Tri Thức Luận: Học Theo Thánh Tôma Aquinô (Phần 1)

Đối với thánh Tôma, tri thức con người là sự liên hợp giữa nhận thức giác quan và nhận thức trí năng. Cảm giác vừa có khía cạnh hữu chất vừa vô chất. Hữu chất vì là hành động của cơ quan thân xác (giác quan). Vô chất vì là hành vi tri thức với vai trò khởi động tiến trình tri thức, cung cấp dữ liệu cho trí năng thực hiện công việc tri thức. Nhận thức trí năng cũng vừa có tính thụ động vừa năng động. Tính chủ động có khả năng nâng dữ kiện giác quan lên tầm mức vô chất cần thiết để trí năng lãnh hội yếu tính của thực tại. Từ sự lãnh hội đơn thuần phát sinh các ý niệm hay quan niệm nhờ đó hình thành nên phán đoán khẳng định có chân lý hay không.

Tri Thức Học Theo Thánh Tôma Aquinô

Lm. GB. Nguyễn Đăng Trực, OP.

Đối với thánh Tôma, tri thức con người là sự liên hợp giữa nhận thức giác quan và nhận thức trí năng. Cảm giác vừa có khía cạnh hữu chất vừa vô chất. Hữu chất vì là hành động của cơ quan thân xác (giác quan). Vô chất vì là hành vi tri thức với vai trò khởi động tiến trình tri thức, cung cấp dữ liệu cho trí năng thực hiện công việc tri thức. Nhận thức trí năng cũng vừa có tính thụ động vừa năng động. Tính chủ động có khả năng nâng dữ kiện giác quan lên tầm mức vô chất cần thiết để trí năng lãnh hội yếu tính của thực tại. Từ sự lãnh hội đơn thuần phát sinh các ý niệm hay quan niệm nhờ đó hình thành nên phán đoán khẳng định có chân lý hay không.

I. BẢN CHẤT CỦA TRI THỨC

Tri thức theo mô hình Tôma là sự thông liên giữa chủ thể tri thức và thực tại hay đối tượng bị tri phát sinh sự tương ứng giữa chủ thể tri thức và thực tại.

Tuy nhiên, cơ bản mà nói, tri thức là hoạt động do chủ thể tri thức thực hiện (chủ động), như thế nó khác biệt với một sự kiện xảy đến với một chủ thể (thụ động). Và cũng không giống như một vật tác động lên một vật khác như lửa đun sôi nước.

Vì hoạt động tri thức mang tính nội tại (immanent) nơi chủ thể chứ không phải là những hoạt động chuyển hóa (transitive action) như lửa với nước. Khi đun sôi nước dường như diễn ra một sự đồng hóa liên hợp (union), nhiệt độ lửa và nước đạt tới cấp độ tương đương. Lúc đó nước nhận một mô thể mới, mô thể nóng từ lửa, nhưng lại mất đi mô thể mát cố hữu ban đầu của nó. Đàng khác mô thể nóng trong nước cũng không y hệt như mô thể nóng trong lửa. Trái lại trong tri thức trí năng và ngay cả trong nhận thức giác quan, mặc dù có sự tiếp nhận nào đó, nhưng mô thể của chủ thể tri thức không bị hủy hoại vì không phải là sự tiếp nhận chất thể hay vật lý nhưng là sự tiếp nhận vô chất (immaterial). Do đó khi tri thức, chủ thể tri thức trở thành đối tượng tri thức mà vẫn giữ được căn tính của mình, mình vẫn là mình. Được như vậy là nhờ cái gọi là trật tự ý hướng (intentional order) hay hiện hữu ý hướng (intentional existence). Nói cách khác trong tri thức, chủ thể trở thành đối tượng tri thức theo ý hướng (intentionally), và từ đó chủ thể tri thức sở hữu được một sự hoàn hảo mới của đối tượng bị tri. Vì theo Tôma, mô thể là nguyên lý hoàn hảo của sự vật mà chủ thể tri thức tiếp nhận được mỗi khi tri thức và trở nên một hay đồng hóa với chúng. Vì muốn trở thành vật bị tri, chủ thể tri thức phải sở hữu chúng nhưng sở hữu đối tượng trong tri thức không phải là sở hữu vật lý (physical possession). Đó là sở hữu mô thể của đối tượng hay sở hữu nguyên lý làm cho đối tượng là cái mà nó là (essence). Linh hồn một cách nào đó trở nên mọi sự là như vậy. Xét về phương diện thực thể (entitatively) chủ thể và đối tượng vẫn giữ căn tính của mình. Tri thức đá mà không hóa đá, tri thức lửa mà không nóng đỏ lên. Nhưng xét về phương diện ý hướng (intentionally), chủ thể tri thức trở nên đối tượng bị tri khi sở hữu được mô thể của đối tượng đó, vì thế thánh Tôma viết: “Intellectus in actu est intellectum in actu”: trí năng hiện thể là chính đối tượng tri thức ở hiện thể; nói cách khác, trí năng khi thực sự tri thức thì trở nên sự vật mà ta tri thức. Vật hữu tri phân biệt với vật vô tri ở chỗ vật vô tri chỉ có mô thể của chính nó trong khi vật hữu tri có khả năng thích ứng để sở hữu mô thể các sự vật khác nữa vì ý niệm của vật bị tri khi được tri thức thì ở trong chủ thể tri thức.[1]

II. CHỦ THỂ TRI THỨC

Tri thức được hình thành qua nhận thức giác quan và nhận thức trí năng, tuy nhiên nhận thức giác quan là vấn đề được tìm hiểu rộng rãi trong môn nhân triết học Tôma, nên trong giáo trình này, chương cuối cùng, phần tổng quan tri thức học Tôma chỉ sơ lược những gì liên quan trực tiếp tới tiến trình tri thức mà thôi.

Đối với thánh Tôma, tri thức là công việc của trí năng (intellect) và ngài nói đến ba thứ trí năng khác nhau:

– 1/. Trí năng thụ động (passive intellect);

– 2/. Trí năng tác động (active intellect);

– 3/. Trí năng khả hữu (possible intellect).

Nhưng chúng ta đừng quên lập trường của ngài về nhất thể tính con người hồn xác, nghĩa là tri thức không phải là sự kiện riêng của thân xác hay hồn thiêng và ba trí năng không phải là những bản thể biệt lập, chúng chỉ là những khả năng của linh hồn.

1. Trí năng thụ động

Như chúng ta đã biết về tri thức học Aristote, trí năng tác động soi sáng đối tượng giác quan, biến nó trở thành khả tri (intelligible) tương tự như ánh sáng làm cho màu sắc được nhìn thấy rõ ràng. Đối với ông trí năng tác động là năng lực thuần túy, không pha trộn tiềm thể tính, tách biệt (separate), bất tử (immortal) và vĩnh cửu (eternal). Còn trí năng thụ động có nhiệm vụ tiếp nhận các mô thể đã được trí năng tác động trừu xuất khỏi sự vật đặc thù và trở thành đối tượng nhận thức. Vào thời Trung cổ, nhiều triết gia Hồi giáo Ả rập đã giải thích trí năng tác động của Aristote là hoạt động của trí năng thần linh, soi sáng tâm trí con người. Còn trí năng thụ động đối với họ là linh hồn biệt loại của con người.

Nhưng thánh Tôma lại cho rằng trí năng khả hữu mới là mô thể tri thức của con người còn trí năng thụ động chẳng qua chỉ là khả năng thụ lãnh những ảnh niệm khả tri do trí năng tác động cung cấp. Một trí năng thụ động, mặc dầu không thụ động thuần túy, không thể thừa hành công việc tri thức là công việc của một trí năng hành động. Ngài viết: “Con người có hành động riêng biệt cao hơn các sinh vật khác. Đó là hành động hiểu biết và lý luận: hành động này là hành động của con người xét như là con người. Do đó, trong con người phải có một nguyên lý để ban cho con người cái hình sắc đặc trưng của nó (special nature), mà nguyên lý này không thể là trí năng thụ động, bởi vì nguyên lý hành động riêng biệt của con người phải bất khả thụ động và không trộn vào vật thể, mà trí năng thụ động lại trái với những điều kiện này”.[2] Chúng ta sẽ trở lại vấn đề trí năng thụ động trong một tiết thích hợp dưới đây, để bàn về hai trí năng với chức năng quan yếu: trí năng khả hữu và trí năng tác động. Trí năng khả hữu được coi là chủ thể tri thức, tức chủ thể lãnh nhận thành quả của tri thức, còn trí năng tác động thì được coi là tính chất linh động và hoạt động của linh hồn. Cụ thể hơn, trí năng tác động làm công việc trừu xuất dựa trên những dữ kiện do giác năng cung cấp để tạo nên những ảnh niệm khả tri (intelligible species) cho trí năng khả hữu.

2. Trí năng khả hữu

Tại sao thánh Tôma gọi trí năng này là trí năng khả hữu? Cần nhớ rằng, đối với thánh nhân: tri thức là trở nên sự vật mà ta tri thức, nhưng trở nên ở đây chỉ là trở nên theo ý hướng (intentionally) mà thôi. Cần phân biệt, xét về phương diện thực thể (entitatively) chủ thể tri thức và đối tượng tri thức vẫn giữ căn tính của mình, mình là gì thì vẫn vậy. Mình vẫn là cái mình là, nhưng xét về phương diện ý hướng hay tri thức (cognitively), khi tri thức là giả thiết một sự kết hợp nào đó. Vì để trở nên một với sự vật mà mình nhận thức, thì phải sở hữu nó, phải đồng hóa với đối tượng mà mình tri thức, nhưng sở hữu ở đây không phải là sở hữu theo nghĩa thể lý (physical). Đó là sở hữu mô thể (form) của đối tượng, sở hữu cái nguyên lý (principle) làm cho một vật là cái mà nó là. Như vậy, khi tri thức, chủ thể tri thức vẫn giữ cái căn tính của mình, chỉ thêm cho mình sự hoàn hảo là mô thể của đối tượng mà mình tri thức. Nói cách khác chủ thể tri thức và đối tượng bị tri xét về vật lý hay thể lý (physical) thì vẫn khác biệt, nhưng đồng hóa (identical) xét về phương diện tri thức (cognitively). Thực vậy, để nói lên bản chất của tri thức là một sự gặp gỡ giữa chủ thể và đối tượng, thánh Tôma đã định nghĩa tri thức là: “sự tương ứng giữa trí năng và sự vật” (adaequatio intellectus et rei), và ngài còn nói mạnh hơn trong câu đáng ghi nhớ này: “intellectus in actu est intellectum in actu”, trí năng hiện thể là chính đối tượng tri thức ở hiện thể. Nghĩa là chính lúc tri thức (in actu) thì chủ thể và đối tượng là một.

Vậy tri thức là trở nên đối tượng nhờ ý hướng. Như thế trí năng tức chủ thể tri thức không là cái chi một cách cố định và cũng không trở nên cái gì một cách cố định. Thánh Tôma đã nêu tính cách “khả hữu” của trí năng con người như sau: “những vật hữu tri và những vật vô tri phân biệt nhau ở chỗ này: các vật vô tri không có mô thể nào khác ngoài mô thể của chính mình, còn vật hữu tri thì có cả mô thể của sự vật khác nữa, bởi vì ảnh niệm của vật bị tri ở trong vật chủ tri. Vậy, hiển nhiên là bản chất của vật vô tri thì hạn hẹp và bị giới hạn nhiều hơn. Còn bản tính của vật hữu tri thì có biên độ lớn hơn và ngoại trương rộng hơn. Vậy một cách nào đó, linh hồn là tất cả mọi sự”.[3]

Tri Thức Học Theo Thánh Tôma Aquinô

Khi thánh Tôma viết “có mô thể của mình và có mô thể của sự vật khác nữa”, ngài có ý cho ta nhớ lại: mô thể là cái làm cho sự vật A là sự vật A và B là B. Mô thể A ở trong sự vật A và làm cho nó là sự vật A. Còn khi ý thức tôi hướng về sự vật A thì ý thức tôi là sự vật A. Tuy nhiên mô thể sự vật A có ở trong ý thức tôi đi nữa thì cũng chỉ ở đó do ý hướng của tôi. Thành thử khi nào tôi không hướng về sự vật A nữa thì ý thức tôi hết có mô thể A và lập tức lại có những mô thể khác.

Chính vì sự luôn luôn thay đổi mô thể ý hướng (intentional form) như thế, nên linh hồn ta không định hình, không cố định, nhưng luôn luôn giữ bản tính khả hữu của nó. Do đó nó có tên là trí năng khả hữu. Thánh Tôma gọi linh hồn ta, tức trí năng khả hữu là khả năng trở nên tất cả mọi sự.

Thánh nhân đặc biệt nhấn mạnh tính chất khả hữu của trí năng khả hữu và ngài coi đó là bản tính biệt loại của trí năng con người. Cũng như sau này, ngài sẽ nhấn mạnh lên tính chất khả tri (intelligibility) của vạn vật. Tính chất khả tri của vạn vật không bộc lộ ngay cho tâm trí ta như Plato tưởng, nhưng bị giấu kín trong mỗi vật cá thể và trí tuệ phải trừu xuất thì mới nhận ra được mô thể của chúng. Chỉ có tri thức thực sự (intellectus in actu) khi trí năng ta là sự vật mà ta biết. Trước khi có tri thức hiện thể đó, trí năng ta chỉ là trí năng khả hữu. Thánh Tôma bàn về vấn đề này trong Tổng luận thần học.[4] Nơi đây ngài nhắc tới lập trường của nhóm duy nhiên (natural philosophers) và nhóm Plato. Cả hai nhóm đều chủ trương một thứ tri thức hiện thể hay tức khắc, tuy bằng hai cách khác nhau:

– 1/. Nhóm duy nhiên cho rằng “cái tương tự được biết bởi cái tương tự” (like is known by like), vì linh hồn và vạn vật được cấu tạo bởi cùng các nguyên tố giống nhau, cho nên linh hồn ta tri thức vạn vật một cách hiện thể. Họ cho rằng linh hồn có bản tính chung với vạn vật đến độ ai cho rằng nguyên tố của vạn vật là lửa thì linh hồn cũng có bản tính của lửa. Vì họ cho rằng sự vật hiện hữu trong linh hồn cách chất thể (materially) nên mọi nhận thức của linh hồn đều hữu chất, bất kể là trí năng hay giác năng. Nhưng đối với Aristote, linh hồn không thực sự (actually) tổng hợp mọi sự vật. Cái hợp thể không thể biết được nhờ những yếu tố của nó, cho nên ta không thể nhờ những nguyên tố (lửa, nước, khí,…) mà biết được vạn vật. Theo thánh Tôma, nếu linh hồn nhờ những đơn tố của vạn vật mà biết vạn vật thì vạn vật, ngay cả bùn đất cũng có tri thức, bởi vì chúng cũng được cấu thành bởi những nguyên tố như linh hồn;

– 2/. Nhóm Plato chủ trương những mô thể tự tại, cho nên giữa linh hồn vô chất và những mô thể vô chất đó cũng có sự thông hiểu hiện thể. Cái vô chất tìm đến cái vô chất cũng tương tự chủ trương của nhóm duy nhiên. Thánh Tôma cũng phi bác chủ trương này vì nếu thực sự linh hồn đã có tri thức trước khi nhập vào xác thì không lẽ linh hồn lại quên tất cả như thể chưa biết gì. Đàng khác, kinh nghiệm cho thấy khi con người thiếu một giác quan nào thì nó không thể có những tri thức thuộc giác quan đó. Vậy phải kết luận: thuyết Plato hoàn toàn mơ hồ.

Sau khi đã giúp hiểu rõ bản chất của trí năng khả hữu, thánh Tôma còn cho rằng chính trí năng khả hữu là mô thể tri thức của con người. Như chúng ta đã nghiên cứu trên đây, tri thức của triết học hiện đại đề cao tương đồng tính (correlat) giữa khả năng tri thức và đối tượng tri thức, thánh Tôma cũng nhấn mạnh đến sự tương ứng (adoequatio, conformity) như sau: “Vì khả năng tri thức thì tương ứng với đối tượng mà ta có thể tri thức, cho nên bản thể khả tri tách biệt khỏi vật thể là đối tượng riêng biệt của trí năng thiên thần là loại trí năng hoàn toàn biệt khỏi vật thể. Còn trí năng con người là loại trí năng kết hợp với vật thể, thì có đối tượng riêng là niệm tính (quiddity) tức bản tính (nature) hiện hữu trong một chất thể vật thể rồi nhờ những bản tính của các sự vật hữu hình này, linh hồn có thể lên tới chỗ tri thức phần nào những sự vô hình”.[5]

Khả năng tri thức thì tương ứng với đối tượng mà ta có thể tri thức (the power of knowledge is proportioned to the thing known) vì đối tượng của khả năng tri thức con người là những mô thể hiện thể của vạn vật, nhưng chưa hiện thể với khả năng tri thức của ta, bởi vì sẽ phải trừu xuất nó ra, cho nên khả năng tri thức của con người có tên là trí năng khả hữu. Do đó theo thánh nhân: “Cái nhờ đó một vật nào hoạt động thì phải gọi là mô thể của vật đó. Bởi vì cái chi hoạt động cũng chỉ hoạt động theo phương diện nó là hiện thể mà thôi. Nhưng đàng khác mỗi vật chỉ ở hiện thể được là nhờ mô thể của mình”. Cho nên mặc dù theo Aristote thì trí năng tác động (active intellect) được coi trọng hơn, vì theo ông trí năng tác động mang yếu tố thần linh. Còn đối với thánh Tôma thì trí năng tác động chỉ được coi là một đặc tính của linh hồn con người và chỉ trí năng khả hữu được ngài coi là mô thể của trí năng con người. Vậy chúng ta nên nhớ vai trò quan trọng của trí năng khả hữu. Chính trí năng khả hữu tri thức và hiểu biết: “the possible intellect by which the soul understands”,[6] mặc dù nó phải nhờ đến trí năng tác động, như sẽ trình bày dưới đây.

3. Trí năng tác động (active intellect)

Thánh Tôma cũng coi trí năng tác động là một khả năng (power) của linh hồn. Ngài viết: “Theo quan niệm của Plato thì không cần phải nhận có trí năng tác động để làm cho có những cái khả tri hiện thể. Bởi vì Plato chủ trương rằng những mô thể của vạn vật thì hiện hữu vô chất thể và như vậy chúng là khả tri rồi […] Trái lại vì Aristote không nhận có những mô thể vạn vật hiện hữu một cách vô chất thể, mà những mô thể hiện hữu trong chất thể thì không khả tri cách hiện thể, cho nên những bản tính, tức mô thể vạn vật mà chúng ta tri thức, đã không khả tri một cách hiện thể. Đàng khác không cái chi được đem từ năng thể tới hiện thể mà không nhờ một hữu thể nào đó ở hiện thể: như giác quan ở hiện thể là nhờ có cái khả giác hiện thể. Bởi vậy, trí năng có một khả năng nào đó để làm thành những khả tri hiện thể, bằng cách trừu xuất các ảnh niệm ra khỏi những điều kiện chất thể của chúng, vì thế mà cần phải nhận có trí năng tác động”.[7]

Cần lưu ý hai điểm:

– 1/. Thánh Tôma không gọi trí năng tác động là một tài năng riêng biệt, nhưng ngài gọi nó là khả năng (power) của trí năng, tức khả năng tri thức của con người. Ngài có ý nhắc đi nhắc lại chữ “khả năng” để gọi bản chất của trí năng tác động và giúp ta ý thức rằng, đó không phải là một thực tại biệt lập, nhưng chỉ là một khả năng, đặc tính của linh hồn. “Nếu trí năng khả hữu là thành phần của linh hồn chứ không phải là một bản thể biệt lập, thì trí năng tác động là cái làm cho có những ành niệm khả tri trong trí ta, cũng không phài là một bàn thể biệt lập, nhưng chỉ là một thứ khả năng hoạt động của linh hồn mà thôi”.[8]

– 2/. Còn về vai trò của trí năng tác động tức công việc trừu xuất, thánh nhân cũng đề phòng chúng ta đừng mắc vào những ngộ nhận: theo ngài, trí năng tác động không có liên can gì với các sự vật khả giác, nhưng chỉ liên can và hành động tới trí năng khả hữu mà thôi. “Trí năng tác động không làm thành những ảnh niệm khả tri hiện thể để rồi chính nó tri thức chúng nhất là như kiểu một bản thể biệt lập. Nhưng nó chỉ hoạt động với mục đích là cho trí năng khả hữu tri thức được, nhờ những ảnh niệm kia, cho nên trí năng tác động chỉ làm cho các ảnh niệm trở thành thích ứng với sự tri thức của trí năng khả hữu”.[9]

Nói rằng trí năng tác động không có liên can gì đến các sự vật khả giác và chỉ liên can đến những hành động của trí năng khả hữu mà thôi, nói thế không có nghĩa là trí năng tác động không tác động tới các đối tượng khả giác, nhưng chỉ có ý nhấn mạnh vào sự kiện này: trí năng tác động không thực sự trừu xuất các mô thể khả tri ra khỏi những điều kiện khả giác của chúng để rồi chính nó tri thức chúng, nhưng chỉ hành động trong tương quan mật thiết với trí năng khả hữu với mục tiêu làm cho trí năng khả hữu có khả năng nhận được các mô thể trừu tượng của vạn vật mà thôi.

Đã rõ, trừu xuất là hành động của trí năng tác động. Trừu xuất là chuyển từ giác ảnh (sense species) sang ảnh niệm khả tri (intelligible species), nhờ ảnh niệm khả tri này, trí tuệ thấy xuất hiện một yếu tính để chiêm ngưỡng và lãnh hội. Nói cách khác, yếu tính nằm trong sự vật hay thực tại nhưng chưa khả niệm ở hiện thể, vẫn còn ở năng thể, nên trí năng tác động phải hiện thể hóa cái khả niệm đang nằm trong sự vật thành ảnh niệm khả tri để trở thành đối tượng của trí năng khả hữu.

III. ĐỐI TƯỢNG TRI THỨC

Khác với chủ thuyết duy nghiệm chỉ cho con người biết được ấn tượng của sự vật trên giác quan, còn chủ thuyết duy trí cũng chỉ nhận cho con người khả năng tri thức được những bản thể duy niệm. Trái lại, theo thánh Tôma, con người có khả năng tri thức từ những hữu thể hữu hình đến những hữu thể vô hình, vì ngài phân biệt tri thức con người gồm hai đối tượng: 1) đối tượng riêng biệt, 2) đối tượng tương xứng.

1. Đối tượng riêng biệt (proper object)

Thánh nhân đã dành hẳn một chương 84 trong Tổng luận thần học phần I, để bàn về đối tượng riêng biệt của con người.

Đối tượng riêng biệt của trí năng con người là niệm tính (quiddity) tức mô thể đang hiện thể nơi vật thể cá thể, đặc thù nhưng không xét như nó là mô thể của vật thể đặc thù, cá thể đó (form existing individually in corporeal matter but not as existing in this individual matter) (nhờ trừu xuất). Như vậy đối tượng riêng biệt của tri thức ta vừa cụ thể, vừa phổ quát. Phổ quát vì ta không xét như nó là mô thể của sự vật mà ta đang đối diện với, nhưng cụ thể vì ta chỉ biết được là nhờ sự vật đặc thù đang đối diện với ta. Trước khi nói tới niệm tính, thánh nhân trình bày cho ta biết quan điểm của ngài về giác ảnh (sense species -phantasm) tức mô thể khả giác (sensible form), ngài bắt đầu bằng sự xác nhận lập trường của ngài: “principium totius nostroe cognitiones est a sense”. Đối với giác quan ngài nhắc lại thái độ của một số triết gia: Plato coi linh hồn và xác là hai bản thể biệt lập, cho nên sự vật chỉ có thể kích động cơ thể ta thôi, rồi hồn ta nhận định các biến cố thân thể mà có những hình ảnh khả tri. Còn Aristote cho rằng vật thể thực sự tác động đến trí năng ta và cần có sự can thiệp của trí năng tác động hòng biến thể những mô thể khả giác kia thành những ảnh niệm khả tri, tuy nhiên ông vẫn rụt rè với tri thức giác quan. Còn thánh Tôma ngài viết: “về phía các giác ảnh (phantasm) công việc tri thức có nguyên nhân là giác quan. Nhưng bởi vì các giác ảnh không đủ khả năng biến cải trí năng khả hữu nên chúng cần phải nhờ trí năng tác động để trở thành khả tri hiện thể, vì thế không thể nói rằng, tri thức giác quan là nguyên nhân trọn vẹn và toàn hảo của tri thức trí tuệ mà chỉ có thể gọi nó là chất liệu của nguyên nhân thì đúng hơn”.[10]

Sau giai đoạn chuẩn bị, tức giai đoạn cảm giác, bây giờ đến giai đoạn tri thức thực sự mà thánh Tôma gọi là tri thức trí tuệ (intellectual knowledge). Đối tượng của tri thức trí tuệ là niệm tính (quiddity) (yếu tính, niệm tính, bản tính thường có ý nghĩa tương đương nhau. Tuy nhiên niệm tính không nhất thiết phải là yếu tính hoàn toàn đúng nghĩa, tức yếu tố làm nên sự vật, nhưng là một yếu tố nào đó của yếu tính cũng đủ).

Chúng ta cần nhận thức rõ ràng quan điểm của ngài về vấn đề niệm tính: “Trong trạng thái của đời sống hiện nay của ta khi mà trí năng ta kết hợp với một cơ thể dễ cảm thụ (passible) thì trí năng không tri thức điều chi một cách hiện thể mà lại không nhờ đến giác ảnh… Ai cũng có thể nghiệm thấy nơi chính mình điều này khi ta cố gắng tri thức điều chi, thì ta thường tạo cho mình những giác ảnh để làm như tỉ dụ và ta nhìn vào những giác ảnh đó như nhìn vào cái mà ta đang cố gắng tìm hiểu…

Lý do là: khả năng tri thức thì tương ứng với cái khả tri. Theo đó trí năng thiên thần là trí năng hoàn toàn biệt khỏi vật thể, cho nên có đối tượng riêng biệt là bản thể khả tri biệt khỏi vật thể. Còn như trí năng con người là trí năng kết hợp với thân thể thì có đối tượng riêng biệt là niệm tính tức bản tính hiện hữu trong một chất thể vật thể… Bản tính đó hiện hữu nơi một cá thể và không thể tách biệt khỏi chất thể vật thể. Thí dụ bản tính loại đá thì hiện hữu trong viên đá này và bản tính loài ngựa thì hiện hữu trong con ngựa này. Về các loại khác cũng thế.

Bởi thế ta không thể tri thức cách toàn vẹn và thực sự bản tính loài đá hay bất cứ bản tính sự vật vật chất nào trừ khi ta biết nó như nó đang hiện hữu nơi cái đặc thù. Và ta lãnh hội cái đặc thù nhờ giác quan và trí tưởng tượng. Cho nên muốn tri thức đối tượng riêng biệt của mình, trí năng phải quay lại với giác ảnh hòng tìm thấy, bản tính phổ quát đang hiện hữu nơi cái đặc thù. Giả sử đối tượng riêng biệt của trí năng ta là mô thể biệt lập hoặc giả thử bản tính của những sự vật khả giác không hiện hữu nơi các vật đặc thù như chủ trương của nhóm Plato thì không cần trí năng ta luôn phải quay về với giác ảnh như thế”.[11]

Trong đoạn văn trên đây, ta cần hiểu rõ hai khái niệm quan trọng của thánh nhân: 1) niệm tính và 2) sự quay về với giác ảnh.

a/. Niệm tính (quiddity)

Thánh Tôma vạch ra cái thang bậc của tri thức: bậc thấp nhất là tri thức giác quan (tri thức của loài vật) có đối tượng riêng biệt là: mô thể xét như là mô thể của cá vật đặc thù. Bậc thứ hai là tri thức của con người, tri thức của trí năng, có đối tượng riêng biệt là mô thể đang hiện hữu nơi một cá vật đặc thù nhưng không xét như nó là mô thể của cái đặc thù đó. Lên một cấp nữa là tri thức thiên thần với đối tượng riêng biệt là: mô thể biệt lập vô chất. Trên cùng là trí năng Thượng Đế với đối tượng là chính bản thể của Ngài. Chỉ một mình trí năng Thiên Chúa có khả năng tri thức được bản thể hiện hữu của Ngài.

Nhìn lại đối tượng riêng biệt của trí năng con người, ta thấy đối tượng đó là bản tính cụ thể (concrete essence) nghĩa là bản tính đang hiện hữu nơi những vật đặc thù cụ thể và tri thức con người bao giờ cũng phải quay về với giác ảnh nghĩa là gắn liền với sự vật cụ thể. Như vậy tri thức theo quan niệm của thánh Tôma là một tri thức hết sức cụ thể. Niệm tính (quiddity) trong học thuyết của ngài là một quan niệm cụ thể. Cái mà triết học hiện đại cho là cần thiết.

b/. Giác ảnh (phantasm)

Tri thức con người theo thánh Tôma bao giờ cũng phải quay về với giác ảnh (turning to the phantasm) nhưng không dừng lại ở đó như chặng cuối của tiến trình tri thức, mặc dù nơi giác ảnh đã có một phần của cái phổ quát. Đối tượng của tri thức con người là mô thể đang hiện hữu nơi cá vật đặc thù điều này nhấn mạnh vào tính chất cụ thể của đối tượng tri thức con người nhưng lại không xét như nó là mô thể của cái đặc thù đó, điều này nói lên tính chất phổ quát của tri thức con người không bị giam hãm trong cái hiện hữu đặc thù. Như vậy ngài vừa nhấn mạnh lên tính chất cụ thể vừa nhấn mạnh lên tính chất phổ quát của tri thức con người. Nói một cách dễ hiểu hơn, vì trí năng con người vô thể (incorporeal) nên không tiếp xúc với ấn tượng giác quan (sensory impressions). Do đó phải liên tục quay về với giác ảnh nhờ nó thông tri về các biến cố cảm giác nếu trí năng không luôn luôn quay về với giác ảnh thì tuyệt nhiên không thể thông tri những quan niệm về thế giới cho kẻ khác cách chính xác.

2. Đối tượng tương xứng (adequate object)

Trí năng con người không bị giới hạn trong lãnh vực của niệm tính (quiddity) mà tất cả những gì hữu (being) đều là đối tượng của trí năng con người. Nếu không, trí năng con người bị giam tù một cách tuyệt vọng trong lãnh vực những cái đặc thù.

Thực ra khi định nghĩa đối tượng riêng biệt của trí năng con người là mô thể đang hiện thể nơi vật thể nhưng không xét nó là mô thể của vật thể đặc thù đó, thánh Tôma đã đồng thời nhận thức tầm rộng rãi của tri thức con người rồi: trong cái đặc thù cụ thể kia, đã có cái phổ quát và đã có cái vô chất. Nếu trí tuệ ta bị giới hạn chặt chẽ vào đối tượng riêng biệt của nó, thì nó sẽ không biết được cái chi khác ngoài cái yếu tính của các sự vật vật chất, cũng như thị giác chỉ tri giác được cái trương độ có màu sắc mà thôi. Nhưng theo nền tảng, linh hồn ta có bản tính tinh thần, cho nên có một cửa mở vô hạn, do đó ta có thể suy luận được về các bản thể biệt lập (thiên thần…).

Đối tượng tương xứng của trí tuệ con người là hữu thể xét theo tất cả bề rộng của hữu thể. Phân tích sự phán đoán ta thấy rằng cái mà ta đạt tới trước nhất nơi vạn vật là hữu thể của chúng: cái tôi tri giác kia hiện hữu. Đó là nhận thức đầu tiên của trí tuệ. Do đó người ta phải nhận rằng hữu thể mà ta đạt được như vậy không nhất thiết là hữu thể này hay hữu thể kia, nhưng bất cứ hữu thể nào và tất cả những gì bao gồm dưới ý niệm của hữu thể. Như vậy hữu thể thực tại, hữu thể luận lý, hữu thể hiện thể, hữu thể khả hữu, hữu thể thiên nhiên và hữu thể siêu nhiên đều nằm trong lãnh vực của trí năng con người, bởi vì trí năng được coi là khả năng của hữu thể [12] và chỉ có niệm tính của sự vật vật chất là được lãnh hội một cách trực tiếp, còn trường hợp các thực tại siêu việt được lãnh hội cách loại suy (analogy).

Nguồn: catechesis.net

>>Đọc Phần 2<<

[1] S. T. Ia q. 14; a. 1

[2] Summa contra gentiles, lib II. ch. 60, 2

[3] S. T. Ia, q. 14, a. 1

[4] Ia, q. 84, a. 2, ad.3

[5] S. T. Ia, q. 84, a. 7

[6] S. C. G. lib II c.6, 22

[7] S. T. Ia, q. 79, a. 3

[8] S. C. G, lib. II, c. 76, 4

[9] S. C. G. lib. II, c. 76, 3

[10] S. T. Ia, q. 84, a. 6

[11] S. T. Ia, q. 84, a. 7

[12] De veritate, q1. a.1