Chiến lược nào cho thách đố trần-tục-hóa ?

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

- Có nhiều dấu hiệu tích cực trong đời sống Giáo hội Việt Nam trong thời gian qua. Nhưng trước mắt GHVN vẫn là một thách đố lớn mà Giáo hội toàn cầu đã, đang phải đối diện một cách khó khăn... Lý do nào khiến GHVN có được những tín hiệu tích cực ? Nguy cơ nào đang chờ đợi ? Cần chuẩn bị gì cho thế hệ tương lai ?

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

1. Thách đố của trào lưu trần tục hóa

1.1. Nhận định chung

- Có nhiều dấu hiệu tích cực trong đời sống Giáo hội Việt Nam trong thời gian qua. Nhưng trước mắt GHVN vẫn là một thách đố lớn mà Giáo hội toàn cầu đã, đang phải đối diện một cách khó khăn... Lý do nào khiến GHVN có được những tín hiệu tích cực ? Nguy cơ nào đang chờ đợi ? Cần chuẩn bị gì cho thế hệ tương lai ?

- Kitô giáo đối diện với một tình huống “mới” : trào lưu tục hóa. Chúng ta không còn sống trong một “kitô giới” như thời Trung Cổ... Mặc dù Vatican II đã mở cửa với thê giới hơn 50 qua, tâm thức của người Kitô hữu, từ các đấng bậc. vẫn chưa tìm được sự gặp gỡ sâu xa giữa đức Tin và đời sống thường ngày. Cụ thể, ta có thể thấy ngôn ngữ nhà đạo vẫn là một thế giới, nếu không xa lạ, thì cũng “ở cõi trên”; và giá trị nhà đạo vẫn ít đụng tới ý nghĩa thật mang lại sức sống chân thực; Kitô giáo chưa ý thức trách nhiệm xã hội như nội dung căn bản của đức Tin. Có lẽ căn bệnh trầm kha của đời sống đức Tin trong Giáo hội Việt Nam là thái độ tách biệt đức tin khỏi cuộc sống đời thường ngày (X. MV...)

- Đức J. Ratzinger, tức lấy lại câu chuyện anh hề của Kierkegaard, lại kể lại trong chương I tác phẩm “Đức Tin Kitô Giáo, Hôm qua và Hôm nay”... Nơi khác, ngài từng nói : người ta đã chạy theo học thuyết Marx và mơ một thứ “cánh chung nội tại” trong “thiên đường cộng sản” suốt thời gian từ cuối thế kỷ XIX đến gần hết thế kỷ XX. Thế mà khi thiên đường cộng sản sụp đổ, người ta vẫn chưa trở lại với cánh chung Kitô giáo, mà lại rơi vào thuyết tương đối...

1.2. Thái độ của Giáo hội qua tâm thức các giáo sĩ

- Có người nhận xét : vào nhà thờ, người Kitô hữu trở về với thời Trung Cổ... Sứ vụ và lời giảng của linh mục bị “lạc đề” khi không chạm được đến cuộc sống thật. Giống như tình trạng các mầu nhiệm trong Giáo hội, đặc biệt là mầu nhiệm “Một Chúa Ba Ngôi” trước kia....

- Linh mục thiếu “kinh nghiệm người” để có thể minh giải sứ điệp Kitô giáo. Do đó, Bí tích mang dáng dấp “bùa chú” (nói là dáng dấp, nghĩa là trong cách thức biểu lộ bên ngoài) khi mà nghi thức bí tích không còn diễn tả được ý nghĩa gần gũi giữa ý nghĩa siêu nhiên và việc cử hành dựa theo kinh nghiệm người. Cũng thế, Lời Chúa thường được triển khai trong khía cạnh luân lý thuần túy mà không nối được “văn hóa tôn giáo” với hệ giá trị nhân bản đích thực.

- Linh mục thường có một “ý thức bất cân xứng”. Linh mục không đối diện với vận mạng của nhân loại nhưng bận tâm về những chi tiết lặt vặt về tổ chức, về quản trị, về phong hóa, hoặc quan tâm đến những yêu sách mang tính cục bộ. Triết gia Bertrand Russell nói : Thế giới bị đe dọa bởi bom nguyên tử, những các linh mục chỉ quan tâm các con chiên của mình có còn đồng trinh hay không ! Dĩ nhiên, một sơ đồ lớn cần sự chuẩn xác của từng chi tiết nhỏ. Nhưng có không ít trường hợp người ta lo tiểu tiết mà làm rắc rối cho chiến thuật chung...

- Trong Giáo hội Việt Nam, ta thấy có sự “non nớt chính trị” của các vị lãnh đạo, bộc lộ một thứ đức Tin thiên về những “sự trên trời”.... Còn nơi các linh mục xứ, lại có tình trạng “quát nạt những con trâu già”.

- Cũng trong tác phẩm “Đức Tin Kitô Giáo, Hôm qua và Hôm nay”, Đức J. Ratzinger, lấy làm tiếc vì người ta đã để cho cấu trúc tín điều lấn át cấu trúc lịch sử ơn cứu độ (Xc. )

1.3 Lỗ hổng giá trị nhân bản Kitô giáo

Người Kitô hữu chưa triển khai được những đường nét giá trị nhân bản mang tính thần Kitô giáo, nên người ta thường tìm đến các giá trị nhân bản của Không Giáo, của Phật Giáo, hoặc của khoa tâm lý... trong đó có khá nhiều điều không thích hợp với tinh thần Kitô giáo. Chẳng hạn người ta theo linh đạo giác ngộ chứ không phải linh đạo “sống với ai”, người ta đề cao một thứ đạo luân lý chứ không phải đạo cứu độ; người ta trình bày nẻo được giải thoát cho những người ưu tuyển chứ không phải cho những người nghèo...

Thực sự mục tiêu của Kitô giáo không phải là để xây dựng một xã hội trần thế, tuy nhiên, khi chân nhận chiều kích Cánh Chung như là sự thành toàn của chính lịch sử, Kitô luôn bao hàm trách nhiệm trần thế :

"Thực vậy, sau khi đã theo mệnh lệnh Chúa và nhờ Chúa Thánh Thần phổ biến trên trái đất các giá trị về nhân phẩm, về hiệp thông huynh đệ, về tự do, nghĩa là mọi thành quả tốt đẹp do bản tính và hoạt động con người đem lại, chúng ta sẽ gặp lại chúng, nhưng là gặp lại sau khi chúng được thanh tẩy khỏi mọi tì ố, được chiếu sáng và biến đổi, nghĩa là khi Chúa Kitô giao hoàn lại Chúa Cha vương quốc vĩnh cửu và đại đồng: "Vương quốc của chân lý và sự sống, vương quốc thánh thiện và ân phúc, vương quốc công bình, yêu thương và hoà bình" [Kinh Tiền tụng lễ Chúa Kitô Vua]. Vương quốc ấy đã hiện diện cách mầu nhiệm ở trần gian này và sẽ được kiện toàn khi Chúa đến".[MV 39 c].

Trong chiều hướng ấy, có lẽ hơn lúc nào hết, chúng ta cần tìm lại lập trường của thánh Thomas : "Siêu nhiên không phá đổ nhưng kiện toàn tự nhiên", lập trường có khả năng làm chứng cho một đời sống nhân bản đích thực nhờ vào hồng ân siêu nhiên đích thực.

1.4 Tìm lại những đường nét căn bản ơn cứu độ

- Vũ trụ hướng tới giai đoạn thành toàn. Con người sống cuộc đời như một lịch sử và được biến đổi thành lịch sử ơn cứu độ...

- Vũ trụ được trao cho con người “đặt tên” cho vũ trụ. Con người lãnh nhận mệnh lệnh “thống trị thế giới”, và vũ trụ rên xiết chờ được cứu độ nhờ con cái loài người (Rm 8). Người tín hữu cần biết “tục hóa cái thiêng và thánh hóa cái phàm”...

- Cần tìm lại cảm thức về tội để hiểu cội nguồn của đau khổ; cần biết khóc với nhân loại khổ đau để những nỗ lực rao giảng Tin Mừng không “đánh vào không khí”; cần biết hy vọng Nước Trời và khám phá ra những hạt cải Nước Trời trong thế giới hôm nay...

1.5 Đức Giêsu và Nước Trời

- Trọng Tâm của Nhất Lãm và các thư đầu của Phaolô nhằm vào mầu nhiệm Nước Trời. Trong khi đó, Tin Mừng thứ Tư và các thư sau của Phaolô lại đạt trọng tâm vào chính bản thân đức Giêsu Kitô. Thật ra hai khía cạnh đó gắn liền với nhau. Không thể có Nước Trời đích thực nếu không có đức Giêsu ở trung tâm; và cũng không có một đức Giêsu mà không có Nước Trời xung quanh. Lịch sử Giáo hội thường lắc lư giữa hai thái cực, khi thì vào trung tâm là đức Giêsu, khi thì lại ra ngoại biên là Nước Trời.

- Từ Vatican II, chiều kích Cánh Chung là chiều kích căn bản của thần học. Cánh Chung không chỉ là “tứ chung” (chết –phán xét- thiên đàng- hỏa ngục), nhưng là một giai đoạn từ khi đức Giêsu đến lần thứ I cho đến khi đức Giêsu đến lần thứ II. Giáo hội trần thế chỉ có thể tìm thấy “lý do hiện hữu” của mình khi đặt mình trong giai đoạn Cánh Chung, mang trách nhiệm gieo men, gieo hạt Nước Trời và tha thiết mong chờ ngày Quang Lâm.

- Thần Khí nào dẫn dắt bước chân của Giáo hội hôm nay nếu không phải là “Thần Khí của Cha” để quảng đại và rộng mở; nếu không phải là “Thần Khí của Con” để biết cúi xuống những thân phận nghèo khổ và bị loại trừ trong thế giới hôm nay.

2. Tìm lại nền tảng của Mạc khải

Chúng ta thử tìm lại những nền tảng của Mạc khải Kitô giáo để tìm thấy một “chiến lược” đối diện với trào lưu trần tục hóa. Hiến chế tín lý về mạc khải cho chúng ta một vài chuẩn mực căn bản :

- Mạc khải chính Chúa - Mạc khải bằng Lời ngỏ - Mạc khải bằng Hành động

2.1 Mạc khải chính Chúa

“Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý Ngài {X. Ep 1,9}. Nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, ngôi Lời nhập thể trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần bản tính của Thiên Chúa {X. Ep 2,18; 2P 1,4}”. (MK 2a)

- Vatican II bổ xung cho Vatican I, trình bày quan điểm mạc khải theo khía cạnh chủ thể. Điều đó cho thấy ý nghĩa của toàn bộ đời sống Kitô giáo luôn cần đứng vững trên nên tảng linh đạo sống-với-ai.

- Tất cả ý nghĩa cuộc đời Kitô hữu đều được đặt trên nền tảng Tin Cậy Mến và nhân đức Thờ phượng....

- Bản chất của đức tin Kito giáo thuộc về “đẳng cấp tương quan ngã vị” cách trọn vẹn; nơi đó “cái Tôi” của Chúa giao tiếp với “cái tôi” của mỗi người tín hữu... Như thế, bề dày nghĩa tình quan trọng hơn đẳng cấp luân lý.

- Điều này cũng giúp chúng ta luôn tìm tới “Ân Sủng bất thụ tạo” (là chính Chúa) chứ không dừng lại ở “Ân sủng thụ tạo” là những ân huệ từ Chúa ban cho.

Đây có phải là phương thức căn bản để định hướng cho trào lưu trần tục hóa ?

2.2 Mạc khải bằng lời ngỏ

“Trong việc mạc khải này, với tình thương chan chứa của Ngài, Thiên Chúa vô hình {X. Cl. 1,15; 1Tm 1,17} ngỏ lời với loài người như với bạn hữu {Xac. 33,11; Ga 15,14-15}, Ngài đối thoại với họ {X. Br. 3,38} để mời gọi và đón nhận họ hiệp nhất với Ngài” (MK 2a)

- Từ kinh nghiệm của dân Do Thái :

Có ba cách nói : nói cái gì – nói cái gì với ai – và nói với nhau về nhau.

Có lẽ điều có ý nghĩa rất quan trọng trong lịch sử dân Do Thái gồm tóm trong hai yếu tố :

- Đây là một Dân tộc được xây dựng xung quanh một Cuốn Sách, Sách ấy được chấp nhận như Lời mạc khải của Thiên Chúa.

- Mạc khải của Thiên Chúa cho thấy một quan niệm về thời gian và tính lịch sử của cả vũ trụ; qua đó dân Do Thái sống hành trình lịch sử được đan bện từ quá khứ, hướng đến tương lai và cả hai được gồm gói trong hiện tại.

Hai điều ấy được nổi kết chặt chẽ với nhau, và hiệu quả là người Do Thái, trong khi trung tín đọc Lời Thiên Chúa, có khả năng dấn bước trong dòng lịch sử với một sự xác tín mang cường độ tôn giáo. Lời Chúa soi sáng cho lịch sử và lịch sử chính là sự thành toàn của Lời Chúa.

- Cuộc song thoại phong phú

Thái độ của Mẹ Maria và thánh Giuse là bước khởi đầu của Tân Ước, nơi đây ta thấy một bầu không khí của “văn hóa tự nguyện”. Cuộc đối thoại thú vị trong tiệc cưới Cana : câu trả lời của đức Giêsu với mẹ Maria có lẽ không phải là câu phủ định để chấm dứt một vấn đề, nhưng là một câu hỏi để mở ra mối tương quan phong phú hơn mãi. Nhưng cuộc đối thoại “khó khăn” nhất là cuộc đối thoại của Mẹ với Chúa, xuyên suốt từ biến cố đức Giêsu lạc trong đền thờ cho đến chân thập giá... Dù khó khăn, cuộc đối thoại ấy vẫn hết sức phong phú và đụng đến nền tảng siêu hình của tương quan con người...

Với mọi người Kitô hữu, ta có thể ý nghĩa cuộc đối thoại trong lời kinh căn bản, kinh Lạy Cha...

Mt 8,1-3 : ”Khi Đức Giê-su ở trên núi xuống, đám đông lũ lượt đi theo Người.2 Bỗng có một người phong hủi tiến lại, bái lạy Người và nói: "Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch."3 Người giơ tay đụng vào anh và bảo: "Tôi muốn, anh sạch đi." Lập tức, anh được sạch bệnh phong hủi”.

2.3 Mạc khải bằng hành động

“Công cuộc mạc khải này được thực hiện bằng các hành động và lời nói liên kết mật thiết với nhau. Nên các việc Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu rỗi bày tỏ, củng cố giáo lý và những điều được giải thích qua lời nói. Còn lời nói thì công bố các việc làm và khai sáng mầu nhiệm chứa đựng trong đó. Nhờ mạc khải này, chân lý thâm sâu về Thiên Chúa cũng như về phần rỗi con người được sáng tỏ nơi Chúa Kitô, Đấng trung gian, đồng thời là sự viên mãn của tòan thể mạc khải” {MK 2a}.

Hành động (praxis) khác với việc làm (poiesis), hành động tỏ bày chủ thể cho một ai khác, trong khi việc chỉ đạt tới sản phẩm.

- Chiều kích lịch sử là một nét chính yếu của nhiệm cục cứu độ. Đặc biệt chúng ta cần tìm lại chiều kích đức Cậy. Đức Cậy làm cho đức Tin và đức Mến có “da thịt” và “bước đi trên mặt đất”. Trong truyền thống đó, người tín hữu luôn chọn thái độ tôn trọng thực tại thay vì lấy ý tưởng hay tình cảm để bóp méo hoặc làm tan biến căn tính của thực tại.

- Trong truyền thống ấy, phương pháp đọc dấu chỉ là phương pháp chính yếu chứ không phải suy tư trừu tượng theo kiểu người Hy Lạp.

- Lịch sử được đan bện do Ý Chúa và thái độ trung tín của Dân. Ý nghĩa của cuộc sống nơi người Do Thái không bị hạn hẹp trong một khung giá trị luân lý, nhưng được được thành toàn bằng cách thực hiện ý Thiên Chúa trong dòng lịch sử; và lịch sử ấy diễn tiến để đi đến một chung cục hoàn hảo như một chứng thực cho hiệu năng của Lời Chúa. Do đó, người Do Thái không chỉ nuối tiếc một quá khứ vàng son, nhưng quan trong hơn là coi thời vàng son ấy là những dấu chỉ giúp họ xác tín vào quyền năng của Thiên Chúa trong nỗ lực xây dựng một tương lai trọn vẹn. Người Do Thái không chỉ đọc Lời Chúa như một bài học “luân lý siêu hình”, nhưng như một giải đáp cho “biện chứng lịch sử” trong hoàn cảnh hiện tại. Dĩ nhiên, đó không phải là một thứ biện chứng lịch sử hoàn toàn ngẫu nhiên theo qui luật vô ngã như quan điểm Mác-xít, nhưng tính thống nhất của lịch sử được hình thành nhờ Lời Chúa, trong sự đồng hành của một Đấng, một “Logos hữu ngã” với khả năng quyền biến, để tình yêu và ơn cứu độ được bộc lộ trong muôn ngàn nét phong phú bất tận.

“(Với) quan niệm thả neo vào lịch sử như vậy đã mặc cho cho truyền thống Do Thái một năng động tính mà đức tin Kitô giáo đã thừa kế và không một thế giới cổ đại nào có thể cung cấp được. Phụng vụ những ngày đại lễ và những buổi cầu nguyện tại hội đường luôn thấm nhuần niềm hy vọng ấy” (Xc. Hugues Cousin, Jean Pierre Lémonon, Jean Massonnet, Le Monde où vivait Jesus, Les Éditions du Cerf, Paris 1998, Bản dịch của Học Viện Đa Minh, Trên Quê Hương Đức Giêsu, 2003, trang 134).

3. Cử hành và chiêm ngắm cuộc sống

3.1 Vị thế siêu hình căn bản của con người

Con người là linh hồn nhập thể. Điều đó vừa cho thấy tầm quan trọng của thực tại khách quan, vừa cho thấy tầm quan trọng của ý nghĩa do tinh thần con người, và đồng thời cho thấy chiều vận hành của thời gian.

Linh hồn

+ ----> Lịch sử

Thân xác

- Cử hành tạm hiểu là : một hành vi trang trọng - gồm gói một ý nghĩa - được thực hiện như “thì mạnh” (trong cặp đôi thì mạnh (temps fort) – thì yếu (temps faible) trong dòng cuộc sống. Điều gì bắt nhịp được đúng vị thế siêu hình của con người sẽ gồm gói và lan tỏa sức mạnh.

Ta có thể thấy những yếu tố nói trên trong nghi thức phụng vụ Kitô giáo. Tuy nhiên, trong thực tế, có lẽ phần ý nghĩa hơi bị lạt lẽo, và đó có thể là do người Công giáo chưa được nuôi dưỡng đủ do Lời Chúa. Mặt khác, mối liên kết giữa “thì mạnh” và “thì yếu” cũng chưa được sáng tỏ.

3.2 Cử hành để đưa “Đạo” vào “Đời”

- Mỗi người cần tìm ra được những “nghi thức” riêng của mình để cử hành đức Tin ngay giữa lòng cuộc sống trần tục : miếng ăn, lời chào, phủ phục, đốt nến...

3.2 Chiêm ngắm để đưa “Đời” vào “Đạo”

- Học chiêm ngắm thế giới, chiêm ngắm những thực tại đời thường trong ánh sáng đức Tin : một đôi dép, một ngọn cỏ, một bình nước, một cục đá....

- Trong phụng vụ, cần luu ý đến những gì là “đời thật” hơn là quá nhiều ý nghĩa xa xôi và lạt lẽo : chẳng hạn trong lời nguyện cộng đoàn; hoặc tìm những cách chầu Chúa gắn liền với những biến cố bóng bỏng trong xã hội. Bầu khí phụng vụ thay vì quá trang nghiêm, nổi bật chiều kích thờ phượng nhưng lại đánh mất chiều kích hiệp thông như hiện nay, thì có lẽ nên gia tăng bầu khí ấm cung của sự hiệp thông huynh đệ...

- Có lẽ cần tạo nên một thứ văn hóa trang hoàng phụng vụ với những gì “thật” hơn, “sống” hơn, có ý nghĩa hơn....

12-6-2019

Nguyễn Trọng Viễn OP