Chiêm Ngắm Huyền Nhiệm Tình Yêu - Phần 5 (Phần cuối)

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Tình yêu hướng tới sự hiệp nhất. Sự hiệp nhất trong tình yêu là một sự hiệp nhất hết sức phong phú, mở ra trong nhiều lãnh vực và đưa vào những nẻo đường mới mẻ trong dòng lịch sử. Sự hiệp nhất của con người với nhau có thể ví như sự hiệp nhất của một thân thể “cao cấp”. Các sinh vật cấp thấp tìm thấy sự hiệp nhất bằng sự đồng nhất tối đa các chức năng trong thân thể, một cơ quan có thể đảm nhận nhiều chức năng khác nhau, đến độ khi bị cắt ra, chúng có thể trở thành hai con tự sống độc lập với nhau. Những sinh vật cao cấp lại thống nhất bản thân mình bằng một sự đa dạng của các bộ phận khác nhau trong thân thể. Một sinh vật càng cao cấp thì những cơ quan khác nhau được chuyên biệt hóa tối đa để đảm nhận một chức năng riêng biệt. Trong thư 1 Cô-rin-tô, thánh Phaolô ví mỗi thành phần trong Giáo Hội như những bộ phận khác nhau trong thân thể :

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

Tính hiệp nhất của tình yêu chân chính

1. Hiệp nhất trong đa dạng

Tình yêu hướng tới sự hiệp nhất. Sự hiệp nhất trong tình yêu là một sự hiệp nhất hết sức phong phú, mở ra trong nhiều lãnh vực và đưa vào những nẻo đường mới mẻ trong dòng lịch sử. Sự hiệp nhất của con người với nhau có thể ví như sự hiệp nhất của một thân thể “cao cấp”. Các sinh vật cấp thấp tìm thấy sự hiệp nhất bằng sự đồng nhất tối đa các chức năng trong thân thể, một cơ quan có thể đảm nhận nhiều chức năng khác nhau, đến độ khi bị cắt ra, chúng có thể trở thành hai con tự sống độc lập với nhau. Những sinh vật cao cấp lại thống nhất bản thân mình bằng một sự đa dạng của các bộ phận khác nhau trong thân thể. Một sinh vật càng cao cấp thì những cơ quan khác nhau được chuyên biệt hóa tối đa để đảm nhận một chức năng riêng biệt. Trong thư 1 Cô-rin-tô, thánh Phaolô ví mỗi thành phần trong Giáo Hội như những bộ phận khác nhau trong thân thể :

“Thật vậy, thân thể gồm nhiều bộ phận, chứ không phải chỉ có một mà thôi. Giả như chân có nói : "Tôi không phải là tay, nên tôi không thuộc về thân thể", thì cũng chẳng vì thế mà nó không thuộc về thân thể. Giả như tai có nói : "Tôi không phải là mắt, vậy tôi không thuộc về thân thể", thì cũng chẳng vì thế mà nó không thuộc về thân thể. Giả như toàn thân chỉ là mắt, thì lấy gì mà nghe ? Giả như toàn thân chỉ là tai, thì lấy gì mà ngửi ?”(1 Cr 12, 14-17…)

Sự hiệp nhất trong đời sống con người giống như sự hiệp nhất của một sinh vật cao cấp, nghĩa là sự hiệp nhất hướng tới một sự đa dạng, phong phú của mỗi cá nhân, chứ không phải là một sự đồng nhất đơn giản. Mỗi con người, hoặc là nam hay là nữ, thì tự bản chất đã chỉ là một nửa của nhân loại, đã là một sự thiếu hụt. Đó là một sự thiếu hụt căn bản mà không ai có thể tự mình bù đắp được. Mỗi người, xét như thuộc về một phái tính, cần tới phái tính kia để có thể sống cuộc đời mình cách trọn vẹn và phong phú. Đó là khao khát căn bản trong bản chất người, khao khát được hiệp nhất với ai khác trong sự khác biệt của nhau, khao khát người khác như người khác. Tính chất hiệp nhất đa dạng như thế là phẩm chất của toàn thể đời sống con người nói chung, đặc biệt là phẩm chất của tình yêu trong con người.

Hiệp nhất trong đa dạng đòi hỏi con người can đảm chân nhận sự thiếu hụt của mình, dám chân nhận lòng khao khát không tự mình thoả mãn được để biết khẩn nài tình yêu. Chính vì thế mà triết gia Gabriel Marcel nói : khẩn cầu là nhịp thở của tình yêu. Trong tình yêu, người ta không thể đổi chác, không thể thống trị, mà chỉ có thể tôn trọng phẩm giá tự do của ai khác, khẩn nài tình yêu của ai khác, và biết đón nhận tình yêu dâng tặng của ai khác với lòng tri ân. Những ai không đủ năng lực sống phẩm chất đời người, không can đảm sống trọn “vận mạng thiếu hụt” của mình thì thường muốn dùng bạo lực để chinh phục, để thống trị người khác. Cách thức đó luôn đi lạc vào nẻo đường đồng nhất, tiêu diệt sự hiệp nhất đa dạng. Khuynh hướng loại trừ những khác biệt chính là một khuynh hướng suy đồi trong đời sống con người. Các bạo chúa là những người chẳng thể sống được nỗi khao khát cao cấp của con người và muốn giải quyết nó bằng phương pháp của con vật.

2. Tính độc đáo của cá nhân và trách nhiệm liên đới

Trong thân thể của một sinh vật cao cấp, mỗi bộ phận chỉ đảm nhận một chức năng riêng biệt, chúng hoàn thiện tối đa chức năng riêng biệt của mình, và đồng thời lại cần tới các bộ phận khác một cách thiết yếu. Không có sự liên đới với các bộ phận khác, một bộ phận riêng biệt không có đủ khả năng để sống và hoạt động.

Như thế, chính do sự khác biệt của những bộ phận khác nhau mà sự hiện diện của mỗi bộ phận lại càng thêm cần thiết đối với các bộ phận khác. Mỗi bộ phận đều được sắp xếp để đảm nhận một công việc chuyên môn trong thân thể như một “trách nhiệm” phải chu toàn đối với toàn thân. Mỗi bộ phận càng là mình bao nhiêu thì lại càng củng cố cho sự sống toàn thân bấy nhiêu; và mỗi bộ phận đều đón nhận sự sống của toàn thân như chính sinh mệnh của mình. Chính mối tương quan hỗ tương sống còn ấy giúp cho mỗi bộ phận được phát triển trọn vẹn chức năng của nó. Thay vì tìm sự gắn bó với nhau bằng sự đồng nhất, một cơ thể cao cấp sẽ gắn bó các thành phần với nhau bằng một sức sống chung, một sức sống phát triển mạnh mẽ trong từng bộ phận.

Chúng ta cũng có thể nhận định phẩm chất của một cộng đồng, một tổ chức xã hội, hay một cộng đoàn trong Giáo Hội theo tiêu chuẩn của một sự hiệp nhất của các bộ phận trong một cơ thể sinh vật cao cấp như thế. Quả thật, khi một tập thể hay một mối liên đới nào không giúp cho cá nhân, cho mỗi thành phần được phát triển phong phú bản sắc riêng, thì đó là một tập thể phi nhân. Ngược lại, khi một cá nhân không có khả năng đi vào sự hiệp nhất đa dạng với ai khác, thì đó là một cá nhân thác loạn. Ngược lại, nơi nào có sự hiệp nhất trong sự sống đích thực, thì nơi đó, người ta không đánh giá nhau theo một thang điểm chung, nhưng là nhìn nhận sự độc đáo của người khác và thực sự cần tới nhau trong sức sống chung chứ không phải theo một tinh thần tranh giành hơn thua.

3. Nét đặc trưng của tín lý Kitô giáo

Chúng ta có thể thấy những tín điều căn bản của Kitô giáo như thể đều hướng tới cũng như nhằm bảo đảm cho được một thứ tình yêu mang tính chất đặc trưng của Kitô giáo, tình yêu hiệp nhất trong đa dạng : khẳng định con người được sáng tạo từ hư vô chứ không phải là một mảnh hồn từ Thiên Chúa rơi rớt; điều đó cho thấy sự hiệp nhất của con người với Thiên Chúa không bao giờ là một sự hòa đồng, tan biến của linh hồn vào Thượng Đế. Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi cho thấy không bao giờ tính cách hiệp nhất “Một Chúa” đánh mất cá vị của Ba Ngôi; và cũng không bao giờ “Ba Ngôi Vị” độc lập với nhau để thành nên “ba chúa”. Sự kết hiệp lạ lùng của Ngôi Hai Thiên Chúa với bản tính con người cũng theo một chiều hướng như vậy… Chúng ta cần hiểu ý nghĩa của tinh yêu trong Kinh Thánh, tình yêu trong Kitô giáo theo nghĩa căn bản như thế.

Thánh Phaolô cho chúng ta biết rằng, nguyên lý tạo nên sự hiệp nhất đa dạng trong Hội Thánh của Chúa, làm nên sự sống chung chính là sự hiệp nhất trong Thánh Thần, mà cụ thể chính là đức Ái. Phẩm chất của đức Ái chính là một sự : “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến”. (1 Cr 13,13; xc. 12, 4- 13,13).

Tình yêu, biểu lộ trong sự trung tín

1. Cám đỗ thăng tiến trong "trình độ"

Sống trong cuộc đời, người ta luôn có cảm tưởng rằng, khi mình có trình độ cao, mình sẽ có được một sự bảo đảm cho cuộc đời. Khi ta có một bằng cấp cao, một tay nghề cao, một khả năng giỏi trong một lãnh vực nào đó…ta thấy tự tin và vững bước trên đường đời. Đó là điều quá rõ ràng và người ta có thể kiểm nghiệm sự đúng đắn của nẻo đường này một cách thực tế.

Tuy nhiên, cũng có một thực tế khác như quy luật, đó là khi người ta càng tự tin vào mình, khi người ta càng có khả năng giải quyết nhiều chuyện trong cuộc đời của mình, thì người ta lại càng ít cảm thấy cần tới người khác, hoặc chỉ cần tới người khác như một sự chiếm hữu, thống trị, như một cách thức khẳng định bản thân chứ không phải như một sự cần thiết của sự truy nhận tầm quan trọng thiết yếu của một người mình yêu thương.

Mặt khác, người có trình độ là một người muốn một lần giải quyết cuộc đời mình, giải quyết đời mình như một bài toán chứ không phải như một huyền nhiệm. Thế nhưng cuộc đời thì không phải là một bài toán và người ta không bao giờ có thể giải quyết một lần. Cuộc đời con người là một lịch sử thăng trầm mà không ai có thể nắm chắc phần thắng dựa vào trình độ của mình. Người có trình độ dĩ nhiên sẽ dễ dàng hơn trong việc giải quyết nhiều vấn đề của cuộc đời. Nhưng người nào chỉ biết tin vào trình độ của mình thì sẽ có lúc bị vấp ngã thảm thương. Người quá ưu tư về "trình độ" thực sự là người ướm đời mình vào một thang điểm chứ không phải là người thể hiện cuộc đời mình trong tương quan nghĩa tình. Mặt khác, vì thang điểm là một thứ chuẩn mực chung, nên loại người như thế thường có mối quan tâm so sánh, nhìn người này để tự tôn và nhìn người kia tự ty. Thật ra, người ưu tư về trình độ là người ưu tư về bản thân mình, sống vì mình, sống cho mình, chứ không phải sống vì ai khác. Con đường thăng tiến trình độ là con đường của những người muốn khẳng định chính mình, khẳng định chính mình bằng năng lực, bằng sự vun đắp cá nhân. Cuối cùng, con đường thăng tiến trong trình độ là con đường của những người ưu tuyển, con đường lọc lựa để gạt ra bên ngoài những con người kém may mắn, những người nghèo, những người bé mọn. Xã hội thiếu nghĩa tình luôn là một cuộc thi gắt gao mà những người bé mọn dĩ nhiên là những kẻ bị loại trừ.

2. Trung tín trong nghĩa tình

Ta cũng có thể nói rằng, thế giới ngoài đường là thế giới của trình độ. Trong cuộc sống xã hội, người ta không chấp nhận cho một người không có năng lực đảm nhận một vị trí quan trọng, người ta không chấp nhận thu nhận một công nhân không có tay nghề, và người ta cũng không chấp nhận sống với một người không có đức độ…. Nơi thế giới ngoài đường, mỗi người bị thúc bách phải có trình độ để có thể chơi với đời. Thế giới ngoài đường là thế giới đón nhận một ai đó trong một “giai đoạn của tài năng”, trong một "nhiệm kỳ của trình độ”. Khi người đó không còn trình độ, thế giới ngoài đường sẽ loại bỏ anh ta như một quy luật bình thường của cuộc sống. Thế giới ngoài đường như thế, thật ra, là thế giới của sự vật chứ không phải là thế giới của con người; bởi vì nơi đó, người ta bận tâm về một công trình, bận tâm về những thành quả, bận tâm về sự phát triển của một kế hoạch nào đó; và con người trở thành dụng cụ để phục vụ cho những kế hoạch phát triển.

Ngược lại, trong đời sống gia đình, người ta có thể thấy một qui luật khác. Cha mẹ, anh chị em ruột thịt với nhau là những người biết đón nhận trọn vẹn bản thân của nhau, nghĩa là đón nhận một người trong trọn vẹn hành trình thăng trầm của cuộc đời. Gia đình là nơi các thành viên đón nhận và sống liên đới với nhau, không phải chỉ khi các thành viên tốt lành, giỏi dang trong “nhiệm kỳ của trình độ”, nhưng một cách trọn vẹn nhất, cả khi vui lúc buồn, cả khi thành công lẫn khi thất bại, cả khi người thân còn đầy tài năng cũng như lúc nằm liệt trên giường bệnh…. Tình nghĩa gia đình bao gồm sự đón nhận bản thân của nhau, thứ bản thân được thể hiện cụ thể thành nên một cuộc đời. Gia đình là nơi đón nhận cuộc đời của nhau, cuộc đời toàn vẹn trong mọi giai đoạn, trong mọi tình trạng… Tình nghĩa gia đình chân chính như thế được thể hiện trong khả năng đi theo một ai đó dọc theo suốt hành trình thăng trầm của cuộc đời.

Trong tình nghĩa gia đình, con người không bị cắt xén, không bị giản lược thành một giai đoạn hay một nhiệm kỳ của trình độ. Trong gia đình, tình thương được biểu lộ trong chiều kích trung tín; và đó là con đường của tình thương chân chính, tình thương làm nên một bề dày nghĩa tình…

3. Tình yêu Kitô giáo thiết yếu bao hàm chiều kích trung tín

Ở đây, chúng ta có thể hiểu được một chút về ý nghĩa mối tương quan tình nghĩa giữa con người với Thiên Chúa, giữa Thiên Chúa và Dân Israel cũng như giữa Thiên Chúa với mỗi người, mối tương quan được biểu lộ trong một lịch sử, hình thành nên một lịch sử ơn cứu độ. Ơn cứu độ của Thiên Chúa dành cho con người không phải là một sự đánh giá trong một “thời điểm của trình độ”, nhưng là một sự trung tín để thực hiện một thái độ trung tín và trung tín đến cùng. Trung tín được coi như là chính phẩm chất của tình yêu Thiên Chúa. Trung tín ở đây, về phía Thiên Chúa, chẳng những không vương một chút bất trung nào (trình độ), nhưng thiết yếu được thể hiện trong chiều dài lịch sử :

“Nếu ta không trung tín,

Người vẫn một lòng trung tín,

vì Người không thể nào chối bỏ chính mình.” (2 Tm 2,13)

Trong khi đó, đời sống của con người thì không dễ dàng gì thực hiện được một sự trung tín trong trình độ :

“Nhưng nếu có một số người Do-thái không trung tín thì sao ? Chẳng lẽ sự bất trung bất tín ủa Thiên Chúa ra vô hiệu ? Không phải thế ! Thiên Chúa nhất định là Đấng chân thật, còn mọi người đều giả dối.” (Rm 3,3-4)

Tuy nhiên, chính sự trung tín của Thiên Chúa, sự trung tín trong chiều kích lịch sử lại có thể mở đường cho hành trình đức tin của con người, một hành trình dù có những lần bất trung, nhưng vẫn cung cấp khả năng để kiên trì, để chỗi dậy và để lại tiếp tục cuộc hành trình đức tin trong dòng đời đầy những thăng trầm.

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nhiều lần khẳng định một sự đảo ngược kỳ lạ : "Và kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót." (Lc 13,20). Đó không phải là một ý định kỳ cục nhằm khẳng định một Thiên Chúa toàn năng muốn làm gì thì làm, nhưng điều đó, có thể nói, diễn tả một quy luật của tình thương, khác với quy luật của sự thăng tiến trong trình độ. Chính những người Biệt phái là bằng chứng rõ ràng nhất của một thứ "cám dỗ của trình độ".

3.1 Tình yêu mang tính chất cứu độ

Nếu cuộc sống con người là một huyền nhiệm vượt quá khả năng tiên đoán của con người, thì cũng còn một điều vốn cũng vô cùng kỳ diệu trong cuộc sống ấy, đó là tình yêu chân chính mà con người, tự căn bản, được mời gọi để sống. Chính tình yêu là khả năng Thiên Chúa ban cho con người để con người có thể sống với nhau trong hành trình huyền nhiệm của cuộc đời. Tuy nhiên, tình yêu ở đây chắc chắn không phải chỉ là một chút hứng khởi của tình cảm, không phải chỉ là một sự đánh giá nhau trong mức độ thăng tiến, mà là một sự đón nhận trọn vẹn bản thân của một con người trên hành trình phức tạp của cuộc đời.

Tình yêu thương Kitô giáo không phải chỉ là một chút hứng khởi kiểu Eros (một thứ điên loạn xuất thần), nhưng là một tình yêu hướng tới lý tưởng "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình." (Ga 15,13).

Người Kitô hữu không được quyền nói như người ta vẫn nói : hôn nhân giết chết tình yêu. Người Kitô hữu, sống theo lý tưởng tình yêu Agapê, cần đón nhận đời sống hôn nhân như một hành trình yêu thương hướng tới lý tưởng hy sinh mạng sống cho nhau, nơi đó có thể không còn những hứng khởi thăng hoa, nhưng lại đầy tràn những liên lụy trong những khó khăn của cuộc sống thật.

Như thế, tình yêu theo tinh thần Kitô giáo không phải chỉ là một chút hứng khởi, không phải chỉ là một sự thăng hoa để thêm vào cho cuộc sống thêm mặn mà, nhưng tình yêu là điều thực sự cần thiết để con người có thể sống trọn kiếp người. Con người cần sống tình yêu để có thể hướng đến một sự sống lý tưởng của hạt lúa "thối đi" và trổ sinh những bông hạt khác, lý tưởng "hy sinh tính mạng vì bạn hữu"; cũng như con người cần được yêu thương, một thứ tình yêu dám liên lụy trọn vẹn cuộc đời với người mình yêu, để có thể giúp nhau vượt qua được những thử thách bất ngờ của một đời người. Tình yêu thương Kitô giáo mang một ý nghĩa căn bản là "tính chất cứu độ". Chính vì con người cần được liên lụy trong suốt hành trình cuộc đời, mà Chúa cho con người, bình thường, được có cha có mẹ…. Và tình yêu vợ chồng cũng không đi ra ngoài qui luật chung của tình yêu, nghĩa là đón nhận nhau " khi thinh vượng cũng như lúc gian nan, khi ốm đau cũng như lúc mạnh khoẻ…"…

3.2 " Thiên Đàng" ở trần gian

Cuộc sống trần gian này không phải là thiên đàng. Cuộc sống luôn có lỗi lầm, luôn có khổ đau và ít nhiều gì vẫn là "vũng lầy nước mắt". Chúa Giêsu đã chọn một đường lối cứu độ tuyệt vời khi Ngài không dễ dàng thiết lập ngay một thế giới THIÊN ĐÀNG ở trần thế, Ngài chỉ gieo hạt và men Nước Trời để chúng lớn lên từ từ trong cuộc sống trần gian. Nói cách khác, thiên đàng ở trần gian này đã được Chúa thiết lập, nhưng đó là thiên đàng ở dạng men, dạng hạt :

"Đức Giê-su còn trình bày cho họ nghe một dụ ngôn khác. Người nói : "Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. " Người còn kể cho họ một dụ ngôn khác : "Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men."

Tuy nó là loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ lớn nhất ; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được.(Mt 13, 31-33)

Thiên đàng trên trời mai sau thi thật là hoàn hảo, là khi đó mọi người giống như cùng gẩy lên cung đàn hoà điệu một cách tuyệt với. Thiên đàng trần gian này lại là những tiếng đàn ngang phè phè của người này với người kia. Tuy thế, khi biết mình chơi đàn lạc điệu, mỗi người lại biết xin lỗi, cười xòa và cùng làm lại bài hòa âm của mình.

Thiên đàng trần gian này vẫn có những lỗi lầm, những sai sót, nhưng điều quan trọng là có thể chấp nhận được sai lỗi của nhau :

"Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái : đó là mối dây liên kết tuyệt hảo. Ước gì ơn bình an của Đức Ki-tô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó. Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân." (Cl 3, 12-15)

Tình yêu trung tín

1. Tình yêu mang tính cách dấn thân

Đi vào nhịp bước tình nghĩa, người ta được mời gọi ra khỏi bản thân, dấn thân vì tha nhân và dấn thân cho đến cùng. Tiếng gọi của tình yêu chân chính bao giờ cũng thôi thúc con người đến một cách sống yêu thương trọn vẹn, triệt để, yêu thương đến cùng. Hành trình của tình yêu không phải nhằm đạt đến một sự an hòa cho bản thân, nhưng là vượt quá bản năng bảo vệ bản thân. Đó luôn luôn là một cuộc “vượt qua”. Tình yêu thương, trong khía cạnh dính dáng đến vận mạng con người, không thể được giải quyết bằng thái độ “đi giầy cao gót”, thái độ “đi cà khêu” trong cuộc đời. Để đến với ai khác trong tình yêu, ai khác như một bản thân có giá trị tuyệt đối, ai khác như vận mạng một đời người, ai khác với tất cả sự phức tạp của cuộc đời, người ta cũng phải hy sinh cả một đời.

Những người làm cha làm mẹ, những người có kinh nghiệm “cưu mang” một cuộc đời, “mang vác” một phận người,… có lẽ dễ hiểu được điều đó. Mang vác một cuộc đời là cả một hành trình gian nan, khốn cực mà người nào nhát đảm, an thân không thể nào đi trọn được. Để đồng hành với một phận người, người ta không thể đứng bên lề cuộc đời để khỏi vướng bùn nhơ, không thể đứng xa xa, cầm cây khều khều, gẩy gẩy… nhưng là xắn quần lên, là lội vào bùn, là ngụp lặn trong bùn. Có lẽ chính vì con người cần được cưu mang, cần được mang vác như thế mà Chúa cho con người có cha có mẹ.

2. Tên gọi khác của tình yêu

Ta có thể tạm nói có hai thứ tình thương, một thứ "tình thương hàng ngang" của bạn bè với nhau, vợ chồng với nhau, hay anh chị em với nhau… và một thứ "tình thương hàng dọc" của cha mẹ với con cái…

Trong tình thương "hàng ngang", người ta thường tìm những điều hay điều tốt của người mình yêu để có thể yêu thương nhiều hơn, tha thiết hơn, theo chiều hướng tỷ lệ thuận với những điều hay điều tốt của người mình yêu. Thứ tình yêu hàng ngang có chiều hướng "nhìn lên", có tính cách dễ thần tượng hóa người mình yêu quý. Chẳng hạn khi hai người nam nữ gặp nhau, đó là cuộc gặp gỡ của "người dưng khác họ", thì dĩ nhiên là người này quí trọng người kia là vì người kia có những đức tính tốt, có những điều hay điều đẹp… cuộc gặp gỡ của những người "hay, đẹp, tốt" như thế thật bay bổng biết bao; nhưng cũng thật "ảo tưởng" biết bao. Tình thương "hàng ngang" rất dễ bị ngưng đọng khi gặp một chướng ngại, khi thần tượng bị sụp đổ, khi mà "nhìn lên" chẳng còn thấy điều gì là "hay, tốt, đẹp" nữa. Đó là nguyên nhân đổ vỡ của biết bao nhiêu cuộc tình thắm thiết. Tình yêu hàng ngang đặt nền tảng trên sự đánh giá nhau về "trình độ".

Trong khi đó, tình thương "hàng dọc" lại có một chiều hướng khác : "nước mắt đổ xuống". Tình thương của cha mẹ với con cái thì không phải vì điều hay điều tốt của con, mà vì chính bản thân của đứa con. Bằng chứng là ngay khi đứa con của mình là một đứa con khuyết tật, hoặc ngu dốt, hoặc tệ hơn nữa là đứa con tội phạm thì cha mẹ vẫn đau lòng, vẫn thiết tha và còn thiết tha hơn nữa với nó. Tình thương đổ xuống có khả năng vượt qua mọi chướng ngại để đến được tói bản thân của người mình yêu thương. Thứ tình thương này đặt nền tảng trên sự liên lụy.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong thông điệp "Thiên Chúa là Đấng từ bi thương xót", nói rằng : ở trần gian này, tình yêu có một tên gọi khác, đó là lòng nhân từ. Ta có thể nhận ra một chân lý lớn của Kitô giáo trong khẳng định này. Tình yêu thương của con người với nhau trong cuộc sống trần gian này không thể bền vững được nếu không được "đổi tên". Cuộc sống có nhiều cạm bẫy, và mỗi con người đều có phần "nhân vô thập toàn" của mình; nên người ta chẳng thể sống trọn vẹn được thứ tình thương hàng ngang trong cuộc đời này. Tình yêu thương trong cuộc đời này luôn phải được thông phần vào một nguồn mạch của tình yêu hàng dọc. Khi Chúa Giêsu muốn trao cho thánh Phêrô trách nhiệm chăm sóc đoàn chiên, Chúa đã chẳng đòi hỏi thánh Phêrô một thứ tình yêu hàng ngang là "yêu chiên", nhưng Chúa mời gọi để đi vào nguồn mạch của thứ tình yêu "chiều dọc", đó là yêu Thầy :

"Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô : "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không ?" Ông đáp : "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giê-su nói với ông : "Hãy chăm sóc chiên con của Thầy. Người lại hỏi : "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không ?" Ông đáp : "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Người nói : "Hãy chăn dắt chiên của Thầy". Người hỏi lần thứ ba : "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ? "Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần : "Anh có yêu mến Thầy không ?" Ông đáp : "Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự ; Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giê-su bảo : "Hãy chăm sóc chiên của Thầy. (Ga 21, 15-17)

Chỉ có tình yêu với Thầy mới có thể đưa thánh Phêrô vào nguồn mạch của tình yêu thương của người mục tử nhân lành : "Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên" ( Ga 10,11), để Phêrô có thể chu toàn được trách nhiệm của người mục tử chân thật. Phêrô chỉ có thể chăn chiên của Chúa khi yêu chiên bằng tình yêu của Chúa, nghĩa là bằng một thứ tình yêu đã được đổi tên, tức bằng lòng nhân từ. Sự kiện vừa nói không phải là một điều đặc biệt dành riêng cho người mục tử, nhưng là quy luật chung của tình yêu Kitô giáo, như chúng ta thấy trong các dụ ngôn tha thứ, dụ ngôn về người Samarie nhân hậu…

Nói một cách nào đó, sống tình yêu Kitô giáo, chính là nhận ra ai cũng đáng thương; tôi cũng đáng thương và anh chị em tôi, bạn bè và người yêu của tôi cũng đáng thương. Đó thực sự là thân phận con người trong cuộc đời này. Tuy nhiên, cần phân biệt ở đây, vị thế của tôi để nhận ra anh chị em của tôi đáng thương không phải là vị thế của chính tôi, như thể tôi hơn người khác, tôi tội nghiệp cho người khác, mà là vị thế của Chúa. Mặt khác, thái độ "tội nghiệp" có nghĩa là "tôi chẳng thương bản thân của em, tôi chỉ tội nghiệp cho nỗi khổ của em…", trong khi đó, tình thương chiều dọc, tình thương đổ xuống một cách chân chính thì lại luôn bao hàm ý nghĩa đón nhận bản thân của người mình yêu thương một cách "vô điều kiện".

Kết

1/ Đạo yêu thương

Người ta thường nói Kitô giáo là đạo yêu thương, Điều đó hoàn toàn đúng, nhưng cũng rất dễ bị hiểu lầm vì tình yêu cũng có ba bẩy thứ. Có lẽ cần phải nói đạo của Kinh Thánh dựa trên nền tảng là "Đạo Sống Với Ai Khác". Trên nền tảng đó, có một đức tính gần như tương đương với tình yêu, đó là trung tín. Đỉnh cao của sống với và trung tín đó là tình yêu, và là tinh yêu hy sinh mạng sống cho bạn hữu.

2/ Trung tín với Chúa để trung tín với nhau

Con đường của người Kitô là con đường vòng : muốn tha thứ thì trước tiên phải đón nhận sự tha thứ của Thiên Chúa trong đức Kitô; muốn chăn dắt con chiên thì phải yêu mến Chúa Giêsu và từ đó tìm thấy lý tưởng cao vời của đời mục tử; muốn sống chân thật với tha nhân thì phải đối diện với Thiên Chúa, Đấng thấu suốt cõi lòng để có thể buông bỏ được những chiếc mặt nạ giả tạo; muốn phục vụ tha nhân thì hãy để cho đức Giêsu phục vụ mình và ra đi bằng chính động lực phục vụ đến cùng của Đức Giêsu; muốn xót thương người thì hãy nhận ra lòng thương xót của đức Giêsu . . .

Chính niềm tin vào Chúa giúp con người có thể tin vào nhau. Niềm tin nơi Chúa là chân trời rộng mở để con người có thể dám tin vào nhau mà không sợ rơi vào ảo mộng phù phiếm của một thứ chủ nghĩa anh hùng cá nhân.Chính khi ta tin vào Chúa, ta đã vượt qua thái độ “thuận mua vừa bán”, khi đó ta mở rộng khung trời để có thể bao bọc, chấp nhận những con người cụ thể, ngay cả khi bị phản bội. Chỉ có con người mới có thể phản bội, còn Thiên Chúa thì không bao giờ phản bội cả; và Thiên Chúa chẳng để cho sự “lầm lẫm” do đã quá tin một con người, nếu có, lại trở thành một thái độ xấu.

Có thể nói được sự hiệp nhất trong thần khí, theo tinh thần của Kitô giáo chính là nhằm tới sự hiệp nhất trong dòng đời. Cuộc đời luôn luôn là một sự rắc rối, luôn luôn có những bất ngờ, luôn luôn là một bước đi phiêu lưu… và Chúa dến với con người, không phải như một bài học khôn ngoan, không phải chỉ là một món qua như một thứ bửu bối, một thứ bùa hộ mệnh, … nhưng là chính Chúa Thánh Thần đồng hành vào dẫn dắt người tín hữu trên bước đường đời. Người ta không thể gọi được là yêu nếu như chỉ hứng khởi nhất thời, nếu như chỉ dựa trên nền tảng của sự hiệp nhất trong sự vật hoặc trong thân xác, trong tình cảm nhất thời hoặc trong những suy nghĩ hợp nhau.

3/ Đón nhận bản thân của nhau

3.1/ Tình yêu được thể hiện cụ thể

3.2/ Bước thăng trầm trong cuộc sống : đón nhận nhau như là những “người nghèo”

3.3/ Bề dày nghĩa tình

4/ Không phải là đánh giá theo một thang điểm

- Chia sẻ cuộc đời của nhau,

- Liên đới trách nhiệm, đặc biệt là dám liên lụy trong khó khăn

- Dám sống tình yêu như một cuộc phiêu lưu

Kết : Nền tảng Kitô giáo là “Đạo sống với”

- Lịch sử ơn cứu độ

- Tên gọi thứ hai của tình yêu : lòng nhân từ. Từ tình yêu kiểu con người, đến tình yêu vô điều kiện và đặc biệt là tình yêu tha thứ. Tha thứ 70 lần 7…

Thiên Chúa sáng tạo con người như một tinh thần hiệp nhất với thân xác. Trong chương trình sáng tạo ban đầu của Thiên Chúa, thân xác con người không phải là kẻ thù, không phải là mối hiểm hoạ luôn đe doạ con người, nhưng chính là phương tiện cần thiết để con người sống và thể hiện tình yêu. Nói cách khác, thân xác của mỗi người góp phần quan trọng để mỗi người có thể sống tình yêu một cách chân chính. Nhờ thân xác, mỗi người là mình một cách độc đáo, riêng biệt, và mỗi người có khả năng thể hiện tình yêu của mình một cách độc đáo riêng biệt. Một người nam khác một người nữ, một người Việt Nam khác với người Tây phương, một người lùn khác một người cao, một người mập khác một người ốm, một người mặt dài khác với người có mặt tròn. . . tất cả những yếu tố của thân xác ấy sẽ là những mảnh đất riêng phong phú để trổ sinh những bông hoa “không giống ai”, nhưng lại có nét đẹp riêng của mỗi bông hoa. Như thế, con người được kêu gọi diễn tả bản thân mình qua thân xác, thể hiện tình yêu dâng tặng của mình cho người khác qua thân xác. Thật là ngụy biện nếu ai đó cho rằng yêu chỉ để trong lòng, trong khi mà người ấy có điều kiện để diễn tả tình yêu của mình trong thân xác.

Hơn nữa, tình yêu diễn tả qua thân xác, theo quan niệm Kitô giáo, không phải là cấp độ thấp nhất của con người. Nhưng, một cách trái ngược lại, tình yêu được diễn tả cụ thể ở mức độ thân xác lại chính là điểm hoàn trọn của tình yêu. Chúa Giêsu luôn nhắc nhở người nghe Lời Chúa phải biết đem ra thực hành; và chính sự thực hành mới làm cho người con, dù ban đầu đã chối không nghe lời cha, nhưng rồi hối hận và đã thi hành lời cha, trở nên người thực sự thì hành ý muốn của cha. {Mt 21,28-32}.

Tuy vậy, thân xác luôn luôn là một cạm bẫy nguy hiểm đối với con người, vì con người luôn có nguy cơ giản lược tất cả ý nghĩa cuộc đời con người vào thân xác : chỉ tìm niềm vui của thân xác, lấy vẻ đẹp của thân xác làm quan trọng hơn vẻ đẹp tâm hồn, giản lược tấm lòng của con người vào quà tặng bên ngoài… Sự hiệp nhất ở mức độ thân xác, tự nó, không phải là một sự hiệp nhất trọn vẹn xứng với phẩm giá của con người.

Cuộc sống ở thế giới “có thời gian” luôn luôn là cuộc sống bất toàn trong một thế giới bất toàn. Bản chất của thế giới “có thời gian” là có sự qua đi, sự chấm dứt để nẩy sinh những cái mới và những tiến trình mới. Tính cách “qua đi”, tính cách phải bị “chấm dứt” ấy gắn liền với tất cả mọi thực tại của thế giới và của cuộc sống con người. Do đó, một trong những phẩm tính căn bản của người trưởng thành lại là khả năng chấp nhận cái tương đối, chấp nhận giới hạn của chính mình và giới hạn của người khác cũng như của thế giới chung quanh. Con người luôn là kẻ khao khát tuyệt đối, nhưng đòi hỏi tính chất tuyệt đối nơi một thế giới “có thời gian” lại là một đòi hỏi phi lý và đưa đến những tâm tình tuyệt vọng.

Tuy nhiên, lý trí không có tình yêu là một sự hiểu biết vô ngã và không đủ để đi đến gặp gỡ.

5/ Tình yêu, đón nhận hệ lụy của nhau đến cùng

6/ Mắc nợ nghĩa tình

Động lực vận hành của trao tặng không phải là hai bên cùng có lợi, nhưng là “mắc nợ nghĩa tình”. Từ một sự mua bán - đổi chác đến sự trao tặng, thật sự có một sự thay đổi ý nghĩa quan trọng. Cuộc đời, tự nó, đã đặt tất cả mọi người vào trong một tình trạng “mắc nợ” nhau quá nhiều. Trong cuộc sống ấy, người ta mà chỉ có thể “trả nợ đời” bằng một tâm tình “mắc nợ nghĩa tình”; và tâm tình ấy lại chính là nguyên lý của trao tặng.

7/ Tình yêu, định hướng lại giao ước

Con người là người và làm người. Đời sống con người là một hành trình và phải dấn thân đi vào lịch sử; cái chính yếu của đời người là dấn thân chứ không phải giác ngộ; là một hành động chứ không phải lý thuyết, là chọn lựa và lao vào cuộc chứ không phải là bảo vệ một tình trạng nào. Dấn thân vào hành trình lịch sử, đó là một vận mạng vô cùng phức tạp chứ không phải chỉ là một bài học lý thuyết có thể được hiểu một lần là xong. Cuộc đời có muôn vàn tình huống mà không thể dễ dàng giải quyết bằng một nguyên tắc đã có. Do đó, con người không phải chỉ cần một Thiên Chúa soi sáng, dạy bảo cho bằng cần một Thiên Chúa đồng hành.

Những người đứng trước cái chết, nhất là những người trải qua một cuộc đời lầm lũi khổ đau, thường sẽ nhận ra tính vô vọng, tính vô nghĩa tự tại của cuộc đời. Tính vô nghĩa ấy chỉ có thể được vượt qua khi người ta hiểu cuộc đời mình là lời đáp. Ý nghĩa trọn vẹn của đời sống con người chính là nhận ra mối liên hệ ý nghĩa của đời mình với Thiên Chúa, và đời sống ấy trở thành một lời đáp. Do đó, điều quí trong nhất của đời sống con người chính là được nhận ra Thiên Chúa là Cha, là bạn đồng hành, là Đấng liên lụy vào đời sống giới hạn của con người; và như thế, đời sống con người chỉ còn là đáp lại, là dấn thân và phó dâng …

8/ Tình yêu, động lực chân chính của cuộc sống con người

9/ Tình yêu, liên lụy vào hành trình cuộc đời

10/ Tình yêu đại đồng, chân trời rộng mở

Xem lại Phần 4

Xem lại Phần 3

Xem lại Phần 2

Xem lại Phần 1