Tri Thức Luận: Học Theo Thánh Tôma Aquinô (Phần 2)
Đối với thánh Tôma, tri thức con người là sự liên hợp giữa nhận thức giác quan và nhận thức trí năng. Cảm giác vừa có khía cạnh hữu chất vừa vô chất. Hữu chất vì là hành động của cơ quan thân xác (giác quan). Vô chất vì là hành vi tri thức với vai trò khởi động tiến trình tri thức, cung cấp dữ liệu cho trí năng thực hiện công việc tri thức. Nhận thức trí năng cũng vừa có tính thụ động vừa năng động. Tính chủ động có khả năng nâng dữ kiện giác quan lên tầm mức vô chất cần thiết để trí năng lãnh hội yếu tính của thực tại. Từ sự lãnh hội đơn thuần phát sinh các ý niệm hay quan niệm nhờ đó hình thành nên phán đoán khẳng định có chân lý hay không.
Tri Thức Học Theo Thánh Tôma Aquinô
Lm. GB. Nguyễn Đăng Trực, OP.
IV. CÔNG VIỆC TRI THỨC THEO THÁNH TÔMA
Để hiểu tiến trình tri thức của học thuyết thánh Tôma, chúng ta cứu xét 3 giai đoạn của công việc tri thức.
1. Giai đoạn giác ảnh (phantasm)
Giác ảnh là hình ảnh sự vật được ghi nhận trên giác quan nội (internal sense) con người. Giác ảnh tổng hợp những cảm giác khác nhau thành một tổng thể, tương tự như một bản chất chung (common nature), rồi thông tri cho trí năng tác động làm chất liệu cho công tác trừu xuất (abstraction). Vì thế không nên coi giác ảnh là ấn bản hay bản in của vạn vật mà chỉ nên coi là mô hình (scheme) của ngoại vật mà thôi. Những mô hình này đã mang phần nào tính chất phổ quát và chúng làm trung gian giữa cái đặc thù mà ta tri giác trực tiếp bằng giác quan và cái phổ quát đích thực mà trí năng sẽ đạt tới sau đó.
Giác ảnh là hình ảnh trung thành (likeness) của ngoại vật, nhưng đây là những hình ảnh còn vấy chất cảm giác, chưa là đối tượng cho trí năng được. Về điểm này, thánh Tôma viết: “linh hồn thì vô chất cách hiện thể (actually immaterial) nhưng lại ở năng thể đối với những hình ảnh đặc thù của vạn vật. Trái lại, các giác ảnh thì thực sự là những hình ảnh giống hệt (actual likeness) của sự vật, nhưng chúng chỉ có khả năng trở thành vô chất mà thôi. Bởi vậy không có chi cản trở để cũng một linh hồn duy nhất, xét như là vô chất hiện thể vừa có khả năng làm nên những vô chất hiện thể bằng cách trừu xuất chúng khỏi những điều kiện vật chất cá thể _ và cái khả năng này được gọi là trí năng tác động _ vừa có khả năng lãnh nhận những ảnh niệm kia _ và khả năng này được gọi là trí năng khả hữu _ xét vì nó ở năng thể đối với những ảnh niệm đó”.[13]
Đối với thánh Tôma, đối tượng của trí năng vừa phải in hệt (actual likeness) với ngoại vật, vừa phải hoàn toàn vô chất, trong hai điều kiện đó, trí năng tác động giữ một và giác ảnh giữ một. Trí năng thì hiện thể vô chất nhưng lại chỉ có khả năng lãnh nhận mô thể của ngoại vật thôi. Còn giác ảnh thì hiện thể giống hệt ngoại vật, nhưng lại chưa thực sự vô chất. Như thế trí năng và giác ảnh cũng đóng vai trò chủ động trong công việc tri thức. Trí năng đóng vai chính (tác viên), còn giác ảnh đóng vai phụ, vai nguyên nhân dụng cụ.
2. Giai đoạn ảnh niệm (species)
Đây là giai đoạn trừu xuất và lãnh nhận ảnh niệm vào trong trí năng khả hữu (possible intellect).
Thánh Tôma khẳng định: “trừu xuất là kết quả của hoạt động trí năng tác động (active intellect) trừu xuất ảnh niệm khả tri (intelligible species) khỏi giác ảnh (phantasm) hay hình ảnh sự vật khả giác. Trừu xuất không phải là một tiến trình cơ giới (mechanical process) lột bỏ vỏ ngoài chất thể để lấy ra cái lỗi khả tri (intelligible core) bên trong. Nó là một khả năng chủ động cứu xét bản chất của các sự vật khả giác, không quan tâm đến các điều kiện cá biệt của chúng”.[14]
Có ba loại trừu xuất
a/. Phương pháp trừu xuất chung (Abstractio totius – abstraction of the whole)
Chung cho mọi khoa học (trừ toán học và siêu hình học). Phương pháp trừu xuất này loại bỏ cái đặc thù để giữ lại cái phổ quát nơi nguyên lý chất thể. Trừu xuất trong tri giác thuộc loại này. Đối với thánh Tôma, trong phương pháp trừu xuất này, cần phân biệt hai loại chất thể:
– Chất thể cá thể hay cụ thể (individuated matter – signate matter),
– Chất thể chung (common matter): chung cho mọi thành phần của một loại.
Khi tri giác, chúng ta trừu xuất chất thể cá thể, vẫn giữ lại chất thể chung, vì vạn vật hiện hữu trong vũ trụ đều có mô thể và chất thể, cho nên quan niệm trừu xuất theo kiểu abstractio totius phải bao hàm cả hai nguyên lý đó. Về điểm này thánh Tôma viết: “một số người trong đó có (Averroes) cho rằng ảnh niệm của sự vật chỉ là mô thể mà thôi. Nếu vậy, chất thể không nằm trong định nghĩa của sự vật. Do đó phải phân biệt hai loại: chất thể chung và cá biệt. Chất thể chung như xương thịt và chất thể cá biệt: xương thịt này. Bởi vậy trí năng trừu xuất ảnh niệm sự vật khỏi chất thể khả giác cá thể (individual sensible matter) chứ không trừu xuất khỏi chất thể khả giác chung (common sensible matter). Thí dụ: trừu xuất ảnh niệm con người khỏi xương thịt này chứ không trừu xuất hết xương thịt”[15] và thánh Tôma gọi loại trừu xuất này là abstractio a materia signata)
b/. Phương pháp trừu xuất toán học (abstractio formoe – abstraction of form)
Phương pháp này loại bỏ cả signatematter và comon matter chỉ giữ lại chất thể khả tri (intelligible matter) tức lượng tính thuần túy (trừu xuất lượng tính ra khỏi phẩm tính khả giác đi liền với nó – abstracting quantity from the sensible qualities which are subsequent to it) như màu sắc chẳng hạn. Khi định nghĩa hình chữ nhật… ta chỉ cần nói lên mô thể của loại hình đó, được xây dựng trên nền một không gian thuần túy mà thôi. Thánh Tôma gọi loại trừu xuất này là abstractio a materia sensibili, không lãnh hội bằng giác quan nhưng bằng trí năng.
c/. Phương pháp trừu xuất siêu hình (abstractio absoluta – Absolute alstraction)
Thánh Tôma gọi là separatio hay abstractio ab omni materia (loại cả ba chất thể: individuated matter, common matter, intelligible matter). Gọi là separatio vì khoa siêu hình học có đối tượng là hữu thể xét như là hữu thể, nghĩa là bất cứ hữu thể đó là hữu thể vật chất hay hữu thể tinh thần.
Về vấn đề này thánh Tôma viết: “Đối tượng tri thức thì tương xứng với khả năng tri thức (the object of knowledge is proportionate to the power of knowledge) khả năng tri thức có ba cấp độ (grades). Trước hết là khả năng tri thức xét như là hành động của cơ thể tức giác quan. Đối tượng của bất cứ khả năng giác quan nào cũng là mô thể xét như đang hiện hữu nơi chất thể vật thể (corporeal matter). Vì chất thể này là nguyên lý cá thể (individuality) cho nên khả năng của giác quan là tri thức cái đặc thù mà thôi. Loại khả năng tri thức khác, vừa không phải là hành động của cơ thể vừa không liên kết với vật thể: đó là trí năng của thiên thần. Đối tượng của khả năng tri thức này là: mô thể tự lập tách khỏi vật chất (a form subsisting apart from matter). Còn trí năng loài người thì ở vào trung độ: trí năng này không phải là hành động của một cơ thể nhưng là một khả năng của linh hồn, là mô thể của thân thể. Bởi vậy đặc tính của nó là tri thức mô thể đang hiện hữu nơi một vật thể cá thể nhưng không xét như là mô thể của sự vật đặc thù đó. Tri thức cái ở trong chất thể đó chính là trừu xuất mô thể ra khỏi chất thể cá vật được biểu tượng nơi các giác ảnh. Bởi vậy nhất thiết phải nói rằng trí năng ta tri thức các sự vật vật chất bằng cách trừu xuất ra khỏi các giác ảnh, rồi nhờ các vật thể được tri thức kiểu đó, chúng ta đi tới chỗ có một tri thức nào đó về những hữu thể vô hình”.[16]
3. Giai đoạn quan niệm hay ngôn từ
Cuối cùng thánh Tôma trình bày tiến trình tổng quát công việc tri thức của con người như sau: trong công việc tri thức, chủ thể hữu tri lần lượt liên can đến bốn yếu tố này:

– 1/. Sự vật mà ta tri thức;
– 2/. Ảnh niệm khả tri (intelligible species) nhờ nó mà trí năng trở thành hiện thể;
– 3/. Ấn ảnh (impressed species): Trí năng thụ động.
– 4/. Diễn ảnh (expressed species) hay quan niệm của trí năng (concept of intellect).
Cần tìm hiểu khái niệm ấn ảnh và diễn ảnh hay quan niệm trong tiến trình tri thức của thánh Tôma.
Theo cách diễn giải của cha Copleston (Aquinas, 1955, Penguin) về tiến trình tri thức của thánh Tôma: trí năng tác động (active intellect) khám phá yếu tố mô thể phổ quát hàm chứa trong giác ảnh (phantasm), rồi trừu xuất yếu tố đó thành ảnh niệm khả tri (intelligible species) tạo ra nơi trí năng thụ động (passive intellect) một ảnh niệm gọi là ấn ảnh (impressed species). Đối với thánh Tôma trí năng thụ động cũng ở trong tư thế tiềm thể (potentiality) đối với đối tượng khả tri, do đó ấn ảnh có nhiệm vụ hiện thể hóa (actuate – đánh thức, khởi động) tiềm năng tri thức của trí năng thụ động. Khi thực hiện chức năng đó, ấn ảnh cũng xác định đối tượng tri thức rõ nét hơn. Nếu trí năng thụ động chỉ tiếp nhận ấn ảnh một cách thụ động thì nó chưa phải là tài năng tri thức, vì sự tiếp nhận lúc đó chỉ là thu động trong khi tri thức là một hành động nội tại năng động. Tuy nhiên ấn ảnh không phải là đối tượng được tri thức. Nó vẫn chỉ là cái qua đó đối tượng được tri thức. Nói rõ hơn ấn ảnh chỉ là phương tiện qua đó (medium through which- medium in quo) như qua kính chúng ta nhìn thấy vật gì đó. Nhưng thánh Tôma chưa cho giai đoạn lãnh nhận ảnh niệm hay ấn ảnh là hành động tri thức thực sự. Chỉ khi nào trí năng thụ động với ấn ảnh làm phát sinh nơi trí năng khả hữu một diễn ảnh (expressed species) hay quan niệm, tức khắc trí năng khả hữu trở thành hiện thể, khởi động giai đoạn tri thức đích thực. Diễn ảnh ví như phương tiện trong đó (medium in which – medium in quo) như khi ta soi hình trong gương. Theo các học giả đáng tin cậy thì giai đoạn diễn ảnh cũng chính là ngôn từ hay quan niệm. Chỉ khi nào thực sự có sự hiểu biết, trí năng mới có thể phát biểu ra quan niệm hay ngôn từ.
Nhưng quan niệm cần có một sự đối chiếu với thực tại, vì quan niệm hướng chú ý chúng ta về sự vật chứ không hướng chú ý chúng ta về chính nó. Mặc dù quan niệm thì in hệt như đối tượng, nhưng để cho sự in hệt của quan niệm đối với đối tượng trở thành một cái chi được ta tri thức và do đó đạt tới chân lý thực tại trong ý thức chúng ta, thì trí năng cần phải đưa ra một phán đoán về thực tại đó. Đây cũng chính là cơ sở của chân lý. Nên biết, theo thánh Tôma, trí năng gồm ba chức năng:
– 1/. Lãnh hội (apprehension);
– 2/. Phán đoán (Judgement);
– 3/. Lý luận (reaconing).
Hai chức năng lãnh hội và phán đoán thuộc về tri thức học, còn chức năng lý luận thuộc về luận lý học. Trí năng lãnh hội yếu tính sự vật, nhưng yếu tính không phải là hiện hữu. Chúng ta có thể lãnh hội yếu tính sự vật nhưng có thể chưa biết vật đó hiện hữu hay không. Phải nhờ đến chức năng phán đoán dựa trên kinh nghiệm (existential judgement) mới nhận thức được hiện hữu hay không. Như vậy, ta biết được yếu tính sự vật qua lãnh hội đồng thời biết được sự hiện hữu của nó qua phán đoán. Hai hoạt động này diễn ra cùng một lúc.
❖ Sự khác biệt giữa thánh Tôma và Aristote về quan niệm tri thức
Đối với Aristote, khi tri thức, mô thể của đối tượng hiện hữu trong trí năng, chủ thể tri thức, còn chất thể ở bên ngoài vì như cục sáp nhận dấu ấn của chiếc nhẫn mà không cần chất kim loại làm nên chiếc nhẫn. Như vậy mô thể vô chất thể (without matter) chỉ là yếu tính (essence), vì theo ông thật phi lý khi cho rằng đối tượng chất thể lại hiện hữu trong trí năng như ngoài thế giới vật lý.
Đối với Tôma, quan niệm của Aristote không hoàn toàn thỏa mãn, vì chất thể là một yếu tố thiết yếu đối với một bản thể (substance : form + matter). Nếu chất thể không thuộc thành phần đối tượng tri thức thì tri thức đó xem ra bất toàn. Tôma cho rằng trong tri thức không phải chỉ mô thể mà cả ảnh niệm của đối tượng cũng ở trong trí năng ta. Ảnh niệm là sự kết hợp giữa mô thể và cái mà thánh nhân gọi là chất thể chung (common matter) – Xem tiến trình trừu xuất của thánh nhân trên đây. Chất thể chung khác chất thể được cá thể hóa (individuated matter) là chất thể gồm khối lượng vật lý của đối tượng. Tuy nhiên lý thuyết của ngài cũng bị phản đối vì xem ra đối tượng tri thức cũng vẫn là ý niệm hơn là chính thực tại. Theo đó quan điểm của ngài hình như vẫn mang màu sắc duy tâm (idealism).
Có lẽ tiên liệu được phê phán trên, nên ngài đã nêu ra những khác biệt sau đây:
– 1/. Vì bao hàm được ý niệm chất thể nên ảnh niệm của đối tượng xem ra vẫn giống với đối tượng hơn là chỉ có mô thể vô chất như quan niệm của Aristote.
– 2/. Lại nữa, theo ngài, khoa học không nhằm vào nhận thức đối tượng đặc thù, mà theo đuổi cái chung cho mọi đối tượng thuộc một loại nào đó. Về phương diện này, quan điểm của thánh nhân tương đồng với quan điểm khoa học. Một hòn bida của cơ thủ A rơi khỏi bàn bi, điều đó không phải là mối quan tâm trực tiếp của các nhà vật lý. Cái mà họ quan tâm trực tiếp là qui luật chi phối sự chuyển động của bất cứ sự rơi nào.
– 3/. Hơn nữa, thánh nhân còn phân biệt giữa cái được tri thức (quod, which) và cái nhờ đó (quo, y which) ta tri thức. Xác định cái được tri thức là xác định đối tượng của tri thức, còn xác định cái nhờ đó mà ta tri thức là muốn xác định phương tiện dùng để tri thức như trên ngài đã trình bày, ảnh niệm của sự vật không phải là chính đối tượng tri thức nhưng là phương tiện để nhận thức thực tại hầu dẫn tới chân lý. Thánh nhân viết: “một số triết gia chủ trương rằng, các khả năng tri thức ở trong ta chỉ biết được những giao động (ấn tượng – impressions) của chính mình mà thôi. Chẳng hạn, giác quan chỉ biết được những giao động của nó thôi tức ảnh niệm mà nó lãnh nhận.
Như vậy, ảnh niệm sẽ chính là cái mà ta tri thức. Nhưng quan niệm này tỏ ra sai lầm rõ ràng vì hai lý do:
– Vì những điều chúng ta hiểu biết cũng là đối tượng của khoa học. Vậy nếu những gì chúng ta hiểu biết chỉ là những ảnh niệm khả tri trong linh hồn thì khoa học sẽ không quan tâm tới những thực tại ở ngoài linh hồn mà chỉ quan tâm tới những ảnh niệm khả tri trong linh hồn, như thế có khác gì quan điểm của nhóm Plato khi cho rằng chỉ có khoa học về những ý niệm và theo họ đó là những điều được nhận thức cách hiện thể.
– Và sẽ mắc phải sai lầm của các triết gia cổ đại chủ trương rằng tất cả những cái “dường như” (seems) đều chân thật và những điều tương phản cũng đều đúng, vì nếu khả năng tri thức chỉ biết được những giao động của riêng mình thì nó cũng chỉ phán đoán về những giao động ấy thôi. Trong tình huống ấy sự vật dường như tùy theo giao động xúc tác lên khả năng tri thức.
Như vậy, khả năng tri thức sẽ luôn luôn phán đoán về những giao động của riêng mình. Như thế mọi phán đoán đều đúng cả. Chẳng hạn, nếu vị giác chỉ cảm nhận những giao động hay cảm thụ những ấn tượng của riêng mình, lúc đó ai có vị giác lành mạnh sẽ phán đoán: mật ong có vị ngọt và họ cho rằng phán đoán của họ là đúng. Cũng thế, những ai có vị giác nhiễm bệnh sẽ phán đoán: mật ong có vị đắng điều này cũng đúng vì mỗi người phán đoán theo những cảm thụ vị giác của riêng mình. Như thế mọi ý kiến đều đúng và nói tổng quát, mọi nhận thức đều đúng. Do đó phải nói rằng, đối với trí năng, ảnh niệm khả tri là cái nhờ đó trí năng tri thức…
Bởi vì trí năng tự phản tỉnh về mình, cho nên nhờ sự phản tỉnh này, nó tri thức được công việc tri thức của nó và tri thức được ảnh niệm (là cái nhờ đó nó tri thức). Như vậy ảnh niệm khả tri là cái được tri thức thứ yếu (secondarily) mà thôi, còn cái mà ta tri thức trước tiên là chính sự vật mà ảnh niệm khả tri kia là hình ảnh.[17]
Xưa nay nhiều người giải thích méo mó học thuyết của thánh Tôma như sau: khi ta sờ vào sự vật, thoạt tiên ta thấy lạnh tay (cảm giác) rồi nhân cái lạnh tay này ta mới nhận ra có sự vật gì lạnh vừa chạm vào tay ta. Nhưng qua đoạn văn trên đây, ngài quả quyết rằng, ta biết cái đặc thù trước rồi mới biết cái phổ quát sau. Ta chỉ tri thức cái phổ quát (ảnh niệm) trong tiến trình tri thức nghĩa là trong chính hành vi quay về với giác ảnh mà thôi. Khi thánh Tôma nói rằng trí năng ta chỉ đạt tới các ảnh niệm khả tri của sự vật mà thôi vì tri thức của ta là hành vi nội tại không động chạm chi đến sự hiện hữu của đối vật, và xét về phương diện này thánh Tôma đã nói rằng ảnh niệm khả tri là cái ta tri thức đầu tiên, nhưng lại phải nhớ rằng ảnh niệm bao giờ cũng là ảnh niệm của một sự vật cụ thể. Do đó, dầu có nói rằng đối tượng trực tiếp của trí năng là ảnh niệm thì câu này không những không chối sự hiện hữu của đối vật, mà thực ra càng nói lên sự hiện hữu đó. Vì chính tính chất khả tri của sự vật đã làm nên tính chất khả tri của quan niệm.
V. KHẢ NĂNG VÀ GIỚI HẠN CỦA TRI THỨC
Trên đây khi nghiên cứu về đối tượng của trí năng, thánh Tôma vừa nhấn mạnh lên tính chất cụ thể của tri thức, vừa nhấn mạnh lên tính chất phổ quát của nó, đồng thời trí năng còn có một cửa mở vô hạn có thể tri thức được các bản thể biệt lập. Ở đây chúng ta muốn nói đến tri thức của ta về Thiên Chúa. Theo thánh Tôma, con người không thể tri thức bản tính Thiên Chúa như vẫn tri thức bản tính vạn vật, ngài đã đưa ra nguyên tắc căn bản của khoa tri thức học của ngài: “Khi còn ở đời này, chúng ta không có khả năng tri thức những bản thể biệt lập bởi vì bản tính của trí năng ta là gắn liền với giác ảnh (phantasm). Như vậy, ở đời này trí năng ta càng không có khả năng tri thức bản tính Thiên Chúa là bản tính còn siêu việt trên tất cả các bản thể biệt lập’’.[18]
Thánh nhân nhấn mạnh vào bản tính của trí năng con người, con người chỉ có khả năng tri thức niệm tính (quiddity) của các sự vật vật chất mà thôi, không thể có một thứ tri thức nào khác gọi la tri thức theo bản tính. Ngài viết: “Những lời đó của thánh Âu Tinh: _Truth must be known first and through it other things can be known and this seems to mean the divine truth. It appears then, from this words, that we see God himself who is his own truth and thus we known other things through him[19] _ không có nghĩa là ở đời này chúng ta có thể tri thức chính bản thể của Thiên Chúa, nhưng chúng ta chỉ tri thức nhờ hình bóng mà thôi. Thánh Tông đồ cũng chủ trương như thế về tri thức mà ta có ở đời này, khi ngài nói: Bây giờ ta nhìn thấy qua hình bóng và cách bí ẩn – mặc dầu hình bóng này, trí tuệ ta có diễn tả Thiên Chúa một cách gần giống hơn các sự vật thấp kém khác, tuy nhiên tri thức mà ta có thể có về Thiên Chúa vẫn không vượt qua tầm loại tri thức phát sinh do giác quan, bởi vì chính linh hồn cũng chỉ biết bản tính mình do sự nó có tri thức các bản tính vạn vật. Như vậy, theo con đường này, thì tri thức của ta về Thiên Chúa cũng không cao hơn khi ta nhờ quả mà biết nhân”.[20]
Nhờ quả mà biết nhân, đó là kiểu nói diễn tả tri thức loại suy.
Chương 88 phần I, Tổng Luận Thần Học thánh Tôma bàn về tri thức các thực tại siêu việt. Ngài nhắc đến lập trường của Plato cho rằng không những ta có khả năng tri thức những thực tại siêu việt nhưng đó còn là những đối tượng ta tri thức trước tiên và dễ dàng nhất. Sau đó, ngài nhắc đến lập trường của Aristote mà ngài cho là đúng với kinh nghiệm hơn, vì Aristote cho rằng trí năng con người có tương quan bản nhiên với những bản tính của sự vật vật chất, bởi đó, khi tri thức bao giờ ta cũng phải quay về với giác ảnh. Như vậy, theo khả năng tri thức hiện nay của ta thì những bản thể vô chất vì không rơi vào giác quan và trí tưởng tượng của ta nên không thể tri thức chúng cách trực tiếp và ngay từ đầu được.
Nhờ quả mà biết nhân, nhờ vạn vật mà biết Thiên Chúa, như vậy, chỉ nhờ hình bóng để có một tri thức nào đó về Thiên Chúa mà thôi . “Vì các bản thể vô chất thuộc một trật tự khác hẳn với các niệm tính của sự vật vật chất, cho nên dầu trí tuệ ta có trừu xuất những niệm tính đó cách hoàn hảo thế nào đi nữa thì chúng cũng không bao giờ đạt tới trình độ giống với bản chất vô chất. Thành thử, chúng ta không thể nhờ các bản thể vật chất để tri thức các bản thể vô chất một cách đích thực”.[21]
Dựa trên lập trường này, thánh Tôma giải quyết dễ dàng tri thức mà ta có thể có về thần linh (thiên thần…) và Thiên Chúa.
1. Thần Linh
Về thần linh, ta có thể có một tri thức nào đó. “Tự những sự vật vật chất chúng ta có thể tiến lên chỗ có một tri thức nào đó về các sự vật vô chất, nhưng không thể đạt được tri thức đích thực, bởi vì ta không có cách nào mà so sánh thực sự hai loại thực tại đó, nếu có những nét tương tự giúp ta lấy những vật hữu hình để tri thức những vật vô hình, thì những nét tương tự đó cũng xa xôi lắm”.[22]
2. Thiên Chúa
Về Thiên Chúa, thánh Tôma viết: “Các bản thể vô chất không thuộc về cùng một thực tại như những bản chất vật chất, bởi vì chất thể và năng thể ở hai loại đó không cùng một thể như nhau, tuy nhiên chúng cùng ở trong một loại luận lý với nhau, vì chúng cùng ở trong phạm trù “bản thể ” (thụ tạo). Còn Thiên Chúa thì không có chi chung với các sự vật vật chất, dầu xét theo loại thực tại, dầu xét theo loại luận lý, bởi vì Thiên Chúa không có ở trong một loại. Cho nên nhờ tính chất tương tự của sự vật vật chất, ta có thể tri thức một cái chi tích cực về các Thiên thần, xét như cùng chung một loại, nếu không cùng chung một thứ. Còn Thiên Chúa thì không có cách nào để tri thức Ngài”[23].
Dầu vậy, chúng ta đừng tưởng thánh Tôma rơi vào chủ nghĩa bất khả tri. Chúng ta không có đường đi trực tiếp đến với Thiên Chúa, nhưng chúng ta có lối đi gián tiếp, đó là – nhờ hiệu quả mà tri thức nguyên nhân . Do đó, ngài viết: “Trong những lập luận để minh chứng sự hiện hữu của Thiên Chúa, chúng ta không nên lấy bản tính tức niệm tính Thiên Chúa làm phương tiện, nhưng thay vì niệm tính, ta phải lấy hậu quả làm phương tiện… Do những hậu quả như thế mà ta nhận ra ý nghĩa của danh từ Thiên Chúa, bởi vì các danh từ của Thiên Chúa đều đã được đặt cho Ngài xét theo những hậu quả Ngài thực hiện”.[24]
Thánh Tôma tỏ ra thận trọng nhưng chắc chắn khi xác định khả năng tri thức về Thiên Chúa của con người, giúp chúng ta vừa ý thức về tính chất vô cùng siêu việt của Thiên Chúa, vừa nắm chặt mối tương quan giữa Thiên Chúa với con người.

❖ Tổng hợp ba dạng thức tri thức
Sau hai chương bàn về tri thức học của một số triết gia tiêu biểu trong lịch sử triết học và tri thức học thánh Tôma, chúng ta có thể tổng hợp tiến trình tri thức của họ dưới ba dạng thức sau đây:
a/. Nhóm duy thực cực đoan (extreme realism)
Nhóm này cho rằng tri thức trí năng (intellectual knowledge) là con đường duy nhất dẫn đến hiểu biết thực tại đích thực:
– 1). Plato chủ trương các ý niệm là những thực tại đích thực và vĩnh cửu. Sự vật xuất hiện trước giác quan chúng ta chỉ là những hình bóng của ý niệm. Tri thức thực tại chỉ đạt được bằng cách thoát khỏi sự lừa dối của giác quan. Ông minh họa quan điểm này bằng ẩn dụ cái hang.
– 2). Sau này René Descartes muốn thiết lập triết học và khoa học trên ý niệm rõ ràng và phân minh. Đối với ông ý niệm rõ ràng là dấu hiệu của chân lý và ông đã phát triển phương pháp hoài nghi để đi đến khẳng định sự hiện hữu của cái tôi là chân lý không thể tranh cãi được. Nhưng cái tôi ấy lại đồng hóa với tư duy nên ông đã cho rằng những ai chủ trương có một thế giới hiện thực là ngây thơ.
– 3). I. Kant vẫn tiếp tục dòng suy tư đó. Theo ông chúng ta không thể biết được thực tại tự thân nhưng có thể hiểu biết cơ cấu tư duy của trí tuệ và chúng ta áp đặt cơ cấu đó lên kinh nghiệm giác quan của chúng ta làm cho nó có ý nghĩa.
b/. Nhóm duy danh (nominalism)
Nhóm này chủ trương chỉ có cá thể hiện hữu, còn hạn từ chỉ bản chất chung đều vô nghĩa. Nhóm duy danh nhấn mạnh hay đề cao tri thức giác quan vì mọi sự xuất hiện trước giác quan đều là cá thể (individual). Như thế phủ nhận hay coi nhẹ tri thức trí năng và trừu tượng hóa. William of Occam là thành viên chính của nhóm này. Ông cho rằng một hạn từ chung chỉ là âm vang vô nghĩa (a wind of the voice – flatus vocis). Duy danh mở đường cho duy nghiệm và duy thực nghiệm (positivism) đại diện là Thomas Hobbes, John Locke, George Berkeley, David Hume và nhiều triết gia cận đại khác. Jean Paul Sartre cũng gần với quan điểm duy danh. Không có cái gọi là bản chất vì không có Thiên Chúa sáng tạo thì không có ai ấn định bản chất mỗi loại. Mỗi cá thể muốn là gì thì tự thiết kế, tự do lựa chọn. Nếu chỉ có cá thể hiện hữu và không có bản chất thì cũng không có nguyên lý phổ quát. Như vậy mỗi tình huống đều khác nhau cách triệt để. Luân lý hoàn cảnh (situation ethics) phát sinh từ thuyết duy danh.
c/. Nhóm duy thực chiết trung (moderate realism)
Chủ thuyết này ở trung độ giữa duy thực cực đoan và thuyết duy danh. Duy thực chiết trung phân biệt chính sự vật và cách thế sự vật hiện hữu. Sự vật hiện hữu trong trí năng theo cách thế phổ quát (universal), ngoài thực tại nó hiện hữu như một cá thể (individual). Duy thực chiết trung là quan điểm của Aristote, Tôma Aquinô, và các triết gia hiện đại Công giáo như Jacques Maritain và Etienne Gilson. Duy thực chiết trung thừa nhận cả tri thức giác quan, giới thiệu sự vật theo cá thể tính của chúng và cả tri thức trí năng, giới thiệu sự vật theo bản chất phổ quát của chúng. Vì đặt căn bản trên sự kiên định của bản chất con người nên duy thực chiết trung thừa nhận luật tự nhiên làm nền tảng cho tiêu chuẩn chân lý luân lý.
Nguồn: catechesis.net
>>Đọc Phần 1<<
[13] S. T. Ia, q. 79, a. 4, ad. 4
[14] S. T. Ia, q. 85, a. 1, ad. 4
[15] S. T. Ia, q. 85, a. 1, ad. 2
[16] S. T. Is, q. 85, a. 1
[17] S. T. Ia, q. 85, a. 2
[18] S. C. G. lib. III, c. 4, 1
[19] S. C. G lib. III, c.47, 4
[20] S. C. G, lib. III, c. 47, 8-9
[21] S. T. Ia, q 88, a. 2
[22] S. T. q 88, a. 1, ad. 1
[23] S. T. Ia q 88, a. 2, ad. 4
[24] S. C. G, lib. I, c. 12