu trúc của xã hội. Giá trị của phép biện chứng nằm trong sự liên quan của nó với kiến thức và hoạt động của con người, đặc biệt là “sự mở rộng tính lịch sử của cảm thức chung.”[134] Do đó, phân tích biện chứng rất hữu ích cho việc khám phá khái niệm cộng đồng và, cụ thể hơn, cách mà các cộng đồng đặc biệt đàm phán mối quan hệ giữa liên chủ thể và cảm thức chung mang tính thực hành, điều Lonergan miêu tả như là sự biện chứng trong cộng đồng.[135]
Theo quan điểm của Lonergan, có ba giai đoạn phát triển của tri thức trong lịch sử loài người. Đầu tiên, giai đoạn phát triển của các tri thức thực hành (common sense). Giai đoạn hai, sự phát triển của lý thuyết khoa học, giai đoạn này đề xuất những nền tảng hiện tượng vật chất hoặc văn hóa điều tác động đến việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn. Giai đoạn ba là những tiềm thể những phân tích tổng quát của nội giới được đặt nền trên sự tự thủ đắc, điều có thể xem xét mọi địa hạt của hữu thể như tỷ lệ (proportionate being).[136] Ba giai đoạn tri thức ấy cũng tương đồng với ba bước của tiến trình nhận thức. Sự phát triển của giai đoạn sau không loại bỏ nhưng vẫn cần sự bổ sung và thậm chí là vẫn tồn tại những căng thẳng giữa chúng. Tuy thế, sự phát triển không cố gắng loại bỏ sự căng thẳng nhưng cố gắng tìm sự hài hòa giữa chúng.
Kết luận
Có thể nói, con người luôn có khao khát tìm kiếm tri thức, tìm để biết cái mình chưa biết. Khi quan sát sự phát triển của triển tri thức con người ngang qua khái niệm cảm thức chung bằng lăng kính lịch sử, Lonergan đã chỉ ra một cấu trúc nhận thức tự nhiên của con người. Cấu trúc bất biến năng động này được thể hiện qua ba bước: kinh nghiệm, hiểu biết và phán đoán với vai trò ý thức nơi chủ thể. Đó không chỉ là khao khát được hiểu biết, nhưng còn là khao khát để xây dựng cuộc đời mình như một tác phẩm nghệ thuật trong sự hài hòa các tương quan. Trong tác phẩm nghệ thuật ấy, con người như chủ thể của tri thức phải biết chủ động sắp đặt thế giới ý nghĩa.[137]
Tiến trình nhận thức ít nhiều cũng được thể hiện qua việc phát triển hình thành và phát triển cảm thức chung trong cộng đồng nhân loại. Cảm thức có xuất phát điểm từ chính chủ thể với những bận tâm về cuộc sống hiện sinh của mình. Có những mẫu thức kinh nghiệm chi phối và làm nên chủ thể. Có thể nói, cảm thức chung như là bước đầu trong tiến trình nhận thức của Lonergan. Khởi đi từ chính kinh nghiệm của chủ thể, với những vấn đề cụ thể của cuộc sống. Tiếp đến, cảm thức chung không chỉ được phát triển trong chính chủ thể, nhưng còn được mở rộng ngang qua sự hình thành của các cộng đồng. Hơn nữa, nơi chính các cộng đồng cũng có tương quan biện chứng trong quá trình phát triển cảm thức chung. Đó có thể là bước thứ hai của tiến trình nhận thức, các kinh nghiệm được phổ quát hóa hay được công thức hóa trong các cộng động.
Tri thức không chỉ là cái hiểu rõ ràng, minh bạch được diễn tả nơi những con số, những công thức, định đề, hay những yếu tố phổ quát, nhưng còn bao gồm tri thức nơi cảm thức chung, những tri thức thực hành. Cảm thức chung chỉ là tri thức có tính tương đối, không có tiêu chuẩn để kiểm chứng cách khách quan như tri thức toán học hay khoa học thường nghiệm nơi lý trí thuần túy. Tiêu chuẩn ấy dựa trên cái “cảm”, cái đạo đức chung để tạo ra cái tốt trong một nhóm, một cộng đồng. Tuy nhiên, Lonergan khẳng định: “một lựa chọn lý tính không phải là chọn lựa một trong hai yếu tố hoặc là khoa học hoặc là cảm thức chung. Nhưng nó là chọn lựa của cả hai, đối với khoa học thì chú trọng đến những vấn đề phổ quát, còn với cảm thức chung bàn về những vấn đề cụ thể.”[138] Do đó, cảm thức chung vẫn có ý nghĩa nhất định trong việc phát triển tri thức. Cảm thức chung và khoa học tạo nên đôi cánh cho quá trình phát triển tri thức của con người. Giữa tri thức khoa học và tri thức thực hành có tương quan biện chứng với nhau trong sự phát triển của tri thức. Hơn nữa, nếu xem sự hiểu biết nơi cảm thức chung nơi những là những niềm tin chưa được kiểm chứng hay những câu chuyện thần thoại hoang đường thì chúng vẫn có một giá trị nhất định trong xã hội ngày này dù bị chi phối bởi kinh tế, khoa học kỹ thuật. Những mẫu chuyện thần thoại thậm chí là giả tượng ấy vẫn là nguồn cảm hứng để các nhà khoa học chế tạo ra những phát kiến trong để nâng cao cuộc sống của con người.
Trong cuộc sống thường nhật, cũng có nhiều có nhiều tương cặp có biện chứng tương tự: căng thẳng giữa luật và truyền thống, giữa lý trí và đức tin…. Thoạt nhìn, tưởng chừng chúng có khuynh phát triển theo những chiều hướng đối nghịch nhau, loại trừ nhau, tạo ra những căng thẳng không thể nào hòa hợp được. Nhưng chính sự căng thẳng này là điều kiện để cho tri thức con người phát triển. Xét cho cùng, chúng không loại trừ nhau, trái lại còn bổ sung cho nhau, cùng phụ thuộc vào sự phát triển của tương quan còn lại.
Khi xét đến quá trình nhận thức của Lonergan, nếu tri thức chỉ dựa trên một trong ba ba bước sẽ không có được một tri thức đầy đủ. Với thuyết nhận thức đặt nền trên ba bước, Lonergan phần nào phủ nhận trường phái duy tâm (idealism) khi cho rằng tri thức được rút kết từ tư tưởng. Lonergan không bắt đầu từ tư tưởng (thought), hoặc định đề, phát biểu hoặc khái niệm, nhưng bắt đầu từ việc tra vấn (questioning). Thực tại là những gì được trung gian qua sự vận hành mang tính nhận thức với ba cấp độ khác nhau: kinh nghiệm, hiểu biết và phán đoán. Do vậy, phần nào có thể xác định Lonergan thuộc trường phái duy thực phê phán (critical realism), chứ không theo trường phái duy tâm (idealism) hay duy nghiệm (empiricism) và cả duy thực ngây thơ (naïve realism).[139]
Mở rộng hơn nữa trong lãnh vực thần học, hệ thống thần học cũng phần nào khuôn theo bốn bước trong tiến trình nhận thức mà Lonergan đã đề ra. Ở giai đoạn đầu, có sự nghiên cứu để thu thập dữ liệu, sau đó giải thích để hiểu biết những ý nghĩa của những dữ liệu đó, tiếp theo là phán đoán những khẳng định nêu ra từ cách hiểu các dữ liệu đó, và cuối cùng là đưa ra quyết định để chọn một lập trường thần học. Sau khi đã quyết định được những lập trường, ít nhiều các nhà thần học thể hiện tính chủ quan nơi lập trường của mình. Ngoài ra, hệ thống các khoa của thần học cũng đi theo cấu trúc nhận thức nhưng thứ tự đảo lại: chúng ta đi từ nền tảng của quyết định nơi thần học căn bản, đến phán đoán các chân lý nơi thần học tín lý, đến sự hiểu biết nơi thần học hệ thống và cuối cùng kinh nghiệm hay trải nghiệm nơi thần học thực tiễn.[140]
Không dễ để có thể kín múc hết tư tưởng của Lonergan trong vài trang giấy. Từng khái niệm, từng vấn đề được ông giải quyết rất rõ ràng và rành mạch. Vẫn còn nhiều dang dở trong bài viết, đây chỉ là bước đầu để hiểu tư tưởng của Lonergan, vẫn còn nhiều điều chưa nắm bắt hết. Tiến trình nắm bắt tư tưởng của Lonergan nói riêng và của nhân loại nói chung là tiến trình không hồi kết được khởi đi từ kinh nghiệm, hiểu biết và phán đoán, và được mở rộng thêm bước hành động trong những tác phẩm hậu Trực quan. Tri thức nói riêng và triết học nói chung không nên bắt đầu với siêu hình nhưng nên bận tân đến những vấn đề cụ thể, những kinh nghiệm sống.[141] Chính cuộc sống là nguồn của mọi tri thức và triết học.
Nguồn: https://sjjs.edu.vn/
[117] Donna Teevan, Lonergan – Hermeneutics & Theological Method, 148.
[118] Thomas J. McPartland, Lonergan and the Philosophy of Historical Existence (Columbia: University of Missouri Press, 2001), 31.
[119] Lonergan, Understanding and Being, 99.
[120] Lonergan, Understanding and Being, 99.
[121] Thomas J. McPartland, Lonergan and the Philosophy of Historical Existence, 41.
[122] cf. Michael Shute, The Origins of Lonergan’s Notion of the Dialectic of History, 23.
[123] Lonergan, Insight, 217.
[124] Lonergan, Insight, 469.
[125] Lonergan, Insight, 187.
[126] Thomas J. McPartland, Lonergan and the Philosophy of Historical Existence, 40-41.
[127] Lonergan, Method in Theology, 34-41.
[128] Lonergan, Insight, 599.
[129] Lonergan, Insight, 218.
[130] cf. Thomas J. McPartland, Lonergan and the Philosophy of Historical Existence, 45.
[131] cf. Lonergan, Insight, 218.
[132] Mark D. Morelli and Elizabeth A. Morelli, The Lonergan Reader, 123.
[133] Xem thêm Shutte, 27.
[134] Lonergan, Insight, 422.
[135] Donna Teevan, Lonergan – Hermeneutics & Theological Method, 147.
[136] cf. Michael Shute, The Origins of Lonergan’s Notion of the Dialectic of History, 40.
[137] Nguyễn Luật Khoa, ed., Đức tin tìm kiếm sự hiểu biết (TPHCM: NXB Phương Đông, 2008), 77.
[138] Lonergan, Insight, 179.
[139] cf. Ferrera Lambe, 261.
[140] cf. Nguyễn Luật Khoa, Đức tin tìm kiếm sự hiểu biết, 79.
[141] Gerard Whelan S.J., “The Continuing Significance of Bernard Lonergan,” La Civiltà Cattolica, September 6, 2008.