Chiêm Ngắm Huyền Nhiệm Tình Yêu - Phần 4

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Bình thường, khi hai người xa lạ, "người dưng khác họ", bắt đầu cảm thấy quí mến nhau, thì đó là vì họ nhận ra được những điều hay, điều tốt của nhau. Chẳng ai quí mến người xa lạ vì những điều xấu, những tật xấu. Bước khởi đầu của tình yêu là như thế, khởi đầu của một tình yêu thương là vẻ quyến rũ, hấp dẫn của người mình yêu. Tình yêu thương trong giai đoạn này thật thơ mộng, giống như một chuyện cổ tích về tình yêu. Nhưng nói cho cùng, tình yêu như thế vẫn còn ở mức độ của một thứ trao đổi thuận mua vừa bán. Tôi yêu anh, vì anh tốt, vì anh giỏi, vì anh đẹp... và điều đó cũng được ngầm hiểu là nếu không không tốt, anh không giỏi và đẹp nữa thì tôi cũng chẳng thể yêu anh nữa.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

Tình yêu, ba cấp độ tiêu biểu

1. Hiểu lầm về tình yêu

Bình thường, khi hai người xa lạ, "người dưng khác họ", bắt đầu cảm thấy quí mến nhau, thì đó là vì họ nhận ra được những điều hay, điều tốt của nhau. Chẳng ai quí mến người xa lạ vì những điều xấu, những tật xấu. Bước khởi đầu của tình yêu là như thế, khởi đầu của một tình yêu thương là vẻ quyến rũ, hấp dẫn của người mình yêu. Tình yêu thương trong giai đoạn này thật thơ mộng, giống như một chuyện cổ tích về tình yêu. Nhưng nói cho cùng, tình yêu như thế vẫn còn ở mức độ của một thứ trao đổi thuận mua vừa bán. Tôi yêu anh, vì anh tốt, vì anh giỏi, vì anh đẹp... và điều đó cũng được ngầm hiểu là nếu không không tốt, anh không giỏi và đẹp nữa thì tôi cũng chẳng thể yêu anh nữa.

Thật ra, ở mức độ tình yêu này, người ta thường bị rơi vào ảo tưởng, ảo tưởng thần tượng hóa. Người ta chỉ nhận ra một một vài điều hay điều tốt nơi người mình yêu, những lại muốn tô đẹp tất cả bản thân của người yêu, khiến cho "một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng". Ảo tưởng thần tượng hóa làm cho tình yêu trở nên bay bổng như mây, nhưng cũng bồng bềnh dễ tan biến như bọt bèo. Việc tô đẹp quá mức sự thật làm cho ta "mất hồn". Tuy nhiên, sự thật vẫn là sự thật, và đến một lúc nào đó sự thật sẽ làm lộ ra chân tướng của người mình yêu.

Qui luật "thuận mua vừa bán", nghĩa là một sự đổi chác theo nguyên tắc anh phải đáng yêu thì tôi mới yêu, khiến cho người ta phải đẩy "cái giá" của người mình yêu trở nên quá mức, đến mức độ giả tạo. Rồi một khi ảo tưởng bị rơi rụng, người ta thấy được bộ mặt thật của nhau rõ hơn, thì qui luật thuận mua vừa bán bị phá vỡ : anh không còn xứng đáng với tình yêu của tôi nữa, thì tôi cũng chẳng yêu anh nữa. Đó cũng là bi kịch của những thứ hiểu lầm về tình yêu, lấy giai đoạn khởi đầu của tình yêu làm nên tất cả chiều dài, chiều sâu của tình yêu; quá tin vào phần quảng cáo của tình yêu.

2. "Hiểu đúng" về tình yêu

Bình thường, sau một thời gian chia sẻ cuộc đời với nhau, những tâm hồn thành tâm sẽ được biến đổi để đạt đến mức độ thứ hai của tình yêu. Quá trình sống ấy sẽ dần dần xoá bỏ ảo tưởng thần tượng hóa để thay vào đó là một cảm nhận liên đới với nhau, xây dựng được một bề dầy nghĩa tình. Khi đó, người ta không còn chỉ thấy nơi người mình yêu toàn những điều hay điều tốt, nhưng nhận ra người mình yêu thương có đủ cả cái tốt và cái xấu, cả những đức tính và những tật xấu. Chính bề dày nghĩa tình sẽ giúp những tâm hồn thành tâm ấy đón nhận được người mình yêu thương, không phải theo quy luật "thuận mua vừa bán", nhưng theo tinh thần "đồng hội đồng thuyền". Ở mức độ thứ hai này, ta không còn đứng ngoài vận hành của tình yêu, trả giá, mua bán, trao đổi tình yêu như một món hàng, như một sự vật khác với chính bản thân của nhau. Mức độ thứ hai này giúp ta bắt đầu biết đưa bản thân mình vào cuộc, sống tình yêu trong sự liên lụy bản thân mình với bản thân của người mình yêu, kết dệt tình yêu trở thành một cuộc sống biết trợ đỡ nhau trong những bất toàn, biết "bọc lót" cho nhau trong những sai lỗi, biết đón nhận khuyết điểm của người mình yêu như thuộc trách nhiệm của mình và biết cống hiến bản thân mình cho sự sống của người mình yêu được phát triển phong phú hơn.

Những ai ở lì nơi vị thế đứng ngoài vận hành của tình yêu, người đó sẽ mãi sống thái độ trả giá theo kiểu "thuận mua vừa bán", và tất nhiên sẽ vấp ngã ở giai đoạn này. Họ yêu thương như là một thứ kinh doanh cuộc đời mà phần lợi của bản thân mình luôn là điều ưu tiên. Con người ấy suốt đời đi tìm những cuộc tình khác mà chẳng thể gắn bó lâu dài với ai được.

3. "Hiểu tốt" về tình yêu

Cuộc sống luôn có sẵn những bất ngờ mà không ai có thể tiên liệu được hết, bất ngờ về những chuyện bên ngoài và bất ngờ về chính bản thân của người mình yêu. Cuộc sống có thể có những hoàn cảnh mà người mình yêu, chẳng phải vừa có điều tốt vừa có điều xấu, nhưng trước mắt chỉ toàn là những điều xấu mà thôi. Khi người chồng/vợ trở thành một con nghiện, một tội phạm, một con nợ, một kẻ phản bội, hoặc là một bệnh nhân nằm yên ở đó... lúc đó tình yêu đứng trước một thách thức lớn. Tình yêu trao đổi qua lại trở thành tình yêu một chiều. Người ta nhận ra mình chỉ có cho mà không có nhận, chỉ có cống hiến mà không được đáp trả, chỉ có phục vụ mà không được phục vụ, chỉ có mất mát, thậm chí mất mát cả một cuộc đời mà không nhận lại được điều gì trong cuộc sống này...

Khi đó, tình yêu "đồng hội đồng thuyền" cũng sẽ chẳng đủ để người ta lao mình vào một cuộc hy sinh lớn như thế. Nếu ai chân nhận rằng : biên giới của tình yêu thương là tình yêu vô biên, sức mạnh của tình yêu là "mạnh như sự chết", hành trình của tình yêu là "yêu thương đến cùng", thì người ấy cũng xác tín rằng tình yêu chân thật thôi thúc con người vượt qua được cả thứ tình yêu "đồng hội đồng thuyền", để vươn tới mức độ tình yêu hoàn toàn tặng-không.

4. "Hiểu trọn vẹn" trong tình yêu của Thiên Chúa

Chúa Giêsu không dạy chúng ta một bài học hợp lý để sống an hòa trong cuộc đời của mình, nhưng là một lời mời gọi có tính tuyệt đối. Ngài mời gọi chúng ta yêu thương kẻ thù : "Còn Thầy, Thầy bảo anh em : hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em". (Mt 5,44); Ngài mời gọi chúng ta yêu thương bằng tình yêu lớn hơn mọi tình yêu : "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15,13); Ngài thể hiện tình yêu thương "đến cùng" : "Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng." (Ga 13,1); Ngài thể hiện tình yêu tha thứ : "Bấy giờ Đức Giê-su cầu nguyện rằng : "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm." (Lc 23,34)…

Những đường nét của tình yêu theo kiểu Đức Giêsu khai mở một chân trời bao la cho nẻo đường yêu thương. Con người, nơi mỗi chặng phải vượt qua trong hành trình yêu thương, sẽ khó lòng vượt lên được, nếu phía trước ấy là hư vô. Đức Giêsu đã đi vào hành trình yêu thương ấy, Ngài chỉ cho con người lý tưởng đích thực của tình yêu, và nhất là Ngài đồng hành với con người để chính sức mạnh tình yêu lớn lao của Ngài trở thành nguồn động lực cho con người đi trọn hành trình của tình yêu.

Tình yêu trao tặng bản thân

1. Trao đổi và trao tặng

Xã hội con người kỳ diệu hơn đời sống của con vật nhờ ở sự trao đổi. Trao đổi làm cho cuộc sống con người phong phú và phát triển. Việc mua bán đổi chác ấy được diễn ra trên nền tảng của một sự công bằng, và tính cách công bằng được thực hiện bằng cách “cân đong đo đếm” giá trị sản phẩm trao đổi của hai bên. Để làm được điều ấy, người ta phải thiết lập ra một “hệ đo lường” như một hệ quy đổi chung. Con gà và đồng tiền không có gì chung nhau, nhưng được quy đổi trong hệ thống giá trị kinh tế xã hội để có thể trao đổi cho nhau trong các phiên chợ. Giá trị của sự vật ấy được đánh giá theo một quy luật khách quan, nhằm tạo nên sự công bằng xã hội.

Trong khi đó, trao tặng lại là một vận hành đặc biệt diễn tả được tình tự yêu thương của cuộc sống con người. Có khi ta đi ăn tiệc tại nhà một người bạn và gặp một món ăn không được ngon lắm. Nhưng khi đó, chủ nhà giới thiệu với ta : đây là “cây nhà lá vườn”. Điều đơn giản ấy tức khắc làm cho món ăn không ngon lành đó trở thành quí; vì như thế là ta được tham dự vào đời sống, được chia sẻ hành trình sống của gia chủ. Cũng thế, một món quà mọn, được dâng tặng với cả tấm lòng thành, sẻ trở nên quí giá; và người nhận được món quà ấy, nếu có đủ tấm lòng như một con người chân chính, sẽ đón nhận được tính cách quí giá ấy trong niềm vui.

Khác với trao đổi, bản chất của trao tặng không phải là sự trao đổi hai sự vật, nhưng là trao tặng bản thân cho nhau. Trong sự trao đổi, bao giờ cũng phải có sự phân biệt giữa “chủ thể trao đổi” và “vật trao đổi”. Chủ thể trao đổi đứng bên ngoài vận hành trao đổi, họ chỉ dùng “vật trao đổi” như “vật thí thân” để tìm phần lợi khác cho mình. Ngược lại, trong trao tặng, chính chủ thể đưa vào vật trao đổi một phần nào đó của bản thân mình, sản phẩm là sự bộc lộ chính tình nghĩa của người trao tặng. Trong trao tặng, “vật trao tặng” và “chủ thể trao tặng” chẳng những không “lợi dụng”, không “thí bỏ” nhau, nhưng liên hệ với nhau trong cùng một dòng ý nghĩa.

Thật ra, trong mức độ sống của con người, giá trị của một sự vật không hoàn toàn lệ thuộc vào giá trị tự thân của chính sự vật ấy, hoặc do tiêu chuẩn đánh giá của xã hội thị trường, nhưng còn do ý nghĩa mà con người ban tặng cho nó. Đó là cách thức sống siêu việt của con người; nơi đó, người ta trao đổi tình nghĩa với nhau chứ không phải phân chia để hưởng thụ sản phẩm; nơi đó, chính tấm lòng của con người được gởi vào các sản phẩm là điều quan trọng hơn và đôi khi có thể làm cho các sản phẩm ấy trở nên tuyệt đối. Nguyên lý nền tảng của trao tặng không phải là sự công bằng, nhưng là tình nghĩa.

2. Trao tặng, đó là một sứ mạng của con người

Con người được Thiên Chúa sáng tạo nên để sống với Chúa và sống với nhau. Đó là vận mạng sống trong yêu thương và sống vì tình yêu thương. Sứ mạng xây dựng thế giới yêu thương lớn hơn và bao hàm sứ mạng làm chủ trái đất. Trình thuật sách Sáng Thế cho thấy Adong được Chúa đặt vào vườn Địa Đàng, ban đầu là để “đặt tên”, nghĩa là làm chủ muôn loài. Tuy nhiên, Sách Thánh lại cho ta thấy, sau khi làm chủ tất cả mọi sự trong vườn địa đàng, Adong cảm thấy buồn vì không gặp được người trợ tá tương xứng. Rồi chỉ khi gặp được Evà thì ông mới kêu lên được tiếng reo vui của phận người .(X.St 2, 18-24). Đó là một bước nhảy con người cần phải vượt qua trên hành trình làm người; vượt qua từ niềm vui chiếm hữu sự vật, từ niềm vui làm chủ của cải, để đi đến niềm vui gặp gỡ con người với nhau trong yêu thương. Chưa làm được cuộc vượt qua này, con người chưa phải là kẻ trưởng thành. Chưa làm được cuộc vượt qua này, con người vẫn còn lẩn quẩn trong việc đi tìm sự sung sướng và chưa biết nếm cảm hạnh phúc đích thực. Như thế, theo quan điểm Kitô giáo, con người lao động, con người hưởng thụ, con người thống trị,.. chưa phải là con người đích thực. Con người cần lao động, con người cần khai thác và hưởng dùng những sản phẩm của thiên nhiên, nhưng đó không phải là lẽ sống của con người mà chỉ là phương tiện để con người góp phần xây dựng tình yêu thương. Trong chính quá trình lao động ấy, con người được kêu gọi để cộng tác với nhau; và khi hoàn thành được sản phẩm, con người được kêu gọi để chia sẻ cho nhau những thành quả ấy. Như thế, sản phẩm có tính sự vật trong lao động chỉ có ý nghĩa khi được con người sử dụng trong tương quan yêu thương, nghĩa là sử dụng như món quà của tình nghĩa để trao tặng cho nhau.

Quả thật, mọi sản phẩm của con người, dù có được nắn nót đến đâu cũng không bao giờ có thể trở thành tuyệt đối, cho đến khi chúng trở thành một món quà để con người trao tặng cho nhau. Nếu không được trao tặng và lãnh nhận, những sản phẩm ấy, vẫn là những “vật liệu thô”, không đầy đủ ý nghĩa, không có giá trị tự thân. Ngược lại, một sản phẩm của con người, dù tầm thường đến đâu, khi được trao tặng với tấm lòng, nó hoàn thành ý nghĩa của nó, tức là trở nên nhịp cầu để con người đến với nhau; và nó chỉ trở nên quí giá thật sự khi người ta gặp được tấm lòng của nhau trong sản phẩm ấy.

3. Trao tặng, đó là vận mạng của con người

Như thế, cách thức chính yếu để con người thống trị vũ trụ không phải chỉ là khai thác vũ trụ, nhưng tiếp theo đó, còn là đưa nó vào thế giới nhân văn của con người, làm cho nó trở thành là phương tiện cho con người sống tình yêu thương với nhau. Trao tặng chính là sống tình yêu trong cách thức sử dụng sự vật.

Đúng hơn, con người ta chỉ sử dụng sự vật như phương tiện để diễn tả bản thân, chứ không được giản lược bản thân con người vào trong sự vật. Qui luật sống của con người là biết sử dụng vật chất như nhịp cầu để nối kết bản thân của mỗi người với bản thân của người khác. Khi ta thành tâm dâng tặng một món quà, món quà đó kkông còn là nó nữa, nhưng đã biến nên một giá trị nhân văn, đó là dâng tặng một phần bản thân của mình cho người khác.

Thật ra, bản chất của trao tặng luôn ít nhiều hướng tới sự trao tặng bản thân của mình cho người khác. Khi việc dâng tặng đạt đến mức độ trao tặng bản thân cho nhau, tức là khi ấy tặng phẩm là chính bản thân của người trao tặng, thì bản thân mỗi người sẽ là món quà vô giá mà con người có thể trao tặng cho nhau :

“Ngước mắt lên nhìn, Đức Giêsu thấy những người giàu đang bỏ tiền dâng cúng của họ vào thùng tiền. Người cũng thấy một bà góa túng thiếu kia bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm. Người liền nói: “Thầy bảo thật anh em: bà góa nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. Quả vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào dâng cúng; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình (Lc 21, 1-4)”.

Tên gọi khác của Tình yêu : lòng nhân từ

1. Hai loại tình yêu

Ta có thể tạm chia ra hai loại tình yêu, tình yêu hàng dọc và tình yêu hàng ngang. Tình yêu hàng dọc là tình yêu của cha mẹ đối với con cái, ông bà đối với con cháu, thầy đối với trò...; tình yêu hàng ngang là tình yêu của vợ chồng với nhau, bè bạn, anh em...

Đặc tính của tình yêu hàng ngang là đòi hỏi người mình yêu phải có những phẩm tính tốt. Đó là một thứ tình yêu "nhìn lên", và chỉ có thế thấy được, chấp nhận được người mình yêu "ở trên cao". Hoặc nói cách khác, thứ tình yêu hàng ngang thường mang tính đổi chác, và người ta đòi người được yêu phải có được thứ gì tốt để đổi lấy tình yêu. Thứ tình yêu nhìn lên này không thể chảy đến được những chỗ thấp và chỉ cần một chút vật cản là dòng nước yêu thương sẽ bị ngăn chặn lại. Thật ra, ánh mắt nhìn lên của thứ tình yêu hàng ngang như thế không phải là một sự chân nhận phẩm giá cao quí của con người, nhưng chính là cố tìm những phẩm chất bên ngoài bản thân của người mình yêu thương. Khi ta được quí trọng vì ta có tài, thì điều đó ẩn chứa mối nguy là khi ta không còn tài năng nữa, bản thân ta sẽ không còn được chấp nhận.

Trong khi đó, tình yêu hàng dọc thì lại diễn tiến theo quy luật đi xuống, đó là "nước mắt chảy xuống". Tình yêu hàng dọc không phải là đổi chác những là ban tặng, nó có thể chảy đến những nơi thấp, và hơn nữa lại có khuynh hướng đọng lại ở nơi trũng nhất. Tình yêu hàng dọc được bày tỏ nơi ai đó cần tới tình yêu, khao khát tình yêu, chứ không phải nơi có điều hay điều tốt để đổi lấy tình yêu. Tình yêu hàng dọc có khả năng bao bọc được những mảnh đời rách nát, trong khi tình yêu hàng ngang lại chỉ nhắm đến những con người tốt lành.

2. Lòng thương hại hay tình yêu đón nhận bản thân ?

Người ta thường sợ bị người khác thương hại. Để không "bị thương hại", người ta muốn khẳng định bản thân mình như một con người có giá trị và muốn được chấp nhận như một người có tài, có đức, có nét đẹp hay một sự độc đáo nào đó. Thế nhưng khi người ta muốn tìm thấy giá trị cuộc đời mình trong một phẩm chất nào đó để đối lấy tình yêu, thì người ta rơi vào tình trạng coi tình yêu như một sự đổi chác. Nếu có một anh chàng nào đó vỗ ngực tự hào rằng: tao đẹp trai, học giỏi, con nhà giầu, tao muốn đứa con gái nào chẳng được... thì quả thật đó là một anh chàng chưa trưởng thành, một con người vẫn mang tâm trạng của tuổi vị thành niên, một người muốn lấy tài năng của mình để chinh phục người khác. Thế nhưng tình yêu không thể đổi chác được. Tình yêu chỉ được thể hiện trong tự do trao tặng và đón nhận với lòng tri ân.

Đây là một vị thế chao đảo trong khát vọng yêu thương của con người. Thật sự nhu cầu khẳng định bản thân mình là một như cầu chính đáng, và tình yêu chân chính khác với thứ tình yêu "bố thí". Tuy nhiên, điều chính yếu của lòng thương hại là tính cách không chấp nhận bản thân. Khi thương hại ai, người ta chỉ thương người ấy vì tình trạng khó khăn, vì hoàn cảnh éo le, vì vết thương tinh thần hay thể xác... chứ không phải đón nhận chính bản thân của người ấy. Đế khi mà hoàn cảnh, tình trạng đáng thương ấy không còn nữa, thì tình thương hại cũng chấm dứt. Trong khi đó, tình yêu chân chính bắt nguồn từ tự do của con người, một sự tự do chân chính không phải để làm bất cứ điều gì mình muốn, những là tự do để trao tặng tình yêu, tức là trao tặng chính bản thân mình cho người khác. Ở đây, sự khẳng định chính mình không mang ý nghĩa đổi chác, nhưng là để đáp lại một tình yêu đã nhận được. Tình yêu đích thực không nằm trong vận hành của sự đổi chác, nhưng nằm trong vận hành của trao tặng trong tự do.

3. Tình yêu hàng dọc

Tình yêu hàng dọc không phải là lòng thương hại nhưng là một tình yêu chấp nhận bản thân một cách trọn vẹn. Cha mẹ thương con cái, và thương đặc biệt những đứa con đang gặp khó khăn, đau khổ. Điều đó không có nghĩa là khi đứa con ấy hết đau khổ thì cha mẹ cũng không còn thương đứa con ấy nữa; nhưng ngược lại cha mẹ lại càng mừng hơn nữa vì con của mình đã thoát được khổ đau.

Tình yêu hàng dọc cũng không phải là một sự đổi chác như tình yêu hàng ngang thường mắc phải. Tình yêu hàng dọc là một sự tặng không, tuôn đổ xuống, mà nhiều khi không cần được đáp trả. Tình thương hàng dọc, như là cha mẹ với con cái, mới chính là thứ tình thương chấp nhận bản thân, dám liên lụy, đồng hành với người mình thương mến cả trong nỗi khổ lẫn những lúc thành công hay thăng tiến. Con khổ thì cha mẹ thương, nhưng con thành công thì cha mẹ mừng. Chính chính thứ tình thương hàng dọc như thế mới thực sự là lòng thương gắn liền với sự chấp nhận bản thân.

Mặt khác, chỉ tình yêu hàng dọc mới có thể thích hợp hoàn toàn với tình trạng của con người trong trần gian này. Con người là "nhân vô thập toàn", ai cũng có những khuyết điểm, những tật xấu, đôi khi bị sa vào hoàn cảnh bi đát đến độ không còn có gì để đổi chác như trong thứ tình yêu hàng ngang. Nếu người ta hiểu tình yêu chỉ là thán phục những điều hay điều tốt của nhau, thì sẽ có những lúc người ta không tìm thấy được điều gì hay tốt để đáng được yêu. Nếu người ta dừng lại ở thứ tình yêu chỉ nhằm đổi chác, tình yêu ấy cũng đi vào con đường bế tắc và đưa đến đổ vỡ. Có lẽ chính sự hiểu lầm này làm cho biết bao gia đình đã không vượt qua được những thử thách khó khăn của cuộc đời. Đức Gioan Phaolô II, trong thông điệp Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót, nói rằng, ở trần gian này, tình yêu phải mặc lấy một tên gọi thứ hai là lòng nhân từ.

4. Phẩm chất của tình yêu Thiên Chúa : lòng nhân từ

Con người cần đến Thiên Chúa để được cứu độ, điều đó có ý nghĩa cụ thể là con người cần đến tình yêu của Thiên Chúa. Đứng trước tình yêu Thiên Chúa, con người không có gì để đổi lấy tình yêu của Ngài. Con người đón nhận tình yêu của Thiên Chúa như lòng nhân từ. Chính vì thế, tình thương của Thiên Chúa đối với nhân loại luôn luôn là một thứ tình yêu hàng dọc, là tình thương đổ tràn xuống, và nhất là tình thương đối với những người bé mọn. Mạc khải cho chúng ta thấy lòng nhân từ là một phẩm chất căn bản của Gia-vê, và chúng ta thấy Đức Giêsu làm chứng vai trò Thiên Sai của Ngài bằng cách tỏ lộ lòng nhân từ của Thiên Chúa : “Người trả lời hai người ấy rằng : "Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe : người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết chỗi dậy, kẻ nghèo được nghe tin mừng” (Lc 7,22)

Tình yêu, con đường tìm hạnh phúc

1. Lẫn lộn giữa hạnh phúc và sung sướng

Điều người ta thống nhất được với nhau, đó là mọi người đều khao khát hạnh phúc và đều cố gắng tìm cho mình một đời sống hạnh phúc. Nhưng “hạnh phúc là gì ?”, đó là điều người ta không dễ dàng đồng ý nhất với nhau. Thật không dễ định nghĩa được hạnh phúc. Tuy nhiên, có lẽ ta vẫn ta có thể xác định được điều chính yếu : hạnh phúc là mục đích chính yếu của đời sống con người thì có lẽ chẳng phải do một chút khôn khéo của kỹ thuật sống mà có được nhưng phải gắn liền với ý nghĩa căn bản của đời người… Có lẽ cái điều làm cho người ta điên đảo chính là sự “giông giống” giữa hạnh phúc và sung sướng. Giống đấy nhưng thực sự lại khác nhau lắm.

a. Sung sướng thì đo đếm được, hạnh phúc không đo đếm được

Ta có thể dễ dàng khẳng định người này sung sướng hơn người kia khi nhìn vào nếp sống bên ngoài của họ : người có nhà ở tiện nghi thì sướng hơn người vô gia cư, hoặc ở trong nhưng khu ổ chuột; người thường được ăn nhà hàng thì sướng hơn người phải chạy gạo từng bữa… Nhưng nhìn từ bên ngoài như thế, ta khó có thể biết được người này có hạnh phúc hay không, hạnh phúc nhiều hay ít, có hạnh phúc bằng người kia không… Sung sướng là điều ta đo đếm được; còn hạnh phúc lại là điều không thể đo đếm được. Sung sướng giống như một bông hoa để cho người khác có thể xem thấy; hạnh phúc giống như một hạt giống âm thầm. Bông hoa thì khoe sắc cho người khác thấy; còn hạnh phúc thì ôm lấy sự sống trong bản thân. Bông hoa thì được đánh giá đẹp hay không đẹp; hạt giống lại ấp ủ sức sống trong chính mình...

b. Sung sướng do so sánh, hạnh phúc do tìm được ý nghĩa của mình đời mình

Một khía cạnh khác để phân biệt hạnh phúc với sung sướng là : Sung sướng là do so sánh với người khác, hạnh phúc lại bắt nguồn từ việc khám phá ý nghĩa cuộc đời mình. Cái đo đếm được (sung sướng) thì cũng so sánh được; và chính bài toán so sánh làm cho cái được đo đếm ấy trở thành nhiều hay ít, tốt hay xấu… và điều đó làm nên thế giới của khổ sở và sung sướng. Người ta thường cảm thấy mình sung sướng hay khổ sở khi so sánh đời mình với những người chung quanh. Nhiều khi trong một hoàn cảnh duy nhất, lúc này người ta thấy mình sung sướng vì so sánh với những người khổ sở hơn mình; nhưng lúc khác lại thấy mình khổ sở khi so sánh với những người sung sướng hơn. Phẩm chất của cảm nhận sung sướng là do kết quả của một bài toán so sánh. Nhưng thái độ so sánh thường không giúp cho người ta biết mình một cách đúng đắn. Đứa học trò chỉ biết so sánh số điểm của mình với bạn bè xung quanh để vui hay buồn thì sẽ không biết thực sự mình dốt hay mình giỏi. Trong khi đó, mức độ hạnh phúc lại tùy thuộc vào “độ sâu” của ý nghĩa mà người ta khám phá ra được. Càng khám phá ra ý nghĩa sâu xa hơn của cuộc đời mình, những ý nghĩa gắn liền sâu xa hơn với vận mệnh đời người, thì người ta càng có cơ may tìm được hạnh phúc đích thực của mình.

c. Sung sướng đem lại cảm giác thoả mãn, hạnh phúc đem lại sự sung mãn

Nhìn từ một khía cạnh khác, ta thấy sung sướng làm thỏa mãn khát vọng hưởng thụ sự vật; trong khi đó hạnh phúc hình thành nên một ý nghĩa sung mãn cho bản thân. Lý do là vì chiều hướng của sung sướng và chiều hướng của hạnh phúc hoàn toàn khác nhau : sung sướng thì hướng tới sự “tiêu thụ” trực tiếp sản phẩm. Hạnh phúc thì lại giúp ta quay về với ý nghĩa chân chính của bản thân, rồi thôi thúc ta cống hiến bản thân mình cho người khác. Người làm cha/ mẹ sống niềm hạnh phúc được làm cha/ mẹ, và ý nghĩa ấy thôi thúc cha mẹ cống hiến hơn nữa cho con cái. Cảm nhận thỏa mãn trong sung sướng dễ đưa đến thái độ thích hưởng thụ và dễ gắn liền với ích kỷ. Hạnh phúc thì cung cấp ý nghĩa cho bản thân và gia tăng năng lực cho cuộc sống.

d. Sung sướng chỉ tốt khi nó được bao bọc trong hạnh phúc

Trong qui chế sống của con người, sự vật chỉ là phương tiện để giúp con người gặp nhau và hiệp thông với nhau. Sự vật là nhịp cầu để con người đến với nhau, sự vật là phương tiện con người dùng để chính bản thân con người đến được với ai khác trong ỵêu thương. Khi người ta đi tìm sự vật để tiêu thụ sự vật như một sản phẩm, người ta sung sướng; ngược lại, khi người ta dùng sự vật để diễn tả lòng yêu thương của mình đến ai khác, người ta gặp gỡ người khác và khi đó người ta mới đạt tới được hạnh phúc. Chính vì không sắp xếp được thứ bậc giá trị giữa hạnh phúc và sung sướng, nhiều người tưởng rằng khi có thêm điều kiện để sung sướng, thì ta cũng đương nhiên có thêm hạnh phúc. Rồi khi đạt được một lối sống sung sướng hơn, người ta lại thường đánh mất hạnh phúc. Đúng ra sung sướng chỉ có thể làm gia tăng hạnh phúc khi con người biết hưởng dùng trong tình yêu và để diễn tả tình yêu. Chẳng hạn: người đi mua dâm thì chỉ tìm được sự sung sướng; nhưng chỉ trong tính yêu vợ chồng, chuyện chăn gối đồng thời mang lại cả khoái cảm sung sướng lẫn hạnh phúc. Bởi vì mua dâm là mua thân xác người khác như một sự vật; không phải là sự gặp gỡ người yêu bằng trọn vẹn bản thân của mình. Tuy vậy, cũng phải luôn nhớ rằng sung sướng là một cạm bẫy rất dễ làm tha hóa con người. Người nào quá chú trọng tìm sung sướng thường là người ít có khả năng nếm cảm hạnh phúc.

2. Hạnh phúc là do tình yêu

Lý do chính yếu xác đinh hạnh phúc chính là : hạnh phúc không nằm trong mối tương quan với sự vật nhưng gắn liền với tương quan ngôi vị, đó là gặp gỡ “cái tôi” của nhau, chấp nhận “cái tôi” của nhau, và dâng tặng “cái tôi” cho nhau. Điều đó khác hẳn thứ sung sướng do hưởng thụ sự vật, và cũng khác với kiểu chỉ biết đón nhận người khác như một tài năng, sắc đẹp, hoặc đức tính. Hạnh phúc gắn liền với việc khám phá ra ý nghĩa trọn vẹn nhất của bản thân, và ý nghĩa ấy chỉ được thể hiện khi người ta đáp ứng được nhu cầu lớn nhất của con người, nhu cầu sống với, hoặc trọn vẹn hơn, đó là nhu cầu yêu thương. Hạnh phúc, trước tiên, đi theo chiều hướng tìm lại ý nghĩa của bản thân mình, và ý nghĩa đó thúc đẩy con người tìm đến với ai khác để thực hiện khát vọng thâm sâu nhất của đời người, khát vọng yêu thương. Nói cho cùng, hạnh phúc chỉ có trong yêu thương, vì yêu thương là bản chất sâu xa nhất của con người. Hạnh phúc là cảm nhận được ý nghĩa của yêu thương và thôi thúc dâng tặng trong yêu thương. Hạnh phúc là hoa trái của yêu thương và chỉ trong yêu thương người ta mới tìm thấy hạnh phúc đich thực. Công Đồng Vatican II gồm tóm ý nghĩa đó khi nói : “Con người, tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ, chỉ có thể gặp lại chính bản thân mình nhờ thành thực hiến thân” (MV 24). Hạnh phúc trần gian không là gì khác hơn những giây phút loé sáng của tình yêu chân chính.

Tình yêu hóa giải hận thù

1. Thế giới hận thù

Thế giới con người là một cuộc chiến, cuộc chiến giành giựt sự sống. Trước đây, khi thế giới còn tương đối êm ả, con người cũng đã phải chiến đấu với thiên nhiên để tồn tại trong cuộc đời. Ngày nay, thế giới con người giống như một chiến trường đầy những cuộc cạnh tranh gay gắt. Cuộc cạnh tranh giành giựt sự sống trong thời đại hôm nay thường khi là một cuộc chiến khốc liệt, đến độ người ta phải mất ăn mất ngủ hoặc mang những thương tích đau đớn, thương tích tâm hồn hoặc thương tích thể xác; đôi khi đó là một cuộc chiến bi đát, nghĩa là muốn sống thì phải tiêu diệt người khác, một mất một còn. Nhu cầu cuộc sống đã tạo nên biết bao nhiêu tranh chấp, xung đột, và cả những hận thù khó có thể hóa giải được. Triết gia Hégel đã ví lịch sử con người như một cuộc đấu tranh biện chứng giữa chủ và nô, người này làm chủ thì người kia phải làm nô lệ, và khi người nô lệ chiếm được địa vị làm chủ thì người chủ lại phải chấp nhận thân phận nô lệ.

Nếu cuộc sống đã là một bãi chiến trường, thì trong cuộc chiến đó, nhiều khi, hay đúng hơn là thường khi, người ta phải sử dụng bạo lực. Người ta dùng những hành vi bạo lực, bạo lực thể chất hoặc bạo lực tinh thần, và coi như đó là phương cách thực sự cần thiết để giải quyết vấn đề. Thật ra, bạo lực chính là nguyên nhân tạo ra càng nhiều mầm mống xung đột hơn nữa.

Khi người ta gieo bất kỳ một hành vi nào đó vào cuộc đời, hành vi ấy trở thành vĩnh cửu. Ta đã đánh ai một lần, ta đã nói lời yêu thương ai một lần... thì những điều ấy đều đã trở thành lịch sử, một lịch sử không bao giờ có thể tan biến hoàn toàn. Dù người ta có mất trí nhớ, dù người ta quyết tâm bỏ qua những chuyện xưa cũ... thì việc làm và lời nói ấy vẫn còn đó, và hệ lụy của những lời nói hay hành vi ấy vẫn có phần của nó trong phẩm chất của dòng đời. Giống như gương vỡ không làm sao ghép lại được, giống như một bát nước đổ xuống đất không ai có thể hốt lại đầy một chén nước, thì thế giới nhân loại cũng đón nhận lịch sử, cả những điều tốt và những điều xấu, như một phần vận mạng khó có thể xóa nhòa. Rồi, những lời nói và hành vi ấy cũng sẽ lại tạo nên những hệ quả giây chuyền mà người ta không thể dùng một hành vi thuần túy luân lý để hóa giải.

2. Tình yêu hóa giải hận thù

Thế giới cạnh tranh và được giải quyết bằng bạo lực như thế giống như người ta dùng hai tảng đá để đập vào nhau, tảng đá nào cứng thì ít bị sứt mẻ, tảng đá nào mềm hơn thì te tua nhiều hơn. Thế nhưng, dù ta là tảng đá cứng, và dù ta có đập nát hòn đá nhỏ, ta vẫn không thể nghiền nát nó được. Cuộc sống sau khi đã được giải quyết bằng bạo động thì cũng đầy “sạn”. Bạo động không thể hóa giải được những sức mạnh chống đối nhau. Đó là điều mà người ta gọi là không thể lấy ác báo ác. Hoặc hơn nữa, trong tầm nhìn lớn của toàn lịch sử, người ta cũng chẳng thể chỉ lấy cái “trực”, sự chánh trực nghiêm minh, để giải quyết sự ác. Chánh trực nghiêm minh thì cũng giống như là một bức tường ngăn cản tảng đá của sự ác mà chẳng thể hóa giải được nó.

Chỉ có tình yêu mới hoá giải được sự ác, và chặn đứng dòng chảy miên man của bạo lực. Tình yêu ở đây có ý nghĩa như là khả năng “lãnh đủ” sức mạnh của sự ác vào trong bản thân mình, “tiêu hóa” sự ác mà không cần phải khơi lên một cuộc đối đầu nẩy lửa. Tình yêu đối với sự ác thì giống như một hồ nước, nó có thể lãnh nhận tảng đá của sự ác, của bạo lực vào trong bản thân mình và nhờ đó mà lại càng dâng cao hơn nữa mức độ của “bể nước yêu thương”. Thực sự người ta không thể hóa giải được sức mạnh của sự ác, nếu như không có đủ sự bao dung rộng mở của tấm lòng, nếu như không có đủ sự hiền lành, mềm mỏng của con tim; nếu như không có đủ thái độ sẵn sàng chấp nhận thiệt thòi...

Trong dòng lịch sử của nhân loại cũng như trong dòng lịch sử của một dân tộc; trong dòng lịch sử của một cộng đoàn, một gia đình hay trong dòng lịch sử của mỗi cá nhân con người, chỉ có sự bao dung của tình yêu có thể hóa giải được những xung lực của sự ác, của bạo lực, của hận thù...

3. Tình yêu của Chúa Giêsu

Bạo lực chưa bao giờ vắng bóng trong lịch sử nhân loại. Từ thời Cain cho đến cuộc sống hiện tại của chúng ta, thời nào cũng thế, và ở đâu cũng vậy, luôn vẫn có những người muốn dùng bạo lực để giải quyết vấn đề. Quả thật, bạo lực đã được con người khởi xướng lên từ nguyên thủy của con người phạm tội và nó không ngừng sinh sôi nẩy nở. Bạo lực đổ ập xuống con người, rồi nó biến những nạn nhân của bạo lực tiếp tục trở thành những người gây nên bạo lực. Bạo lực luôn lây lan như một bệnh dịch.

Bạo lực cũng có mặt trong cuộc đời của Chúa Giêsu. Hơn nữa, trong cuộc tử nạn của Chúa, chúng ta còn thấy một thứ bạo lực dã man và tàn bạo nhất : đánh đòn, đội mão gai, xỉ vả và hình khổ thập giá. Thế nhưng, ngay trong lúc nguy cấp nhất mà bạo lực gần như là phương thế duy nhất để có thể bảo vệ được sự sống của mình, thì Chúa Giêsu lại thẳng thắn khước từ bạo lực: “Đức Giê-su bảo người ấy : "Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm”. (Mt 26, 52). Chúa Giêsu không trực tiếp chống lại bạo lực nhưng Chúa tiêu diệt bạo lực bằng một đường lối của tình yêu. Thay vì dùng bạo lực để chống lại bạo lực, Chúa Giêsu đón nhận tất cả bạo lực vào bản thân mình, đón nhận một cách sẵn sàng và quảng đại. “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá“ (1 Pr 2,24).

Chúa Giêsu đã từng dạy rằng : “hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11, 29). Bài học hiền hậu và khiêm nhường không phải chỉ là một chút làm dáng để dễ thương hơn, không phải chỉ là một lối sống để tìm sự bình an trước những ganh đua của cuộc đời, không phải là một thứ khiêm nhường bằng lời nói tỏ ra ta đây hèn kém... nhưng là một bài học mà chính Chúa Giêsu đã thực hiện một cách bi tráng, bằng chính máu thịt, bằng chính mạng sống của Ngài. Con đường khiêm nhường và hiền hậu là con đường hóa giải bạo lực như một mãnh thú trong đời sống con người, con đường đó không phải là thái độ yếm thế, nhưng thực sự chính là thái độ hùng mạnh nhất của đời sống con người.

Tình yêu hướng tới sự hợp nhất chân chính

1. Hiệp nhất ở mức độ “sự vật”

Mức độ thấp nhất của hiệp nhất của con người với nhau là mức độ sự vật. Sự hiệp nhất của con người với nhau bằng bất cứ sự gì ở ngoài con người, có thể tách rời khỏi bản thân của con người, dù là vật chất hay tinh thần, đều có thể gọi được là sự hiệp nhất trong mức độ sự vật. Người ta có thể gặp gỡ một ai khác khi cùng làm việc chung, cùng sống trong một ngôi nhà, hoặc cùng ăn một bàn ăn với nhau, hoặc cùng chia sẻ cho nhau những của cải vật chất hoặc của cải tinh thần … Hiệp nhất như thế, chỉ là một thứ “bao bì”, trong đó, hai hay nhiều con người được bỏ chung vào với nhau; và mức độ vững bền của nó chỉ là một sức ép hoàn toàn ở bên ngoài. Sự hiệp nhất ấy có thể bị phá tan vì một sức mạnh hay một sự trở lực ở bên ngoài, do ai đó ở bên ngoài, do hoàn cảnh ngẫu nhiên ở bên ngoài.

2. Hiệp nhất ở mức độ thân xác con người

Ở một mức độ cao hơn, người ta có thể tìm được sự hiệp nhất trong thân xác. Chẳng hạn vợ chồng chăn gối với nhau, hoặc như người cha có thể bắt đứa con ngồi vào bàn học để học bài. Nhưng khi đó, người cha vẫn chỉ điểu kiển được thân xác của đứa con chứ chưa chinh phục được lẽ phải trong đầu óc của con. Đứa con sẽ còn làm đúng như ý của cha khi mà sức mạnh thống trị của người cha vẫn còn mạnh. Thân xác của đứa con bị khuất phục, nhưng không phải là "tâm phục khẩu phục", nó bị đè nén để rồi lúc nào đó sẽ vùng lên và chống cụ lại một cách mãnh liệt. Người cha muốn áp đặt sự vâng phục của con bằng sức mạnh vũ phu thì chỉ có thể tìm được một sự hợp nhất nơi thân xác mà thôi. Sự hòa hợp vợ chồng trong đời sống chăn gối nếu chỉ dừng lại ở mức độ khoái lạc cũng mang cùng một ý nghĩa như vậy.

3. Hiệp nhất trong hiểu biết

Trong khi lựa chọn người bạn đời, thì một trong những tiêu chuẩn vẫn còn nhiều giá trị trong xã hội hôm nay, đó sự mức độ tương đối ngang hàng về trình độ văn hóa của hai người nam và nữ. Đó là một điều hợp lý, vì vợ chồng, sẽ phải chia sẻ cuộc đời với nhau trong rất nhiều lãnh vực, rất nhiều vấn đề… Hai người khác trình độ văn hóa sẽ thường có những lối nhìn khác nhau, những tiêu chuẩn ưu tiên khác nhau và những giá trị khác nhau. Một mức độ văn hóa, hoặc nói rộng ra là một sự "biết điều" sẽ là một yếu tố thuận lợi cho sự bền vững của đời sống gia đình. Tuy nhiên, lý trí không phải là cơ năng quan trọng độc nhất của con người. Lý trí hướng dẫn thực hành nhưng không dễ làm nên động lực sống cho cuộc sống. Nhiều khi người ta “biết rồi” nhưng vẫn không thể thực hiện được; hoặc có khi người ta quá biết điều lành, nhưng vẫn không thể bỏ được tội lỗi. Thánh Phaolô nói : “Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu : vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm”. (Rm 7,15). Vì thế, ta thấy nhiều khi con người ta rơi vào tình trạng nói mà không làm.

4. Hiệp nhất trong tình cảm

Có những người, một cách thực tế hơn, khi lựa chọn bạn đời, không căn cứ và trình độ văn hoá của bằng cấp, nhưng là sự hòa hợp tính tình với nhau : những sở thích, những mối quan tâm, và nhất là tình cảm thân thương dành cho nhau. Sự hiệp nhất của tình cảm thì mãnh liệt và sâu xa hơn. Người ta cảm thấy an vui, hạnh phúc khi ở bên cạnh người mình thương mến. Tuy nhiên, tình cảm là một điều gì chóng qua, nồng nàn đấy nhưng cũng có thể mau chán; thương nhớ đấy, nhưng chưa hẳn đã có thể cùng nhau sống trọn một cuộc đời. Ta cũng có thể thấy, trong thực tế của cuộc đời, có những mối tình nồng nàn biết bao, để rồi cuối cũng cũng vẫn gẫy đổ trong chiều dài của đời sống gia đình.

5. Hiệp nhất trong dòng cuộc sống

Những sự hòa hợp như trên thật là cần thiết nhưng cũng chưa phải là tất cả; bởi vì còn lại một điều rất quan trọng, đó là sự trung tín với nhau trong suốt hành trình của cuộc đời. Khi sống chung với nhau trong một gia đình, trong chiều dài của cuộc đời, người ta mới lại khám phá ra nhiều điều không thể ngờ được nơi bản thân của người mà mình yêu thương. Cuộc sống bao giờ cũng có nhiều điều không ngờ, mà chỉ có khả năng đón nhận trọn vẹn bản thân, khả năng dám phiêu lưu trọn vẹn với nhau trên hành trình cuộc đời, mới có thể vượt qua được. Nếu sự hiệp nhất trong mức độ "sự vật" là quá hời hợt, nếu sự hòa hợp trong mức độ thân xác có thể trở nên nguy hiểm khi người ta không thấy được tính cách hòa hợp "bên trong', thì sự hòa hợp nơi lý trí thì lại quá lạnh lùng, còn sự hiệp nhất trong tình cảm thì lại có thể quá nông nổi.

Nói một cách triết lý, chiều kích lịch sử là một chiều kích lớn trong đời sống con người. Sự hiệp nhất trong sự vật và thân xác, sự hiệp nhất trong lý trí và tình cảm, chỉ có thể trở nên chân chính khi nó trải qua được thách đố của thời gian, khi nó được thể hiện trong lòng trung tín. Trong dòng lịch sử, thái độ trung tín là một yếu tố quan trọng hơn hết. Thái độ trung tín diễn tả một thứ tình yêu được thể hiện trong dòng đời, vượt qua những thăng trầm của thời cuộc và đón nhận được toàn vẹn bản thân một ai khác.

Con người chỉ trọn vẹn là mình trong dòng đời. Trong dòng cuộc sống thực và cuộc sống lâu dài, con người mới thể hiện chân chính bản thân mình và mới thực sự biết mình là ai. Lý do là, chẳng những vì tâm hồn con người là “biển sâu khôn dò”, chẳng những mối tương quan giữa tâm hồn và thân xác con người bao gồm quá nhiều điều tinh vi khó ai có thể thấu suốt, nhưng sâu xa hơn, là vì tất cả những gì ta thấy ở đây, lúc này, nơi một con người, đều có thể bị biến đổi, hoặc trở thành điều trái ngược, hoặc tiến triển đến độ không ai có thể tính toán được. Bản chất con người đã là một huyền nhiệm, con người trong dòng lịch sử lại càng là một huyền nhiệm gấp đôi.

Do đó, cũng chỉ trong dòng cuộc đời thật, tình yêu thương của một người này với người kia mới thực sự được chứng nghiệm một cách đúng đắn; và chiểu kích cuộc sống mới hoàn thành được những bình diện hiệp nhất khác. Tình yêu chân chính nhất thiết cần được thể hiện trong một thái độ tạm gọi là trung tín. Trung tín chính là thước đo của tình yêu thương đích thực.

Cuộc sống là một cuộc phiêu lưu. Con người trong cuộc sống là một con người không có “bảo hành”. Chính cuộc sống khắc nghiệt là sự thử luyện của tình yêu. Tình yêu chân chính phải bao gồm những khía cạnh thực tế như chia sẻ cuộc đời với nhau, là dính dáng vào những vui buồn của nhau trên hành trình cuộc sống, là dám thông chia những khổ đau, liên lụy những rắc rối, đảm nhận trách nhiệm về cuộc đời của nhau… và bao gồm trong đó là một sự trung tín trong dòng lịch sử. Quả thật. trong tinh thần của Kinh Thánh, sự trung tín có thể được coi như một khía cạnh căn bản bản tình yêu, và hoa trái đặc trưng của đời sống Kitô giáo chính là một thứ lịch sử ơn cứu độ.

xem tiếp Phần 5 (Phần cuối)

xem lại Phần 3