Chiêm Ngắm Huyền Nhiệm Tình Yêu - Phần 3

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Khi ta nói chuyện trực tiếp với một người khác, ta đang nói với người khác như là ngôi thứ hai; còn khi ta nhận định về một người vắng mặt, ta nói về một ai khác ở ngôi thứ ba. Khi ta nói vói chính ta, ta thực hiện một cuộc “đối thoại” như là những lời tự nhủ của chính mình, đó là ta chỉ sống trong ngôi thứ nhất mà thôi. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một quy tắc văn phạm trong việc sử dụng từ ngữ. Ý nghĩa thực của “mức độ đối thoại” không luôn luôn đồng nhất với việc sử dụng quy tắc văn phạm, nhưng do chính thái độ của lòng mình. Người ta có thể nói chuyện trực tiếp với ai khác, người ta sử dụng từ ngữ “anh”, “chị” để nói với người ấy, và người “anh/chị” ấy cũng có những lời đáp lại lời nói của ta. Nhưng rất có thể, trong thực chất, ta nói và không nghe, ta nói và nghĩ về người khác như một ngôi thứ ba, nghĩa là không bao giờ nhận được một sự phản hồi, không đáp lại những ý nghĩ, những ước muốn của người khác, mà chỉ là một kẻ “trút xuống đầu” người khác những suy nghĩ của chính mình.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

Tình yêu, cuộc đối thoại nghĩa tình

1. Cuộc đối thoại ngôi hai

Khi ta nói chuyện trực tiếp với một người khác, ta đang nói với người khác như là ngôi thứ hai; còn khi ta nhận định về một người vắng mặt, ta nói về một ai khác ở ngôi thứ ba. Khi ta nói vói chính ta, ta thực hiện một cuộc “đối thoại” như là những lời tự nhủ của chính mình, đó là ta chỉ sống trong ngôi thứ nhất mà thôi. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một quy tắc văn phạm trong việc sử dụng từ ngữ. Ý nghĩa thực của “mức độ đối thoại” không luôn luôn đồng nhất với việc sử dụng quy tắc văn phạm, nhưng do chính thái độ của lòng mình. Người ta có thể nói chuyện trực tiếp với ai khác, người ta sử dụng từ ngữ “anh”, “chị” để nói với người ấy, và người “anh/chị” ấy cũng có những lời đáp lại lời nói của ta. Nhưng rất có thể, trong thực chất, ta nói và không nghe, ta nói và nghĩ về người khác như một ngôi thứ ba, nghĩa là không bao giờ nhận được một sự phản hồi, không đáp lại những ý nghĩ, những ước muốn của người khác, mà chỉ là một kẻ “trút xuống đầu” người khác những suy nghĩ của chính mình.

Cuộc đối thoại ngôi hai đích thực đòi hỏi người ta phải nhận ra người khác “có thể trả lời”, nghĩa là ta phải sẵn sàng đón nhận khả năng trả lời, sẵn sàng nhận ra sự biến chuyển của người khác, sẵn sàng chấp nhận người khác như là người mà ta chưa thể hiểu hết, sẵn sàng theo đuổi “cuộc đối thoại” đang tiếp diễn. Cuộc đối thoại ngôi hai là một cuộc đối thoại sống động, phiêu lưu, trong tự do bay lượn và trong khả năng sáng tạo bản thân của mỗi bên.

Ta có thể dùng một hình ảnh hình học để diễn tả một cách khái quát cuộc đối thoại ngôi hai như sau : Nếu chúng ta có hai điểm A và B bên cạnh nhau, thì từ hai điểm đó chúng ta có thể có những “hướng đi” khác nhau :

- Hoặc là A và B chạy đến với nhau và sát nhâp thành một;

- Hoặc là A và B chạy theo hai chiều hướng đối nghịch và càng ngày càng xa nhau;

- Hoặc là hai điểm ấy luôn gĩư mãi khoảng cách đúng và cố định bằng cách tuân theo một trục thẳng để trở thành hai dường song song chạy dài mãi.

- Cuối cùng, ta có thể cho hai điểm ấy vẫn chạy song song, nhưng không phải là dựa theo một định luật cố định nào để thành hai đường thẳng song song, mà là một sự thuận tình trong “sáng tạo nghệ thuật”, để trở thành hai đường song song bay lượn, vòng lên và vòng xuống, qua phải và qua trái mà vẫn giữ được một sự liên đới đúng đắn.

+ Trường hợp thứ nhất là lập trường của những người muốn thống trị người khác, tạo nên sự hiệp nhất bằng cách chinh phục và loại bỏ cái tôi của người khác. Nhưng đó thật sự không phải là hiệp nhất mà là độc nhất. Khi ta muốn người khác làm theo ý mình mà không đếm xỉa gì đến cảm nghĩ của họ,… thì ta đã, vô tình hay hữu ý, chọn giải pháp độc tài.

+ Trường hợp thứ hai là tình trạng “cá đối bằng đầu”, tình trạng vô chính phủ, mạnh ai nấy sống, mạnh ai nấy làm, không ai “mắc mớ” gì tới ai. Khi người ta đề cao một thứ tự do hoàn toàn cá nhân chủ nghĩa, người ta cũng rơi vào tình trạng tự phá hủy chính phẩm giá của mình. Con người của thứ tự do ấy cũng lấy mình làm tiêu chuẩn duy nhất đúng, đóng kín trong bản thân mình để cũng “tận diệt” tha nhân, không phải bằng cách áp đặt ý muốn của mình, không phải bằng bạo lực trên tha nhân, nhưng bằng phương cách loại trừ tha nhân ra khỏi mối quan tâm của chính mình.

+ Trường hợp thứ ba diễn tả một sự “hiệp nhất”, nhưng lại là một sự hiệp nhất do một áp lực ở bên trên và bên ngoài. Người ta có thể an tâm khi A vẫn là A; và B vẫn là B; không có sự tận diệt sự hiện hữu của nhau như giải pháp thứ nhất. Người ta cũng có thể khoái chí vì A vẫn ở gần bên B như thể có một sự liên đới, hiệp thông nào đó như giải pháp thứ hai. Thế nhưng đó cũng chỉ là một sự hiệp nhất bên ngoài. Có một thế lực khác kềm giữ A và B để chúng không tiêu diệt nhau và cũng không xa nhau.

+ Trong trường hợp thứ tư, ta thấy những giá trị căn bản của phẩm giá con người đựơc bảo vệ : tôn trọng cá nhân mỗi người, để cho mỗi cá nhân sống trọn vẹn bản sắc riêng của mình. Nơi đây, người ta tìm thấy sự hòa hợp cộng đoàn trong một tinh thần tự nguyện, trong bầu khí tự do và rộng mở cho việc phát huy khả năng sáng tạo bản thân của mỗi người. Nơi đây, mối giây căn bản để nối kết A và B không là gì khác hơn đức ái. Đức ái chỉ có thể sống và phát triển thực sự trong bầu khí tự do, đó là khi người ta được tôn trọng, khi người ta được tin tưởng. Sự hiệp nhất như thế chỉ có được như một thành quả “thuần chất người”, vì nơi đó chỉ có nhân vị, chỉ có tự do, chỉ có tình nghĩa chân thành và tự nguyện chứ không có một thứ “tạp chất” của sự vật nào.

Có lẽ điều làm cho người ta ngại với giải pháp thứ tư, đó là vì giải pháp này có vẻ phiêu lưu. Người ta sợ một kết cục không tốt sẽ xẩy ra khi trao trọn chìa khóa của vấn đề vào ý chí tự nguyện của cá nhân. Đó là căn bệnh nhát sợ, không dám tin vào con người, nhưng đặt niềm tin vào các phương pháp kỹ thuật, tin vào các biện pháp kỷ luật, tin vào các phương thức khoa học. Sâu xa ra, có lẽ điều làm cho người ta ngại với giải pháp thứ tư là người ta không dám tin vào tình yêu, không dám tin vào sức mạnh của tình yêu, và người ta thay thế tình yêu bằng một nguyên lý khác, nguyên lý hợp lý hay nguyên lý quản trị…

2. Tình yêu là cửa đi vào cuộc sống tương giao ngôi vị

Trong cuộc đối thoại ngôi hai, ta không biến tha nhân thành một đồ vật, thành một bài toán, thành một khuôn khổ nào đó. Tha nhân phải được coi như một ngôi vị độc đáo mà tôi chỉ có thể lắng nghe và khám phá như một huyền nhiệm, chứ không phải giải quyết như một vấn đề. Triết gia Gabriel Marcel cho chúng ta thấy mỗi người là một huyền nhiệm. Thái độ tôn trọng tha nhân như một huyền nhiệm nghĩa là không biến tha nhân thành một vấn đề để giải quyết, nhưng là trân trọng một con người và chiêm ngắm huyền nhiệm của một đời người. Khi đó, chính bản thân của tha nhân mới được đưa vào cuộc và ta đối thoại thật sự như là một cuộc gặp gỡ ngôi vị.

Tình yêu chân chính bao hàm thái độ căn bản là chấp nhận bản thân của ai khác. Chấp nhận bản thân nghĩa là không đặt điều kiện tiên quyết nào dính dáng đến chính bản thân, nghĩa là “cởi mở” từ chính thái độ căn bản của bản thân mình trong tương giao, để có thể đón nhận ai khác một cách căn bản. Trên nền tảng của thái độ chấp nhận bản thân của ai khác, cuộc tương giao của con người với nhau có thể có được một khung trời bao la để diễn tả bản thân mình và đón nhận ai khác. Khi đó, nói hay im lặng, chất vấn hay hỏi han, cười đùa hay nghiêm trang… vẫn là những sinh hoạt làm dày thêm tình nghĩa chứ không phải là điều kiện để đạt được một sự vật nào đó. Người có khả năng đón nhận bản thân của ai khác là người có “tâm từ bi”, hay có “tai Bồ Tát” để có thể lắng nghe được điều gì sâu xa nhất trong bản thân của ai khác.

3. Thiên Chúa trân trọng con người

Thiên Chúa dấn thân vào hành trình cứu độ con người, nhưng đó là một hành trình gian khổ của tình yêu. Nẻo đường của tình yêu luôn luôn là một nẻo đường bấp bênh, vì nó được “phó thác” sự tự do của con người, vì nó không có những điều kiện vật chất hữu hình, hoặc những lý lẽ khả niệm bảo đảm. Con đường tình yêu là con đường có khả năng gợi lên sự khao khát và động lực lên đường của chính người được yêu, chứ không phải là một sự áp đặt nào ở bên ngoài. Cứu độ bằng tình yêu vừa có nghĩa là Thiên Chúa tỏ tình yêu thương, vừa có nghĩa là Thiên Chúa tin rằng tình yêu có khả năng đổi mới con người từ bên trong, vừa có nghĩa là Thiên Chúa chọn con đường chờ đợi đáp trả của tình yêu.

Bản thân của Chúa được trao ban trong tự do, tự nguyện; và ngài cũng chờ đợi một sự trao tặng lại bản thân, được người tín hữu trao ban trong tự do và tự nguyện. Thiên Chúa đã từ chối không áp dụng những phương thức chinh phục con người hiệu nghiệm hơn, mau mắn hơn, ổn định hơn. Nhưng Ngài lại muốn đến với con người bằng tình yêu, qua ngả đường của tình yêu.

Tình yêu, con đường của bình an

1. Con người "ngoài đường"

Cuộc sống xã hội ngày hôm nay có thật nhiều biến chuyển. Xã hội con người tiến bộ thật mau, nhưng cũng làm đảo lộn cuộc sống của nhiều người. Ngày nay, không còn chuyện “con vua thì lại làm vua, con sãi chùa lại quét lá đa”. Người ta có nhiều cơ hội để đổi đời, nhưng cũng có nhiều nguy cơ đánh mất cuộc đời. Con người ngày nay luôn sống trong tâm trạng “cuộc đời như chưa có đáp số”. Người ta luôn phải thăng tiến và luôn phải bảo vệ vị thế của mình; người ta chẳng thể yên ổn với cuộc sống hiện tại vì “nhìn lên thấy mình chẳng bằng ai”. Cuộc chạy đua thăng tiến ấy không bao giờ đủ và lòng con người cũng chẳng thể bình an…

Bầu khí chung của thời đại như thế làm cho người ta dễ rơi vào tình trạng luôn phải tìm cách thích ứng. Nhu cầu thích ứng trở nên quan trọng hơn là nhu cầu sống an hòa với chính mình. Thích ứng nghĩa là giải quyết vấn đề trước mắt, là đối phó “theo thời vụ” chứ không phải là giải quyết tận căn bản của vấn đề. Đó thường là những giải pháp tạm thời chứ không phải một sự giải quyết tận căn; nó không bao gồm sự biết mình rõ rệt hơn, không phải là một kinh nghiệm sâu xa, để lại một bài học nhớ đời cho chính bản thân mình. Cuộc sống ngay nay “chạy” quá nhanh, nên người ta không còn cảm nhận được chính niềm vui của cuộc sống. Cuộc sống “chạy” quá nhanh nên người ta không còn đọng lại một giá trị nhân bản, hoặc một ý nghĩa thân thương, hay một một giá trị “thiêng liêng” nào cho tâm hồn mình.

Ta có thể thấy khá rõ lối sống của con người ngày nay là lối sống của một “người ngoài đường” chứ không phải là lối sống của một “người ở nhà”. Người ta giải quyết tạm thời những trục trặc để đi qua chứ không phải là một sự sửa đổi cẩn trọng và kỹ lưỡng của bản thân mình. Con người trong xã hội này không còn được an ổn và thanh thản như xưa.

2. Con người đấu tranh

Khoa tâm lý học cho thấy tất cả mọi người đều có ít nhiều một thứ "mặc cảm phòng vệ". Tâm trạng phòng vệ khiến cho con người không còn được sống thật và sống an hòa. Trong trạng thái phòng vệ, mỗi lần gặp gỡ là mỗi lần người ta phải chiến đấu, phải suy tính cách nói, phải tìm thái độ thể hiện… Khi nào con người không còn bận tâm về việc khẳng định trước mặt người khác, nghĩa là khi được thoát khỏi nỗi sợ thì con người mới có thể hiện diện với người khác một cách thanh thản và chân thật.

Quả thật, con người chỉ là mình trong tương quan, nhưng đó là tương quan hiệp thông chứ không phải tương quan cạnh tranh. Tương quan cạnh tranh dễ làm cho người ta đánh mất ý nghĩa bản thân mình, vì lo khẳng định mình “theo đuôi” người khác; tương quan hiệp thông lại giúp ta khám phá khát vọng bên trong và giúp ta khẳng định mình trong hoàn cảnh riêng của chính mình. Trong tương quan cạnh tranh, ta nhìn tha nhân như một người đe dọa, sự vươn lên của tha nhân làm cho ta sợ hãi, và sự sụp đổ của tha nhân lại làm ta khoái chí. Khi ấy, lòng ta luôn bất an vì sự so sánh cạnh tranh; ta rơi vào căn bệnh “đứng núi này trông núi kia cao”, luôn thấy người khác có điều hơn mình khiến mình phải thèm thuồng; khi ấy, ngấm ngầm trong ta là một ý nghĩ ghen tỵ : ta sợ người đẹp hơn ta, ta sợ người giỏi hơn ta, ta sợ người tài hơn ta, ta sợ người giàu hơn ta…. Cái tình cảm nhỏ nhen ấy làm cho ta buồn với sự lành và vui với sự ác nơi người khác, chứ không phải là “vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12, 15). Người ta dễ chia buồn và khó chia vui là như vậy.

Henri Nouwen, trong cuốn “Những Dấu Chỉ Của Sự Sống” nói rằng :

“…trong phần lớn thời gian, người công dân thế kỷ XX sống trong nỗi sợ. Nó trở thành căn hộ thường trú của chúng ta, trở thành nền tảng của những quyết định và hoạch định của chúng ta. Cuộc sống có quá nhiều nỗi sợ; người ta hầu như lúc nào cũng có một cái gì đó làm cho sợ; chúng ta gần như không tìm thấy được một người không sợ. . . .” (Xc. Tr.11-12)

Nỗi sợ khắp nơi làm cho người ta không còn là mình, không còn có khả năng tìm lại chính nét độc đáo thân thương của mình. Người ta giống như một kẻ đi học, nhưng học là để đối phó với thời cuộc chứ không phải vì niềm vui của bản thân; phải học đề làm bài, phải học để thi cử, phải học để thăng chức… mà không còn thấy niềm vui được học biết những điều mình thích thú. Nỗi sợ làm cho người ta phát triển "bản lãnh đối phó" chứ không làm phát triển được "bản lãnh sáng tạo". Sáng tạo bản thân, đó là tiêu chuẩn cho sự phát triển lành mạnh của con người… nhưng sự phát triển bản thân chỉ có được khi người ta có đủ thời gian “ở nhà”.

Chính vì thế, trong sâu xa của tâm hồn, con người hiện nay cần đến một “hậu phương”, cần đến một chỗ “ở nhà”, cần một mái ấm cho tâm hồn được nghỉ ngơi thực sự. "Ở nhà", người ta khám phá ra mình trong tương quan hiệp thông, người ta khám phá ra nét đẹp của bản thân mình, người ta vui thích với chính mình, và nhận ra mình có thể cống hiến cho người khác phẩm chất của riêng mình. Biết chính mình, biết hoàn cảnh và con người của mình, biết khát vọng và ý nghĩa thực sự của bản thân mình, người ta không cảm thấy tha nhân như một người đe dọa, nhưng như một người nâng đỡ; và khi đó, sự hiệp thông mới có thể bắt đầu.

3. Chúa Giêsu mời ta bước vào đời sống thân mật

Trong Tân Ước, Thiên Chúa bầy tỏ khuôn mặt của Ngài bằng ngôn ngữ của tình yêu. Chúa Giêsu không tỏ mình ra một cách oai nghiêm như Gioan Tẩy Giả, nhưng trong một cung cách bình dân, xuề xoà, gần gũi và có thể đến được với những người nghèo khổ tầm thường nhất. Chúa Giêsu nói với các môn đệ, và cũng là nói với mỗi người Kitô hữu :

“Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết”.(Ga 15,15).

Có lẽ, trong quá khứ, nhiều hình ảnh, nhiều quan niệm của chúng ta về Thiên Chúa được suy diễn từ hình ảnh một triều đình, khiến cho nhiều phẩm tính đặc biệt của Thiên Chúa được mạc khải trong đức Giêsu, đã không thể hiện được. Trong Đức Giêsu, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa muốn mời gọi con người vào sống trong sự thân mật với Ngài. Chúng ta có thể thấy rõ tâm tình ấy trong nhiều đoạn văn của thánh Gioan, chẳng hạn :

“Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở ; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi." (Ga 14,1-4)

Chúa Giêsu nói đến chỗ ở trong nhà Cha. Đó chẳng phải là một không gian nhưng là phẩm chất của một đời sống; là sự an vui, thân mật, ngọt ngào của đời sống thân tình. Chúa Giêsu nói: "Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và hãy tin vào Thầy", để cho thấy một ngôi nhà thân thương đang chờ đón. Nhà của Cha có nhiều chỗ ở, vì nhà Cha có thể đón nhận những tính khí khác nhau, cho những mảnh đời khác nhau.

Như thế, chúng ta hiểu được niềm bình an đặc biệt của Kitô giáo, niềm bình an không đặt nền trên một sự an toàn của sự vật, của sự cân bằng những thế lực chính trị… nhưng là sự bình an của tình nghĩa. Bình an Kitô giáo gắn liền với tình yêu, giải đáp nỗi xao xuyến sâu xa trong lòng con người, giải đáp niềm khát vọng sống-với của con người. Bình an Kitô giáo, có thể nói vắn gọn, là được Thiên Chúa ở cùng, là cùng đi với Chúa trên nẻo đường sóng gió; nghĩa là vẫn ở với Chúa ngay cả lúc ta đang đi trên nẻo đường gian nan của cuộc đời; bình an Kitô giáo là “ngôi nhà tình nghĩa”, nơi ta được ở với Chúa.

“Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi”.(Ga 14,27).

Tình yêu, con đường khẳng định bản thân

1. Nhu cầu khẳng định bản thân

Đối với con vật, Thiên Chúa đã "lập trình" để chúng có thể tự phát triển và trở nên đúng như giống loài của chúng một cách khá chắc chắn. Một con mèo con, được nuôi trong một thùng giấy, hằng ngày người ta cho nó ít sữa hoặc cơm cháo, nó sẽ vẫn trở thành một con mèo thực sự, dù không sống với một con mèo nào khác. Đối với con người thì vấn đề lại khác. Con người được sinh ra là-người, nhưng còn cần phải trở-nên-người. Con người sẽ chẳng trở nên người được nếu như chỉ sống với loài chó hay loài khỉ. Con người cũng không dễ dàng trở nên một con người đích thực ngay trong cuộc sống xã hội hằng ngày của con người với nhau. Từ chỗ được sinh ra là-người cho đến mức độ trở-nên-người là cả một khoảng cách diệu vợi.

Như thế, bản chất của con người luôn là "con người lữ hành" (homo viator). Sức sống của cuộc đời con người luôn là một khát vọng đi tìm con người thật của mình; và hành trình đi tìm ấy thể hiện như một sức hút muốn vươn lên mãi để hoàn thành được chính vận mạng của bản thân mình. Chính vì thế, trong tâm thức của mỗi con người, ai cũng mang một nhu cầu căn bản, nhu cầu khẳng định bản thân. Trong khi những nhu cầu khác, ăn uống, vui chơi, hưởng thụ... chỉ đòi hỏi trong một số hoàn cảnh nào đó, thì nhu cầu khẳng định bản thân lại là một thúc bách căn bản, nó thôi thúc con người trên mọi bước hành trình của một đời người. Mọi người, ở mọi lứa tuổi, trong mọi hoàn cảnh, đều khao khát thực hiện bản thân mình qua việc khẳng định chính mình. Người ta khẳng định chính mình bằng một lựa chọn riêng, bằng một sở thích riêng, bằng khao khát thành công, bằng cách so sánh mình với người khác, bằng một giá trị nhân văn nào đó,...

2. Sự lệch lạc trên hành trình khẳng định chính mình

Với khát vọng khẳng định chính mình, người ta thường chỉ thấy một nẻo đường có vẻ rõ ràng nhất, an toàn nhất, đó là làm sao để mình hơn người khác. Khát vọng khẳng định bản thân được tính toán bằng phương thức so sánh mình với người khác, được đồng hóa với nỗ lực vươn lên để "bằng chị bằng em"; được thể hiện trong cuộc đấu tranh để chiến thắng người khác... Hình ảnh con người giữa cuộc đời giống như một kẻ đứng dưới nước sâu, chân không đụng đất, tay chân quờ đạp, để đầu mình được vươn lên khỏi mặt nước cho bằng chị bằng em.

Khốn khổ thay, con người vốn mang lấy những giới hạn căn bản của kiếp người, nên mãi luôn là kẻ ”nhân vô thập toàn". Con người "nhân vô thập toàn" ấy, dù có nỗ lực chòi đạp đến đâu thì cũng chỉ trồi sụt mấp mé với mặt nước. Mặt khác, con người ấy lại luôn sợ người khác bám vào tay chân mình, làm mình có thể bị chìm; nên không bao giờ dám "vạch áo cho người xem lưng"; con người ấy luôn muốn đạp văng ra những kẻ có nguy cơ làm lộ tẩy con người bất toàn của mình; con người ấy luôn sợ điều gì, hoặc ai đó có nguy cơ lôi mình xuống đáy... Con người ấy luôn luôn sống theo kiểu "cái tốt thì khoe ra, cái xấu thì dấu đi", và cứ luôn phải bận tâm giữ mãi chiếc mặt nạ che đi con người thật của mình...

Như thế, con đường để đáp ứng được nhu cầu khẳng định chính mình lại trở thành một con đường bi thương cho vận mạng đời người, con đường của sự hơn thua, của thái độ đấu đá, của sự cạnh tranh, của tính phòng vệ,... và của sự bất an không cùng trong chính tâm hồn. Đến một lúc nào đó, không chịu nổi áp lực của một cuộc sống cạnh tranh hơn thua, nẻo đường lệch lạc đó dằn vặt người ta đến độ không muốn sống kiếp người nữa : "Tôi muốn làm một thứ cỏ cây …. Tôi muốn thành loài thú đi hoang …Tôi muốn sống như loài chim ngàn "…( nhạc sĩ Lê Hựu Hà, liên khúc Yêu Người Yêu Đời)

Con người được Thiên Chúa sáng tạo nên giống hình ảnh Ngài để sống yêu thương, nhưng con đường thể hiện chính bản thân mình trên nẻo đường yêu thương lại bị sai lệch biến thành nẻo đường đấu đá, đó là thực trạng của một sự mất căn tính, một sự đổ vỡ tận căn nguyên, là nguyên nhân chính của mọi bất ổn trong đời sống con người.

3. Tình yêu, nhu cầu được chấp nhận

Thật ra, nhu cầu khẳng định chính mình chỉ là một cách thức để đi vào thế giới yêu thương một cách phong phú. Khẳng định chính mình chỉ là một cách để được người khác chấp nhận, để bước vào thế giới yêu thương. Con người không thể tự bằng lòng với mục tiêu khẳng định chính mình. Điều ấy có thể được minh chứng một cách thực tế trong kinh nghiệm sống hằng ngày của con người. Có những khi người ta đạt được những thành công trong cuộc đời, nhưng lại không được yêu thương, không được người khác chấp nhận. Khi đó, người ta có thể vùng vằng, có thể khí-khái-vặt khi tuyên bố "cóc cần đến ai khác"...; nhưng thật ra người ta không thể chối bỏ được một nỗi đau vì không được chấp nhận, không thể loại bỏ được nỗi cô đơn sâu xa dằn vặt tâm hồn.

Sách Sáng Thế cho chúng ta một giải thích căn bản về vận mạng con người : sau khi dặt tên cho muôn vật, con người cảm thấy buồn vì không gặp được người trợ tá tương xứng. Sự thành công của con người đầu tiên trong việc chinh phục và chiếm hữu thế giới không phải là cứu cánh của cuộc đời con người. Adong cần một người trợ tá tương xứng, nghĩa là cần được sống với ai. Đó là vận mạng căn bản của đời người.

Quả thật, người ta cần được ai khác chấp nhận, được chấp nhận ngay chính bản thân, và đó cũng là được chấp nhận trọn vẹn cuộc đời. Nhưng thay vì cố vươn lên một cách bất lực và giả tạo, thay vì nỗ lực vun đắp cho mình những điều bên-ngoài-bản-thân, nghĩa là tài năng, tiền bạc, đức độ... thì điều quan trọng trước tiên lại là trở về với chính bản thân mình. Tài năng thì cần thiết, những dù đánh mất tài năng, thì bản thân một con người vẫn là con người đấy. Nếu người ta cần phải có tài, có đức hay có tiền để được chấp nhận, thì đó vẫn chưa phải là được chấp nhận chính bản thân, và điều đó không thể làm cho người đó được bình an thực sự.

Để có thể thoát khỏi tình trạng chơi vơi dưới nước sâu, con người cần phải can đảm cho chân mình chạm xuống đất. Nhưng để có thể can đảm cho chân mình chạm xuống đất, điều quan trọng hàng đầu của vận mạng con người, đó là con người cần được một ai khác khác chấp nhận bản thân mình "từ bên dưới", con người cần được chấp nhận trọn vẹn bản thân và trọn vẹn cuộc đời. Không ai khác có thể chấp nhận trọn vẹn bản thân ta như thế, ngoài Thiên Chúa, ngoài tình yêu thương cụ thể và lớn lao của Chúa Giêsu :

"Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi ; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta." (Rm 5,8)

Tình yêu làm nên nét duyên của mỗi cá nhân

1. Con người có thể sửa đổi tính tình ?

Con người cần phải trở nên chính mình bằng một nỗ lực khẳng định bản thân. Trong nhu cầu căn bản đó, có một khía cạnh không thể bỏ qua, đó là việc sửa đổi bản thân, loại bỏ những nết xấu và học tập nhân đức. Bản chất của con người là "nhân vô thập toàn", hoặc là "sinh vật có bệnh", bệnh thể xác và bệnh tinh thần; thế nên nỗ lực khẳng định mình cũng thúc bách người ta tìm cách sửa đổi bản thân.

Tuy nhiên, đây không phải là chuyện đơn giản. Về khía cạnh tính tình chẳng hạn, để diễn tả nhiều tình huống không thể hiểu được về tính tình của một con người, cha ông ta đã nói "cha mẹ sinh con, trời sinh tính". Con người sinh ra đã mang sẵn những mầm mống của một tính tình riêng biệt. Rồi những năm tháng tuổi thơ để lại những ấn dấu định hướng cho cuộc đời một con người; rồi bao nhiêu năm sống trong cuộc đời, với những bài học hay dở của xã hội; rồi với những tác động tâm lý cụ thể nào đó... tất cả những điều đó đã đẽo gọt xong cái hình hài, nhân cách của một con người rồi.

Khi một người nào đó bắt đầu nhận ra những điểm có vẻ bất lợi trong tính tình của mình và mong muốn sửa đổi, thì bình thường tâm tính của con người đó cũng đã "chín", nghĩa là giống như một người trưởng thành không thể phát triển được nữa, thì những tính tình của con người ấy cũng đã định hình gần xong. Nỗ lực tu sửa theo quan niệm thông thường chẳng những khó đạt kết quả, nhưng còn tạo nên nhiều lệch lạc trong tâm hồn. Người ta nhận thấy những yếu tố của tính tình đã trở nên như một bản tính thứ hai của con người, gần như không thể sửa đổi được nữa.

Đã có những vị thánh dành cả cuộc đời để sửa đổi một tính tình nào đó, chẳng hạn tính nóng nẩy. Đó là những nỗ lực thật đáng trân trọng, nhưng có lẽ cũng có phần "hoang phí" nỗ lực đời người. Thật ra, nỗ lực ấy thực sự đáng quí trọng do chính tấm lòng thành và niềm khát khao hoàn thiện nhiều hơn là do kết quả đạt được. Cũng đã có nhiều tu sinh muốn sửa đổi tính tình này tính tình khác để có thể được chấp nhận theo đuổi ơn gọi tu trì, những nỗ lực ấy, trong thực tế, có lẽ cũng chẳng thành công bao nhiêu...

2. Sửa đổi bằng tình yêu

Thật ra, vẫn còn một cách "sửa đổi", không phải bằng cắt xén, uốn nắn một cách khiên cưỡng, mà là biến đổi tận căn, đó là gia tăng tình yêu trong lòng con người. Nếu như tính tình của con người đã định hình với thời gian, thì tình yêu lại là điều không bao giờ "già cỗi". Tình yêu không có giới hạn, tình yêu chân chính không bao giờ dư thừa cho đời sống con người, tình yêu là động lực mở ra với vô biên và chính tình yêu cũng là một khát vọng vô biên. Một khi con người đã trưởng thành, hay nói cách khác, đã "già cỗi" trong quá trình thăng tiến, thì người ta chỉ còn một nẻo đường duy nhất để tiếp tục trở nên phong phú hơn mãi, đó là đổ thêm vào dòng nhựa sống của tình yêu. Một khi có tình yêu, tất cả những yếu tố khác của tính tình con người sẽ được cấu trúc lại xung quanh tình yêu, và khi đó, người ta sẽ có được một nét duyên riêng. Con người nóng tính cũng vẫn sẽ nóng tính; nhưng với tình yêu lớn, sự nóng tính của người ấy lại có nét duyên của một con người : nóng nẩy vậy, la mắng vậy, có khi đấm đá vậy, nhưng vẫn là một con người đáng quý, đáng yêu nhờ chính tình yêu trong lòng người ấy.

Cuộc đời của mỗi người giống như một nồi cháo, mỗi người là một loại đậu riêng, "đậu xanh", "đậu đỏ" hay "đậu trắng" đều tốt cả. Nếu ta cho vào đó một chút "lòng", thì nồi cháo ấy sẽ ngọt, sẽ ngon, và vẫn mang được hương vị riêng của mỗi cá tính. Hoặc nói cách khác, đời sống mỗi người như một tấm vải, nếu tấm vải đời tôi chỉ thích hợp để may một cái quần đùi, thì tôi cứ an vui là một cái quần đùi, một chiếc quần đùi đẹp trong nét đẹp của "tình nghĩa". Bằng không, nếu ta so sánh với người khác, nếu ta thích biến đời mình là áo sơ-mi hoặc áo dạ hội, rồi ta lại tháo chiếc quần đùi ra để đổi thành áo, thành váy đầm,... thì cuối cùng đời ta sẽ chỉ là chiếc gỉe rách. Thật ra, tính tình nào cũng có thể tốt và có thể xấu. Tính tình chỉ trở thành xấu khi nó phát sinh trở thành tật xấu; nghĩa là khi nhuốm mầu của ích kỷ. Ngược lại, tình tình có thể trở nên tốt trong nguồn mạch của yêu thương.

Đây không phải là một chủ trương lãng mạn, vì tình yêu chân chính không phải chỉ là một thứ tình cảm bay bổng bên trên, bên ngoài vận hành thực của cuộc sống. Tình yêu Kitô giáo là một sự dấn thân vào dòng đời, liên đới trách nhiệm cuộc đời với ai khác và nhằm làm cho cuộc sống được phát triển phong phú. Chỉ có tình yêu như là nguồn sống đích thực của con người mới có thể làm cho sự sống của con người được phát triển cách chân thật, phong phú. Quên đi nguồn sống ấy, con người sẽ tìm sửa đổi đời mình bằng những kỹ thuật sống theo kiểu cắt tỉa, lắp ghép cách gượng ép. Không trở về với mạch sống yêu thương, nỗ lực sửa đổi của con người giống như kẻ "lấy vải mới vá vào áo cũ", giống như kẻ "đổ rượu mới vào bầu da cũ". Chỉ có tình yêu mới thắng được tất xấu, chứ không phải một khuôn mẫu của tính tình nào đó.

3. Thiên Chúa cứu độ là nguồn mạch tình yêu

Trong mười hai vị tông đồ, chúng ta có thể thấy mỗi vị có một cá tính riêng, ông Pherô thì bốc đồng, không Anrê thì tinh tế, ông Nathanaen thì ngay thật, ông Matthêu thì có đầu óc trật tự... Mỗi vị đã không hề được Chúa Giêsu uốn nắn theo một khuôn mẫu nào cả. Các vị chỉ được chính tình yêu của Chúa biến đổi, tình yêu lớn của Đấng phục vụ, tình yêu hy sinh mạng sống vị bạn hữu :

Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. (Ga 13,14)

Đối với các vị thánh trong lịch sử Giáo Hội, chúng ta cũng thấy như thế, một Ignatio cương quyết, một Phanxicô mê đắm Chúa Kitô nghèo, một Đa Minh trong sáng thuần khiết.... Nhưng tất cả các vị thánh đều có một nét chung là tình yêu đối Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta cũng thấy mỗi dòng tu mang một đoàn sủng riêng, đoàn sủng diễn tả đường nét hứng khởi nguyên thủy của Đấng sáng lập, nhưng tất cả vẫn chỉ là một sức sống của Chúa Thánh Thần.

Mỗi người Kitô hữu cũng được kêu gọi để trở nên chính mình trong Đức Giêsu Kitô. Trở nên chính mình nghĩa là sống trọn cá tính của mình; và hành trình sống trọn cá tính của mình được nối kết với tình yêu của Chúa Giêsu Kitô.

"Thật vậy, ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Ki-tô cũng vậy. Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất.(1 Cr 12,12-13)

Tình yêu, con đường đến với cộng đồng

1. Thách đố cơ bản của đời người

Con người là sinh vật xã hội, nghĩa là tự bản chất con người cần phải sống với ai khác; và chính trong cuộc sống xã hội, con người mới trở nên chính mình. Tuy nhiên, trong cuộc sống xã hội, con người luôn bị đánh giá, tự mình đánh giá chính mình hoặc do người khác đánh giá bản thân mình; và sự đánh giá như thế thường là một bài toán cộng trừ theo một thang điểm chung, theo một khuôn mẫu chung nào đó. Chúng ta gặp thấy ở đây là một nghịch lý, một thách đố căn bản của kiếp sống con người :

+ Một đàng, con người vừa là một ngôi vị độc đáo, chứ không phải chỉ là một cá thể. Cá thể chỉ là một vật-mẫu trong một giống loài, con mèo chỉ là vật-mẫu của loài mèo và người ta có thể hy sinh một con mèo để nhân giống thành năm bẩy con mèo khác. Trong khi đó, con người là một ngôi vị độc đáo, có cứu cánh tại thân; và trong ý nghĩa đó, có một giá trị tuyệt đối nào đó. Con người vừa khao khát được là mình với tất cả nét độc đáo riêng biệt của bản thân mình. Không ai muốn mình là một bản sao của người khác, trừ ra những người chưa trưởng thành; vì con người luôn khao khát hoàn thành cái tôi độc đáo của mình.

+ Đàng khác, con người lại chỉ có thể trở thành chính mình trong quan với ai khác, khi được sống, được học hỏi văn hóa, được đón nhận ngôn ngữ và những giá trị của cuộc sống xã hội. Cuộc sống hiệp thông với người khác cũng là một nhu sâu xa trong tâm khảm mỗi người.

Con người muốn khẳng định chính mình, và thường đi vào nẻo lầm lạc của sự so sánh. Nhưng so sánh bao giờ cũng hàm chứa những khuôn mẫu chung, thế là nẻo đường khẳng định chính mình lại dễ dàng đưa con người đến chỗ đánh mất bản sắc độc đáo của riêng mình. Triết gia Jaspers gọi thách đố này là "cuộc đấu tranh yêu thương". Yêu thương cũng phải đấu tranh, đấu tranh để vừa đến với người khác trong sự hòa hợp, những lại không biến mình thành bảo sao của người khác. Đây cũng là một loại thách đố riêng biệt của kiếp người.

2. Tình yêu hiệp nhất trong đa dạng

Con người không phải là mảnh tinh thần rớt ra từ Thiên Chúa, theo đó, con người sống cuộc đời trần gian như một kẻ lạc đường; thực hiện cuộc đời mình như một đam mê vô vọng; cho đến khi giác ngộ được nẻo đường chân thật. Lý tưởng của nẻo đường này là trở về và hoà tan bản thân mình vào Thượng Đế.

Trong khi đó, con người trong tín lý Công Giáo được "gọi ra" từ hư vô, sống cuộc đời này như một "lời đáp" lại tiếng gọi của Thiên Chúa. Con người được sáng tạo nên do tình yêu Thiên Chúa mời gọi; để sống trọn hành trình cuộc đời như một lời đáp của tình yêu. Lời gọi hiện hữu cũng nhất thiết gắn liền với lời đáp thể hiện mình trong dòng lịch sử, trong đó lời gọi và lời đáp cũng đều là tình yêu.

Hành trình tiến đến với Thiên Chúa cũng chính là lịch sử cuộc đời mình. Hành trình lịch sử cấu tạo nên bản sắc một con người, với tất cả nét độc đáo riêng biệt của một con người. Mỗi một con người, dấn mình trong lịch sử, hình thành nên bản thân mình, sẽ mãi mãi là thằng tôi ấy, “đời đời kiếp kiếp” là thằng tôi độc đáo ấy. Con người được Thiên Chúa thương yêu và sáng tạo nên chính "thằng tôi" ấy; và con người yêu mến Thiên Chúa cũng bằng chính "thằng tôi" độc đáo của mình. Trên nền tảng tín lý ấy, ta hiểu được nét riêng biệt của tình yêu Kitô giáo. Thiên Chúa yêu thương con người như là con người, Ngài yêu thương mỗi người như là chính bản thân của người ấy. Đó là một thứ tình yêu hiệp nhất trong đa dạng, hiệp thông mà không tiêu diệt cá tính của nhau. Tình yêu Kitô giáo có đường nét tựa như "mình với ta tuy hai mà một; ta với mình tuy một mà hai"; hoặc nói cách khác, đó là thứ tình yêu thể hiện phẩm chất “hoà nhi bất đồng”.

3. Đạt tới lý tưởng yêu thương trong mầu nhiệm Ba Ngôi

Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm cao cả nhất của Kitô giáo. Trong Kitô giáo, mầu nhiệm không phải là một sự thách đố đối với lý trí. Mầu nhiệm không phải là một cánh cửa đóng kín, khiến con người phải bế tắc, chào thua, bỏ đi niềm khao khát hiểu biết của mình. Ngược lại, mầu nhiệm chính là cánh cửa mở toang ra với một chân trời bao la mà con người không bao giờ có thể khám phá trọn vẹn được. Mầu nhiệm là lời mời gọi dấn thân mãi mãi chứ không phải là một bảng cấm không được vượt qua.

"Thiên Chúa là tình yêu" (x. 1Ga 4,8) và mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi cũng không là gì khác hơn mầu nhiệm của tình yêu. Trong chân trời vô biên của mầu nhiệm ấy, chúng ta khám phá ra được một phẩm chất căn bản của tình yêu. Tình yêu của một Thiên Chúa Duy Nhất được thể hiện trong Ba Ngôi; tình yêu của Ba Ngôi đưa đến sự hiệp nhất trong một Thiên Chúa duy nhất. Chẳng bao giờ phẩm chất "bản tính duy nhất" lại biến Thiên Chúa thành một ngôi; và cũng chẳng bao giờ phẩm chất "ngôi vị" của Ba Ngôi lại đưa đến tình trạng phân ly nên ba Chúa.

Như thế, mầu nhiệm Thiên Chúa "Tam Vị Nhất Thể" có lẽ cũng không là gì khác hơn mầu nhiệm của tình yêu chân chính nhất. Mầu nhiệm cao cả nhất trong Kitô giáo ấy cũng chính là sức sống phong phú nhất của Kitô giáo, sức sống của tình yêu lan tràn đến mọi thực tại của vũ trụ, lan tràn đến bản chất của con người và dẫn đưa lịch sử của đời người. Sách Sáng Thế cho chúng ta biết con người được sáng tạo nên giống Thiên Chúa, nghĩa là để sống với Chúa; Kitô giáo lại cho chúng ta hiểu ra tính chất phong phú hơn của chân lý ấy, con người được sáng tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, nghĩa là để sống trong sự sống của Chúa Ba Ngôi, thể hiện chính bản thân mình trong ánh sáng của mầu nhiệm Ba Ngôi, và cũng để xây dựng cuộc sống của cộng đồng nhân loại theo khuôn mẫu của Chúa Ba Ngôi. Mầu nhiệm cao cả ấy cho chúng ta biết rằng : chỉ có thể có sự "hiệp nhất đa dạng" trong tình yêu; và chỉ có tình yêu chân chính mới mở đường đi đến sự "hiệp nhất đa dạng".

Như thế, thách đố căn bản của vận mạng con người được Thiên Chúa "trả lời" trong mặc khải cao cả nhất của Kitô giáo, mầu nhiệm Ba Ngôi Trong Một Thiên Chúa Duy Nhất. Cuộc "đấu tranh yêu thương" được hướng dẫn và được nuôi dưỡng trong sức sống của mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Mặc khải của Thiên Chúa tỏ bày cho chúng ta chính bản thân của Ngài, là Thiên Chúa Duy Nhất Ba ngôi, là "Chân Lý có sức mang lại ơn cứu độ cho con người" (x. Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải, s.11), mặc khải ấy mời gọi chúng ta sống tình yêu, sống tình yêu bằng sức sống yêu thương của Ngài, và sống sức sống yêu thương của Ngài trong một sự niềm vui được là mình, đồng thời được hiệp thông với Chúa và với anh chẹ em của mình.

Tình yêu, "làm hoa" và "làm hạt"

1. Đi tìm đỉnh cao đời người

Cuộc đời con người bắt đầu từ một hài nhi bé bỏng, yếu ớt, bất lực, phải lệ thuộc tất cả vào người khác. Thế rồi đứa bé ăn uống, học tập và tích lũy bao nhiêu năng lực khác mỗi ngày mỗi nhiều hơn, trong niềm mong mỏi thời gian qua mau từng ngày, từng năm để được thêm tuổi, thêm khôn ngoan, thêm cao lớn, có khả năng thể hiện chính mình và được tự do quyết định hành vi của mình. Nhưng rồi chẳng mấy chốc, người thanh niên đẹp đẽ, sung sức và đầy tài năng ấy vượt qua đỉnh cao cuộc đời để đi vào quá trình xuống dốc. Sức khỏe và tài năng cứ vơi đi dần theo năm tháng; rồi anh ta lại phải từng ngày chống chọi với nhịp điệu mau lẹ của thời gian, mong ước thời gian đi chậm lại, mong ước tuổi già lâu đến . . .

Quả thật nhìn vào biểu đồ ấy ta thấy cuộc đời con người khá bi đát. Cuộc đời vẫn cứ trôi và cái đỉnh cao cuộc đời ấy nhiều khi chỉ là một bức màn mỏng, thật mỏng, thật phù du; đụng vào nó rồi, người ta sẽ thấy lộ ra ngay sau đó một con đường xuống dốc. Quả thật, nếu người ta sống để đi tìm đỉnh cao đời người như thế, thì cuộc sống con người quá kỳ cục. Cuộc đời như một trò lừa đảo. Cái đỉnh cao đời người giống như một tấm bánh vẽ. Đó là cái bi đát chung của phận người.

2. Cuộc đời làm hoa hay cuộc đời làm hạt ?

Một cách nào đó, chúng ta có thể nói được rằng cuộc đời đi tìm đỉnh cao như thế chính là “cuộc đời làm hoa”. Bông hoa bao giờ cũng tươi tắn, rực rỡ, đẹp đẽ. Bông hoa là thành quả tập trung của tất cả những cái tốt nhất của đời cây để chứng tỏ bản thân mình, để khoe sắc một lần. Thế nhưng bông hoa thì bao giờ cũng mau héo tàn. Nếu người ta vô tình chọn cách sống cuộc đời theo kiểu "cuộc đời làm hoa", người ta sẽ thấy rằng mình bị lừa, cú lừa làm mất đi chính cuộc đời; nếu người ta cố tình chọn cách sống ấy, nghĩa là hàm ý nghĩa lựa chọn thái độ : thà rực rỡ một lần rồi tàn héo; thà huy hoàng một phút còn hơn lầm lũi cả đời. . .

Nếu nhìn vào đời cây, ta thấy rằng cây không phải chỉ là kiếp hoa; và suy đến cùng, hoa chỉ là một giai đoạn cần phải trải qua để thành nên hạt. Đời cây cần có hoa để thu hút ong bướm, rồi vượt qua thời kỳ nở hoa để đi đến thời kỳ đậu hạt. Mục đích của hoa chính là hạt; ý nghĩa chân chính của hoa chỉ thể hiện được khi hoa biến thành hạt.

Cuộc đời làm hạt thì không rực đỡ, không khoe sắc tỏa hương, không tươi tắn mềm mại, không thu hút bướm ong. Những cuộc đời làm hạt vẫn có nét “huyền nhiệm”, cao quí, có nét đẹp riêng của nó. Cái đẹp của hạt không lồ lộ ra ngoài, nhưng ẩn dấu trong dáng vẻ xấu xí. Cái cao quí của hạt không phải là khoe mẽ bên ngoài nhưng là ươm mầm bên trong. Hạt cho đi chính bản thân mình, dâng tặng trọn vẹn và tuyệt đối, vì hạt bao giờ cũng phải thối đi để nẩy sinh những bông hạt khác.

Thế thì đỉnh cao đời người là cuộc đời làm hoa hay cuộc đời làm hạt ? Thế thì nét đẹp chân chính của đời người là rực rỡ để thu hút hay quảng đại, âm thầm để cho cho đi ?

3. Phép lạ của tình yêu

Thử nhìn vào đời sống gia đình, chúng ta có thể thấy thật nhiều phép lạ, những phép lạ xẩy ra thường xuyên nên nhiều khi người ta coi thường. Dù vậy, chăm chú một chút, ta cũng sẽ nhận ra ngay những biến đổi kỳ diệu mà ta có thể gọi được là những “phép lạ giữa đời thường”. Trong số nhiều “phép lạ” ấy, có một phép lạ lớn nhất : trở nên cha mẹ.

Là con người, ai cũng mong cho mình “được”, cái được của một lối nhìn lấy mình làm trung tâm: được có, được yêu, được chấp nhận, được sung sướng, . . . Đó là qui luật chung của thái độ con người. Thế nhưng, khi một thanh niên làm cha, làm mẹ, tất cả những cái được ấy đều dần dần thay đổi. Thay vì được chiều chuộng, cha mẹ bắt đầu biết chiều chuộng đứa con bé bỏng của mình; thay vì được yêu, cha mẹ bắt đầu biết yêu, yêu vô điều kiện đối với đứa con của mình; thay vì được thêm thu nhập, thay vì được sung sướng hơn, khi làm cha làm mẹ, người ta kinh nghiệm như đời mình bị đảo lộn tất cả : sẵn sàng hao tổn thu nhập vì con, sẵn sàng chịu vất vả khổ sở vì con. . . Cuối cùng, người cha người mẹ còn nghe thấy lời thúc bách như thể dám chấp nhận “chấm dứt tương lai” của mình để mở đường cho tương lai của con cái.

Nhìn vào cuộc đời ấy, chúng ta nhận ra nét đẹp vô cùng của cuộc đời làm cha mẹ. Không phải ngẫu nhiên mà tình mẫu tử là tình cảm đẹp nhất trong tâm hồn con người; không phải ngẫu nhiên mà ca dao mẹ luôn là mảng ca dao phong phú nhất trong kho tàng văn chương nhân loại. Nhìn vào phép lạ ấy, chúng ta nhận ra nét đẹp của cuộc đời cho đi, nét đẹp của cuộc đời làm hạt.

4. Bản chất đời người là tình yêu ban tặng

Trong khi cái biểu đồ của hiện tượng bên ngoài bộc lộ tính bi đát và vô vọng của lịch sử đời người, thì một biểu đồ khác, căn cứ vào bản chất yêu thương của con người, căn cứ vào những nhu cầu rất thật và rất sống động của đời sống gia đình, lại cho thấy một sự “hợp lý” sâu xa bên trong : con người được đón nhận bao nhiều hồng ân để lớn lên; rồi con người lại có khả năng phát triển và sáng tạo cho gia sản ấy phong phú thêm; rồi cuối cùng con người sẽ lại mang tất cả vốn liếng và “phần lời” ấy để tiếp tục cho đi, cho đi đến tận bản thân mình. Thư mùa Chay 2003 của Đức Gioan Phaolô II nói: “Khuynh hướng trao ban đã nằm sâu trong tâm hồn con người” (số 1).

Như thế, từ quan điểm đời người là cho đi, chúng ta có thể khẳng định rằng “đỉnh cao” đời người không phải là tuổi trẻ, nhưng trong thực chất, chính là tuổi cho đi, là tuổi làm cha mẹ, hay là chính tuổi già. Quả thật nhìn theo quan điểm này, chúng ta mới thấy được nét đẹp của những nếp nhăn trên trán, nét đẹp của những sợi tóc bạc, nét đẹp của một cuộc đời cho đi trọn vẹn. Trong quan điểm này, chúng ta thấy cuộc đời con người không bi đát nhưng tràn đầy ý nghĩa, bởi vì khi đó, con người thể hiện được hướng hành trình như một quy luật mà Chúa Giêsu đã nêu lên trước khi đi vào cuộc tử nạn của Ngài :

“Đã đến giờ Con Người được tôn vinh ! Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quí mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” [Ga 12,23-35].

Quả thật, Tin Mừng của Chúa Giêsu không phải là một quy luật dị thường, nhưng là ánh sáng giúp con người thực hiện vận mạng đời người và giúp cho con người hoàn thành khát vọng sâu xa chân thật nhất của bản chất người.

xem tiếp Phần 4

xem lại Phần 2