Chiêm Ngắm Huyền Nhiệm Tình Yêu - Phần 2

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Tình yêu làm nên cuộc sống con người. Nhưng tình yêu cũng làm ra bao nhiêu tội ác trong cuộc sống con người. Đó chẳng phải chỉ là những là những thứ tình yêu ghen tuông, tình yêu mù quáng; nhưng đó còn là biết bao tội tham nhũng, bất công, gian tham… mà trong thâm sâu chúng cũng có phần dính dáng đến một thứ tình yêu nào đó. Tình yêu làm nên cuộc sống con người, nhưng con người thường chỉ đạt được một thứ tình yêu “nửa chừng xuân”, tình yêu vụn vặt và què quặt, khiến cho cuộc sống con ngươi cứ mãi loay hoay; khổ vì yêu mà không yêu cũng khổ; yêu để sống nhưng nhiều khi vì yêu mà không còn muốn sống….

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

Tình Yêu, đó là Đức Giêsu Kitô

1. Tình yêu của con người

Tình yêu làm nên cuộc sống con người. Nhưng tình yêu cũng làm ra bao nhiêu tội ác trong cuộc sống con người. Đó chẳng phải chỉ là những là những thứ tình yêu ghen tuông, tình yêu mù quáng; nhưng đó còn là biết bao tội tham nhũng, bất công, gian tham… mà trong thâm sâu chúng cũng có phần dính dáng đến một thứ tình yêu nào đó. Tình yêu làm nên cuộc sống con người, nhưng con người thường chỉ đạt được một thứ tình yêu “nửa chừng xuân”, tình yêu vụn vặt và què quặt, khiến cho cuộc sống con ngươi cứ mãi loay hoay; khổ vì yêu mà không yêu cũng khổ; yêu để sống nhưng nhiều khi vì yêu mà không còn muốn sống….

Thật ra con người khao khát yêu thương, nhưng lại không có đủ phẩm cách xứng tầm của tình yêu. Thế rồi, trong mức độ giới hạn của mình, người ta vẫn cứ yêu, yêu một cách méo mó, lệch lạc. Cái nguy lớn là những thứ tình yêu méo mó ấy ru ngủ, hoặc trói chặt con người. Con người tưởng rằng mình cũng biết yêu, để lâng lâng ca tụng tình yêu. Con người lao vào tình yêu méo mó, nhưng lại không đủ khả năng ra khỏi hoặc vươn lên trên tình yêu ấy…. Quả thật, trong cuộc sống hằng ngày, có quá nhiều thứ tình yêu bị biến chất làm cho con người bị lạc hướng trong khu rừng của tình yêu; và người ta có thể nói về tình yêu rằng : “rượu càng ngon thì dấm càng chua”; nghĩa là sự biến chất của một điều càng cao qúi bao nhiêu thì lại càng trở nên tệ hại bất nhiêu.

* Tình yêu, xa và gần

Chúng ta thử tiếp cận tình yêu dưới khía cạnh đối tượng của tình yêu. Vấn đề dặt ra là : Tình yêu đi từ cái chung đến cái riêng hay đi từ cái riêng đến cái chung ? Đó là một vấn đề rất thực tế mà cũng rất nan giải của cuộc sống hằng ngày. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta có thể thấy, người ta luôn luôn sa vào một lựa chọn để loại trừ. Khi tình yêu “gần” thì không thể “xa”, và ngược lại. Khi người ta yêu người thân của mình và không còn đủ năng lực để có thể cống hiến đúng mực cho những người ngoài vòng yêu thương của mình. Khi người ta muốn giang rộng đôi tay yêu hết mọi người, thì người ta lại không bao giờ có thể yêu hết mình một ai cả. Cái tình cảm tréo ngoe đó làm cho tình yêu của con người luôn luôn hé lộ một khiếm khuyết không thể vượt qua.

* Tình yêu, lý trí và tình cảm

Ta thử tiếp cận một khía cạnh năng lực của chủ thể trong hành trình đi đến tình yêu. Ở đây, người ta thấy rằng cái tình cảm thì bao giờ cũng hướng tới một đối tượng cụ thể, không thể có cái tình cảm của một tình yêu chung chung, phổ quát. Ngược lại, cái nhận thức của lý trí thì, bình thường, lại nhằm tới đối tượng là sự phổ quát. Như thế, Khi người ta bị lôi cuốn bởi cái eros như một cơn “đam mê xuất thần”, thì thứ tình yêu ấy bất cần mọi sự, nhiều khi bất cần cả luân thường đạo lý. Nhưng nếu người ta quá thiên về lý trí, yêu như là một thứ Philein, thì chính thứ tình yêu ấy lại chống đối lại tình yêu hy sinh mạng sống cho bạn hữu; và chính vì thế mà người Hy Lạp coi thập giá là một sự điên rồ : “Trong khi người Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ”. (1 Cr 1,22-23)

* Tình yêu, phong phú và triệt để

Ta thử tiếp cận một khía cạnh phẩm chất của tình yêu con người, khía cạnh phong phú và triệt để, nghĩa là xét đến khía cạnh tình cảm, đến chính con tim của chủ thể yêu. Hai tính chất phong phú và triệt để là những tiêu chuẩn căn bản của tình yêu chân chính, nhưng hai tính chất ấy lại luôn đi ngược chiều nhau. Chúng ta có thể thấy là tình yêu thì luôn phải phong phú, tuôn trào, rộng mở. Bởi vì giới hạn của tình yêu là tình yêu không giới hạn; bởi vì tình yêu mà lại chấp nhận loại trừ một phần nào đó, loại trừ một ai đó, thì đó đã là điều gì có nguy cơ phản lại chính tình yêu. Tính chất phong phú của tình yêu có nghĩa là tình yêu càng cho đi thì càng mạnh mẽ; tình yêu càng chia sẻ cho nhiều người thì lại càng sung mãn và mãnh liệt.

Tính cách triệt để của tình yêu có nghĩa là tình yêu thôi thúc ta dâng trọn vẹn cả bản thân mình cho người mình yêu; tình yêu không phải là một sự tính toán chia phần con tim, để yêu người này một chút, yêu người kia một chút. Tình yêu của hai người với nhau, để đạt đến mức triệt để, cần phải thể hiện như sự dâng trọn vẹn bản thân cho nhau, trong suốt cuộc hành trình cuộc đời …

Làm sao để có được tính chất “triệt để - phổ quát” nơi tình yêu con người ? Đó là một nan đề mà con người không dễ giải quyết được.

2. Mạc khải của Thánh Kinh

Trong cách nhìn của Kinh Thánh, chúng ta có thể nhận biết rằng, với tội lỗi, con người không còn có thể sống trọn vẹn “hình ảnh Thiên Chúa” nơi bản thân của mình được nữa. Con người được sáng tạo nên giống Thiên Chúa, nghĩa là con người được mời gọi để sống với Chúa. Nhưng khi không sống được trọn khao khát yêu thương khi sống với Chúa, con người ta bộc lộ khao khát yêu thương của mình thành những phản ứng nổi loạn. Cách sống tình yêu của con người, trong hiện trạng, giống giống như là :

- Giống như một người nhận tiền để mua nhà, nhưng vì chưa mua được nhà, nên tiêu xài vụn vặt hết tiền; cũng thế, vì con người không tìm thấy được một tình yêu chân thật, nên người ta sử dụng tình yêu vào những chuyện vớ vẩn, như yêu sự vật thay vì là yêu ai khác…

- Giống như một người nhận được một cây gậy để hái quả ngọt trên cây, nhưng vì không hái được quả, nên người đó dùng gậy đập phá lung tung; cũng thế, vì con người không tìm thấy được tình yêu chân thật, nên người ta “trả thù đời” bằng ghen tương, bằng lợi dụng, lừa đảo trong tình yêu…

- Giống như một người con, nhận được những món quà của mẹ như một bằng chứng về tình yêu, tình yêu dâng trọn bản thân cho đứa con, nhưng đứa con lại quá ham mê những món quà, quá ham mê hưởng thụ cho mình mà quên mất tình nghĩa, nên đòi hỏi thứ này điều kia; cũng thế, con người đón nhận được tình yêu để đi đến với tình yêu thương của ai khác, nhưng vì ham hưởng thụ, vì quá hời hợt, nên đứa con chỉ biết tìm cho mình những đồ vật.

*** Thật ra con người không thể tự mình đi trọn được con đường yêu thương. Tình yêu thôi thúc con người, như sóng dạt dào, nhưng là những ngọn sống “không có chân”, không có nền, nên cứ ào ạt rồi lịm tắt, cứ mãnh liệt nhưng rồi lại đuối sức để rồi chìm lắng….

3. Tình yêu chân chính, đó là Đức Giêsu Kitô

Thật ra, con người được Chúa dựng nên có thể xác, nên tình yêu của con người phải bắt đầu từ con người cụ thể. Thiên Chúa cũng bắt đầu chọn cho Ngài một Dân riêng, và Chúa Giêsu cũng chọn cho Ngài các tông đồ, trong đó, còn có vị tông đồ “được Chúa thương mến”. Thế nhưng không bao giờ một Dân riêng hay người môn đệ yêu quí có thể dừng lại ở mối tình riêng để hủ hỉ với Chúa, nhưng luôn được mời gọi để trở thành sứ giả mang Tin Mừng của Chúa đến cho người khác. Đó là cách diễn tả tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người.

Ngược lại, con người chỉ có thể hoàn thành ước vọng yêu thương của mình bằng cuộc gặp gỡ yêu thương với nhân vật trọng tâm của ơn cứu độ, Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu là một con người cụ thể, một nhân vật lịch sử, nhưng Ngài lại cũng là Đức Kitô, Đấng cứu độ muôn người. Chỉ trong cuộc gặp gỡ ấy, con người mới có được một khởi đầu cụ thể của tình yêu, khởi đầu ấy lại mở ra không cùng trên con đường yêu thương tron vẹn đối với muôn người. Ơn cứu độ chính là yêu mến đức Giêsu và để cho Ngài dẫn dắt mỗi người chúng ta trên hành trình yêu thương trọn vẹn. Chính vì thế mà mỗi người phải tự trả lại câu hỏi căn bản của niềm tin : “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” (Mt 16,15).

Tình yêu mở đường đến sám hối đích thực

1. Những kiểu sám hối không trọn vẹn

Nhiều người Kitô hữu chỉ đi xưng tội như là một cuộc tẩy rửa định kỳ, giống như người ta tắm rửa mỗi ngày một lần, hớt tóc mỗi tháng một lần, hoặc rửa xe hai tháng một lần. Sám hối chỉ như một cuộc tẩy rửa định kỳ như thế có thể làm cho người ta được bớt “cáu ghét”, bớt được tình trạng bết bùn trong tâm hồn, nhưng chắc chắn chưa phải là sám hối đích thực theo tinh thần Kitô giáo. Sám hối như thế chỉ là một thứ tẩy rửa bên ngoài chứ chưa phải là thay đổi bên trong. Nói cách khác, việc sám hối như thế chỉ mới là “xé áo” chứ chưa phải là “xé lòng” theo lời kêu gọi của ngôn sứ Giô-en (x. Ge 2,13).

Một cách tốt đẹp hơn, sám hối chân thật bao hàm một sự thay đổi lối sống, nghĩa là không chỉ dừng lại hành vi ”định kỳ”, không chỉ gói gọn ý nghĩa sám hối trong một thời khắc nào đó (lúc xưng tội), trong một hành vi thêm vào lối sống cũ (đi xưng tội)… nhưng là thay đổi chính lối sống của thói quen cũ, là biến cải chính lối sống quen thuộc hằng ngày để bước vào một hành trình mới. Việc sám hối này làm cho cuộc sống thoát khỏi những “dịp tội” thường gặp trên đường đời; đồng thời cũng gia tăng sức sống của niềm tin nhờ năng tham dự những sinh hoạt đạo đức… Chính quyết tâm thay đổi lối sống cho thấy một mức độ sâu xa hơn của lòng sám hối, một cung cách triệt để hơn trong việc dấn thân vào một nẻo được mới. Hành vi sám hối như thế có phần thực sự dính dáng đến chính bản thân của người sám hối chứ không phải chỉ là một hành vi phụ thêm của cuộc sống.

Tuy vậy, việc sám hối như một sự thay đổi lối sống thường vẫn chưa phải là một sự sám hối hoàn toàn của tinh thần Kitô giáo. Hành vi thay đổi đời sống của người kitô hữu nhiều khi vẫn không phải là một nhân đức đúng nghĩa, hay nói cách khác, vẫn chỉ là sống “nhân đức chịu vậy”; nghĩa là chấp nhận thay đổi đời sống một cách bất đắc dĩ, chấp nhận vì một sự ép buộc bên ngoài mà chính mình không ưa thích. Khi người ta không cảm được cái hay cái đẹp của nếp sống mới mà vẫn phải chấp nhận vì sợ, vì một sự ép buộc bên ngoài nào đó; khi người ta không tìm được một lòng thuận thảo với Nước Trời như chính giá trị thân thương của tâm hồn, thì việc thay đổi nếp sống vẫn chỉ là một dị vật trong đời sống tâm linh và không trổ sinh hoa trái phong phú được.

2. Lối sống so đo tính toán

Nhìn sâu hơn vào đời sống Kitô hữu, có lẽ chúng ta có thể hiểu ra nguyên nhân sâu xa của một tình trạng không trổ sinh hoa trái phong phú của đời sống đức tin chính là do thái độ sống so đo tính toán. Nhiều người Kitô hữu sống trong thời đại Tân Ước nhưng vẫn theo tinh thần của Cựu Ước, nghĩa là chỉ so chiếu đời mình với một bộ luật "ghi trên đá". Người Dân Is-ra-en đã không đón nhận được lề luật của giao ước trong nghĩa tình, nhưng chỉ là một phương cách để tìm lợi ích cho chính mình; chính vì thế mà giao ước đã thường xuyên bị vi phạm. Chính vì thế mà các ngôn sứ đã phải nói tới một giao ước mới, giao ước thân tình như đời sống yêu thương vợ chồng (Xc. Hs 2,21-24), giao ước thân mật được ghi khắc trong tim (Xc. Gr 31-34), giao ước trong Thần Khí của Thiên Chúa (Xc Ed 36, 26-34) :

* "Này sẽ đến những ngày - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA - Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en và nhà Giu-đa một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay dẫn họ ra khỏi đất Ai-cập ; chính chúng đã huỷ bỏ giao ước của Ta, mặc dầu Ta là Chúa Tể của chúng - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. Nhưng đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en sau những ngày đó - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta." (Gr 31, 31-33)

* "Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt. Chính thần trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành." (Ed 36, 26-27)

Khi sống đời sống luân lý dựa theo một bộ luật, người ta không có được sức sống của tình yêu, nhưng chỉ là một sự so đo tính toán, theo lối sống quanh quẩn trên dưới chung quanh mức trung bình cộng. Không có tình yêu, người ta không có đủ sức hút để đi vào nẻo đường vươn lên đến một sự sống phong phú, vì nẻo đường ấy luôn kèm theo những hy sinh vất vả trong bình diện cuộc sống trần gian. Không có tình yêu, người ta chỉ dừng lại ở mức tối thiểu, chỉ nhằm vượt qua mức trung bình cộng để khỏi bị phạt.

3. Yêu nhiều vì đã được tha thứ nhiều

Thực ra Mười Điều Răn mới chỉ là bộ luật của Cựu Ước. Lối sống dựa theo Mười Điều Răn không thể làm cho con người được sống phong phú nếu như không hướng tới Điều Răn Mới của Chúa Giêsu :

"Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết. (Ga 15,12-15)

Với việc tẩy rửa định kỳ, hoặc thay đổi lối sống, người Kitô hữu vẫn chưa có được một sự sám hối vì lòng mến, mà chỉ có sám hối vì sợ; và vì thế, vẫn chưa thể là “sám hối vì Nước Trời”. Điều kiện để bước vào Vương Quốc của Thiên Chúa là : "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần." (Mt 3,2). Sám hối ở đây là một cuộc đảo ngược tinh thần, là một sự thay đổi tinh thần, thay đổi não trạng. Đó là một đời sống mới từ trong “nguyên lý” chứ không phải chỉ ở mức độ sửa đổi thích nghi. Đó là một cuộc sám hối bằng sức mạnh của Thần Khí Chúa, để được biến đổi từ chính “tinh thần” hay thần trí của con người. Nguyên lý mới này bắt nguồn từ chính tình yêu lớn hơn mọi tình yêu của Chúa Giêsu.

Do đó, lối sống của người Kitô hữu không thể chỉ là lối sống quẩn quanh mức trung bình cộng của Mười Điều Răn, nhưng phải là một hành trình không ngừng vươn lên mãi hước đến mức độ Điều Răn Mới của Đức Giêsu. Trong nhiệm cục Tân Ước, tất cả mọi khía cạnh nhân sinh được diễn tả trong Mười Điều Răn đều trở nên những nẻo đường "dọc" hướng lên, chứ không phải là những đường "ngang" của một sự so đo tính toán theo mức trung bình cộng. Trong chiều hướng ơn cứu độ trong Đức Giêsu, mọi nhân đức, cũng như mọi lỗi lầm của đời sống con người đều có thể biến đổi ý nghĩa một cách căn bản :

"Vì thế, tôi nói cho ông hay : tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít." (Lc 7,47)

Trong Chúa Giêsu, điều quan trọng nhất của một con người không còn là so chiếu với một bộ luật khách quan, nhưng nằm trong vận hành của nẻo đường hướng tới tình yêu lớn lao của Chúa Giêsu. Vận mạng của con người, của mỗi con người không còn tự mình bươn chải để leo lên trên mức trung bình cộng, nhưng là nối kết vào mạch sống yêu thương của Chúa Giêsu; trong vận hành đó, nhiều khi chính tội lỗi lại có thể khai lối cho nẻo đường của tình yêu. Trong tình yêu của Chúa Giêsu, người Kitô hữu được kêu gọi để sám hối không ngừng, nhưng đó là sám hối vì nhận ra mình không xứng đáng với tình yêu của Chúa. Sám hối vì tình yêu thì không phải là sự cay đắng vì bản thân mình, nhưng mang "mùi vị" ngọt ngào vì tình yêu của Chúa. Sám hối "cay đắng" khi so chiếu đời mình với một bộ luật thì làm cho ta nhụt chí; sám hối "ngọt ngào" khi đối diện với tình yêu Chúa thì giúp ta tăng thêm lòng trông cậy để tiến bước trên hành trình cuộc đời.

Tình yêu khai mở chân trời tâm linh Kitô giáo

1. Chiều kích tâm linh trong đời sống con người

Chiều kích tâm linh là chân trời rộng mở cho mọi điều thiện hảo trong cuộc sống con người. Cuộc sống thực tế của con người luôn bị trói buộc trong những "giới hạn căn bản" của bản chất người. Con người là "nhân vô thập toàn", con người là "sinh lão bệnh tử", con người là "sinh vật có bệnh", con người là "hữu thể tương đối"….; những giới hạn căn bản như thế không phải chỉ là những khẳng định lý thuyết của các triết gia hay thần học gia, nhưng là những chuyện đời thường mà mỗi người đều cảm nhận thấy, đặc biệt là khi người ta bước qua tuổi mộng mơ để trở nên một con người trưởng thành. Như thế, cứ theo lẽ thường, để trưởng thành, người ta cần chấp nhận thực tế để sống "khôn ngoan" để tính toán cuộc đời, để biết dè dặt trong những mối tương quan tình nghĩa, để biết "liệu cơm gắp mắm" trong cách đối xử ở đời… Thế nhưng, trong thực tế, ta lại luôn thấy những mảnh đời đẹp của một lý tưởng dâng hiến trọn vẹn, của một sự phục vụ không tính toán, của một thứ tình yêu vượt qua mọi giới hạn… Đó chính là sự so le của thực tế đời thường và khát vọng tuyệt đối trong đời sống con người. Khát vọng tuyệt đối được biểu lộ trong các tôn giáo, và các tôn giáo đáp ứng khát vọng ấy khi khai mở chiều kích tâm linh của con người. Không có chiều kích tâm linh, người ta không thể tha thứ mãi, không thể bác ái trọn vẹn, không thể yêu thương vô điều kiện, không thể phục vụ vô vị lợi, không thể tìm thấy một tiêu chuẩn vững bền cho mệnh lệnh luân lý, không thể sống trọn niềm tin vào con người…

Thực tế so le đó cho thấy chiều kích tâm linh là điều không thể thiếu đối với đời sống của mỗi cá nhân con người cũng như đối với toàn thể một xã hội. Con người vừa là "nhân sinh sơ tính bản thiện", nhưng lại cũng vừa là "nhân chi sơ tính bản ác"; con người tự nhiên vừa khát khao sự thiện, nhưng lại luôn bị cám dỗ làm điều ác. Hơn nữa, ranh giới của cám dỗ làm sự ác là vô bờ bến và niềm khát khao sự thiện cũng vô bờ bến. Nếu lòng khao khát sự thiện bị biến thành một hệ thống luân lý hợp lý, chiều kích tâm linh sẽ bị tiêu diệt, cuộc sống xã hội sẽ trở nên mất quân bình vì sự hoành hành của sự ác. Một xã hội vô thần sẽ không thể có đủ lực trong cuộc chiến đấu chống sự ác.

Chúng ta cũng có thể tìm thấy một nguyên tắc trong đời sống con người : muốn vượt lên khỏi cái xấu thì không thể chỉ dừng lại ở cái không xấu không tốt. Lựa chọn như thế sẽ làm cho con người “rớt lại” trong thế giới của cái xấu; vì bản thân của con người đã mang sẵn mầm mống của tội. Muốn diệt cỏ dại trên một mảnh đất, thì không thể dừng lại ở việc làm cỏ, nhưng phải trồng hoa trên mảnh đất ấy.

2. Tình tự của ơn cứu độ Kitô giáo

* “Cái ác” trở thành ”tội lỗi”

Kinh Thánh thì cho thấy cái ác nằm trong bản chất của con người, cái ác là tội tổ tông đè nặng trên dòng dõi Adam. Kinh Thánh cho thấy tội lỗi chính là một đường nét quan trọng trong tình tự ơn cứu độ Kitô giáo. Trong hoàn cảnh thực tế của con người có tội, thì chính tội lỗi lại có thể là khung cửa để con người nhận ra mối tương quan với Thiên Chúa. Theo nhãn quan Kinh Thánh, cái ác không phải chỉ là một sự bất toàn mà mình “có gan chơi” thì “có gan chịu”, nhưng cái ác đặt con người đối diện với Chúa và với tha nhân. Như thế, cái ác trở thành tội lỗi, vì tội lỗi không phải chỉ là chuyện giữa ta với sự vật, những là chuyện giữa ta với ai khác. Cái ác không còn chỉ là vô minh, không còn chỉ là ngu dốt, không còn chỉ là lầm lẫn, nhưng là một thái độ bất trung. Chính vì thế, tội lỗi hé lộ cho con người nẻo đường đi vào ơn cứu độ, nghĩa là mời gọi con người tìm lại tương quan với Chúa.

* Tội lỗi và ơn cứu độ

Chính từ nẻo đường của mối tương quan ngôi vị do tội lỗi đặt ra mà người Kitô hữu được mời gọi để đi vào ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô. Chính người tội lỗi lại là những người có nhiều cơ may nhất để nhận ra trách nhiệm của mình với Chúa và nhận ra mình cần tới Chúa. Nhận ra mức độ trầm trọng của tội lỗi để có thể nhận ra lòng khao khát ơn cứu độ; nhận ra sự bất trung để nhận ra nẻo đường của ơn cứu độ bằng tình yêu thương. Đó là một trong muôn vàn nét “đảo ngược” kỳ lạ của Tin Mừng Đức Giêsu Kitô :

“Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói với họ : "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi." (Mc 2,17).

“Vậy, tôi nói cho các ông hay : trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn”. (Lc 15,7).

* Cứu độ và nên thánh

Các môn đệ của Chúa Giêsu không phải là những con người ưu tuyển, cả về phương diện trí thức cũng như về phương diện đời sống luân lý; các thính giả của Chúa Giêsu cũng không phải là những người có văn hóa cao hoặc là những người lành thánh nào cả. Ngược lại, những người chung quanh Chúa, hầu hết là những con người bình thường, hoặc có thể nói là tầm thường, hoặc rất tầm thường nữa. Dĩ nhiên, với những người như thế, Chúa Giêsu thường dùng những dụ ngôn, với những hình ảnh và những chuyện đời thường để tỏ bầy những chân lý cao siêu; và dĩ nhiên Chúa Giêsu cũng không thể một lúc trình bày được hết những mầu nhiệm thâm sâu của Thiên Chúa. Thế nhưng, về phương diện đạo đức, Chúa lại không ngần ngại đặt ra những lý tưởng cao vời của đời sống luân lý. Chúa không giảm nhẹ chút nào đòi hỏi của lý tưởng Tin Mừng. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó trong toàn bộ giáo huấn luân lý của Chúa Giêsu, đặc biệt trong bài giảng trên núi :

“Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5,48)

Nẻo đường mà Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ bước vào là một nẻo đường mà ngay cả những bậc thánh hiền cao cả nhất của nhân loại cũng không dám nghĩ đến :

"Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó”. (Mt 7,12).

Điều mình không muốn người khác làm cho mình, như đức Khổng Tử dạy, thì chỉ giới hạn trong một số điều thôi; nhưng điều mình muốn người khác làm cho mình thì lại vô cùng, không có giới hạn, đó mới chính là điều đức Giêsu dạy.

Chúng ta có thể thấy rõ, nẻo đường đi vào ơn cứu độ của Chúa Giêsu không phải là bình bình, vừa vừa phai phải, nhưng là một bước nhẩy trọn vẹn và quyết liệt vào con đường nên thánh, vào con đường hun hút đến trời mà tự thân nhân loại không dám bước vào. Con đường ấy dĩ nhiên chỉ khả thi trong ơn cứu độ của Đức Giêsu, chỉ khả thi khi người Kitô hữu nhẩy vào thế giới của Nước Trời và đón nhận được sự sống mới trong ơn sủng của Chúa Thánh Thần.

Quả thật tình tự của ơn cứu độ Kitô giáo chỉ có thể hình thành được từ con đường của tình yêu; từ sự nhận ra những giới hạn của cuộc sống, nhận ra cái ác như là một sự từ chối tình yêu; đồng thời khai mở hành trình của tình yêu như nẻo đường khả dĩ để vươn lên đến tuyệt đối. Thiếu vắng tình yêu, đời sống con người chỉ còn là những tính toán hợp lý; thiếu vắng tình yêu Thiên Chúa, con đường tâm linh của con người vẫn chỉ là những nỗ lực giới hạn của sức người và con đường ấy đương nhiên loại trừ những người bé mọn.

Tình yêu Thiên Chúa chính là chân trời mở rộng cho đời sống con người, đồng thời cũng chính là động lực căn bản cho hành trình tâm linh của nhân loại.

Tình yêu mời gọi dấn thân

1. Không chỉ là tình cảm lãng mạn

Người ta thường hay nói "hôn nhân giết chết tình yêu". Tình yêu của hai người khi chưa đi đến hôn nhân là một tình yêu nồng nàn, cháy bỏng, lãng mạn, thương thương nhớ nhớ… Nhưng khi đã đi vào thực tế của đời sống hôn nhân, thì tất cả những thứ thương thương nhơ nhớ sẽ phai lạt dần; thay vào đó là cảm nhận có trách nhiệm, là sự thúc bách liên lụy với nhau trên hành trình cuộc đời.

Tuy nhiên, tình yêu chân chính và trọn vẹn thì không phải chỉ là một thứ tình cảm cháy bỏng. Tiếng gọi của tình yêu chân chính bao giờ cũng thôi thúc con người đến một cách sống yêu thương trọn vẹn, triệt để, yêu thương đến cùng. Hành trình của tình yêu chân chính không phải nhằm đạt đến một sự an hòa cho bản thân, nhưng là vượt quá bản năng bảo vệ bản thân. Đó luôn luôn là một cuộc “vượt qua”. Đi vào nhịp bước tình nghĩa, người ta được mời gọi ra khỏi bản thân, dấn thân vì tha nhân và dấn thân cho đến cùng. Tình yêu thương, trong khía cạnh dính dáng đến vận mạng con người, không thể được giải quyết bằng thái độ “đi giầy cao gót”, thái độ “đi cà khêu” trong cuộc đời. Để đến với ai khác trong tình yêu, ai khác như một bản thân có giá trị tuyệt đối, ai khác như vận mạng một đời người, ai khác với tất cả sự phức tạp của cuộc đời, thì người ta cũng cần phải hy sinh cả một đời.

Những người làm cha làm mẹ, những người có kinh nghiệm “cưu mang” một cuộc đời, “mang vác” một phận người,… có lẽ dễ hiểu được điều đó. Mang vác một cuộc đời là cả một hành trình gian nan, khốn cực, mà người nào nhát đảm, an thân không thể nào đi trọn được. Để đồng hành với một phận người, người ta không thể đứng bên lề cuộc đời để khỏi vướng bùn nhơ, không thể đứng xa xa, cầm cây khều khều, gẩy gẩy… nhưng là xắn quần lên, là lội vào bùn, là ngụp lặn trong bùn. Có lẽ chính vì cuộc đời một con người cần được cưu mang, cần được mang vác như thế mà Chúa cho con người có cha có mẹ.

2. Theo dấu tình yêu của Thiên Chúa

Tình yêu thương của Thiên Chúa đối với con người, đôi khi cũng được tỏ bày một cách thiết tha, ngọt ngào :

* "Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau ?Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ".(Is 9,15)

* "Hỡi Ép-ra-im, Ta từ chối ngươi sao nổi !

Hỡi Ít-ra-en, Ta trao nộp ngươi sao đành !

Làm sao Ta xử với ngươi như với Át-ma,

để ngươi nên giống như Xơ-vô-gim được ?

Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi". (Hs 11,8)

Tuy nhiên, theo quan điểm của Kinh Thánh, tình yêu hàm nghĩa một cách căn bản là sự liên đới với nhau trên hành trình cuộc đời, là sự đồng hành với nhau trong những khó khăn và cực nhọc, là sự liên lụy trong hậu quả của tội lụy. Điều chính yếu trong mạch sống của ơn cứu độ chính là lời hứa, là giao ước, là sự trung tín của Thiên Chúa trong hành trình lịch sử của Dân. Khởi đầu là một lời hứa trong vườn địa đàng với nhân loại :

”Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó." (St 3,15)

Rồi Giavê Thiên Chúa bắt đầu dính dáng vào vận mạng của con người một cách tích cực, một cách càng ngày càng trọn vẹn hơn, càng ngày càng thể hiện một sự liên lụy tới cùng với con người : Giavê Thiên Chúa đã kêu gọi Abraham và đã thực hiện một giao ước đơn phương cách quảng đại với Abraham :

"Khi mặt trời đã lặn và màn đêm bao phủ, thì bỗng có một lò nghi ngút khói và một ngọn đuốc cháy rực đi qua giữa các con vật đã bị xẻ đôi. Hôm đó, ĐỨC CHÚA lập giao ước với ông Áp-ram như sau :

"Ta ban cho dòng dõi ngươi đất này, từ sông Ai-cập đến Sông Cả, tức sông Êu-phơ-rát, đất của những người Kê-ni, Cơ-nát, Cát-môn, Khết, Pơ-rít-di, Ra-pha, 21 E-mô-ri, Ca-na-an, Ghia-ga-si và Giơ-vút. (St 15, 17-21;Xc, St 15, 7-21)

Rồi Giavê đã giao ước cách chính thức và song phương với Dân qua trung gian của Môi-sen (Xc. Xh 24, 1-8). Hành trình dấn thân ấy đưa đến việc nhập thể của Ngôi Hai Thiên Chúa, đưa đến cuộc tử nạn của Đức Giêsu Kitô :

"Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời".(Ga 3,16; Xc Pl 2, 6-11)

Trong khi người Hy Lạp cho rằng Thượng Đế chẳng màng chi đến thân phận con người, Thượng Đế là mẫu mực của cuộc sống con người theo kiểu như nam châm hút sắt mà không biết mình hút, thì phẩm chất căn bản của tình yêu nơi Giavê Thiên Chúa lại là gặp gỡ, sống -với, và dấn thân, dấn thân triệt để. Chính vì thế mà người Hy Lạp coi thập giá là một sự điên rồ :

"Trong khi người Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ." (1 Cr 1, 22-23)

3. Tình yêu Thiên Chúa thanh lọc tình yêu con người

Nói như đức Benedicto XVI, tình yêu Kitô giáo không chống lại tình yêu Eros. Tình yêu Eros là một sự say đắm, khi mà lý trí bị xâm chiếm bởi một cơn “điên dại thần bí”. Nhưng tình yêu Eros cần phải được thanh luyện trong tình yêu Agape của Kitô giáo .

“Từ cái nhìn ngắn ngủi về hình ảnh của Eros trong lịch sử và trong hiện tại, chúng ta thấy có hai chiều kích rõ rệt. Chiều kích thứ nhất, tình yêu có liên hệ với Thiên linh : tình yêu hứa ban sự vô hạn, vĩnh cửu – sự cao cả và hoàn toàn khác với thực trạng hằng ngày của chúng ta. Đồng thời cũng cho thấy, con người, để đạt đến đó, không phải chỉ đơn thuần là tùng phục bản năng. Sự thanh luyện và trưởng thành rất cần thiểt, và các điều này phải kinh qua con đường từ bỏ. Đây không phải là phủ nhận, cũng không phải là “đầu độc” Eros, nhưng là chữa lành để đạt được sự cao cả thực sự của nó” (Số 5).

Tình yêu thì phải luôn thăng tiến, vận hành vươn lên, nấu nung khao khát, âm thầm kêu gọi, thúc đẩy mạnh mẽ… Bỏ mất tính chất vận hành vươn lên thì ngay lập tức tình yêu con người bị biến chất. Agape thanh lọc Eros bằng cách không ngừng thôi thúc để Eros không được an thân trong sự quy ngã, hưởng thụ của chính mình. Agape làm cho bước khởi đầu của tình yêu Eros được đi vào vận hành hướng tới tình yêu không giới hạn về mọi phương diện, tình yêu hy sinh mạng sống cho người mình yêu.

Ở đây có thể hiểu được một chút tính chất thanh lọc của Agape đối với Eros. Tình yêu say đắm và lãng mạn của con người thường bị phá đổ do thực tế bi đát của cuộc sống. Đời sống gia đình chẳng hạn luôn phải đối diện với những chuyện cực nhọc về cơm áo gạo tiền, đối diện với sự khác biệt của tính tình, sự bất đồng trong suy nghĩ, sự ê chề của những tật xấu và cả sự đau thương của bệnh tật. Nếu con người không được định hướng bằng thứ tình yêu Agape, không được nuôi dưỡng bằng tình yêu Agape của Thiên Chúa, nghĩa là đi vào lộ trình của một thứ tình yêu dám dấn thân vào cuộc, chia sẻ phiền lụy cuộc đời với nhau, thì con người chẳng thể đi trọn vẹn hành trình yêu thương được.

Tình yêu, đón nhận bản thân của nhau

1. Thế giới “ngoài đường” và thế giới “trong nhà”

Khi ta đi ra đường, mọi sự đều là đổi chác. Trong thế giới ngoài đường, từ những đồ vật cho đến thân xác con người, từ những tài năng cá nhân cho đến vị thế xã hội, và cả đức độ của một con người, tất cả đều được đưa vào bài toán kinh tế thị trường, nghĩa là được đặt lên một bàn cân để cân nhắc lời lỗ của một cuộc trao đổi. Nét đặc trưng của việc buôn bán này là làm sao hai bên cùng có lợi, nghĩa là bên nào cũng phải thu lời được cho mình. Mặt khác, việc mua bán đổi chác ấy luôn là chuyện thời vụ, hiểu theo nghĩa là trong từng “hợp đồng” có tính ngắn hạn, bởi vì đó không phải là giao ước đụng chạm đến bản thân.

Trong khi đó, khi về đến gia đình, người ta sống trong một bầu không khí khác, bầu không khí của một sự chấp nhận bản thân của nhau. Khi đó, những tương quan hằng ngày không phải là đổi chác, không phải là những trao đổi theo nguyên lý của sự công bằng.

Cuộc trao đổi của thế giới ngoài đường không đụng đến được bản thân của con người, chỉ là những trao đổi những sự vật (sự vật là tất cả những gì không phải là bản thân của con người). Trong thế giới trao đổi sự vật đó, nếu người ta có xúc phạm đến phẩm giá, hoặc đối sử lịch sự với nhau, thì thật ra đó cũng chỉ là chuyện “lễ nghĩa” mà thôi. Trên nền tảng ấy, cuộc đối thoại ngoài đường thật ra cũng chẳng phải là cuộc đối thoại thoả mãn được khát vọng sống với của con người.

Ở trong gia đình, người ta chấp nhận bản thân của nhau. Nơi đây, những gặp gỡ, trao đổi hằng ngày, không phải là trao đổi, nhưng hướng mở tới một sự liên kết sâu hơn, làm dày lên nghĩa tình trong hành trình cuộc sống. Trong gia đình, mọi “trao đổi sự vật” chỉ là một cách diễn tả của bản thân cho nhau; trong khi đó, nơi thế giới ngoài đường, chính bản thân lại có nguy cơ bị giản lược vào “sự vật” để đổi chác.

2. Giao ước móng nền

Khi người ta làm một căn nhà tạm thời, một căn nhà không có móng, thì điều quan trọng là phải nối kết kèo cột với nhau thật chắc. Nhưng khi người ta muốn dựng một căn nhà vững bền, thì điều quan trọng hơn là phải có nền móng vững chắc. Với căn nhà tạm thời, khi kèo cột bung ra, căn nhà sụp đổ. Nhưng với một căn nhà có móng, khi kèo cột rời ra, lung lay, lắc lư, nó vẫn có thể đứng được. Rồi người ta lại tìm cách nối kết kèo cột lại với nhau. Hình ảnh căn nhà như thế giống với những mối tương quan con người với nhau. Khi người ta “gá nghĩa” tạm thời, theo tình đồng nghiệp, tình nghĩa làng xóm… thì cần phải biết cư xử với nhau cho đẹp, phải biết điều, biết ngó trước nhìn sau, biết liệu cơm gắp mắm… bởi vì nếu “kèo cột” không ăn khớp với nhau, thì mọi sự sẽ đổ bể hết. Tuy nhiên, trong đời sống gia đình, khi người ta chấp nhận bản thân của nhau, thì mặc dù những điều ăn khớp trên kèo cột vẫn luôn cần thiết, nhưng điều quan trọng nhất lại chính là một sự “thuộc về nhau”, thuộc trọn về nhau; đây là một sự liên kết trong móng nền.

Nhiều khi, trong gia đình, anh chị em không hợp tính nhau, thường xuyên cãi vã… nhưng dù sao họ vẫn là anh chị em của nhau, vẫn thuộc về nhau từ trong dòng máu của mẹ cha. Do đó, dù nói gì thì nói, dù tức bực với nhau sao đó, người ta vẫn phải dành ưu tiên những gì quí nhất cho những người thuộc về mình chứ không phải cho một người ngoài, dù đây là người rất hợp tính với mình.

Như thế, chúng ta hiểu ra rằng bí quyết của tình yêu không phải là sự ăn khớp tính tình, không phải chỉ là yêu thích những nét đẹp của nhau, nhưng căn bản hơn, đó là sống trong một nền tảng “thuộc về nhau”. Bí quyết đó là một thực tế hết sức quen thuộc của đời thường, ta có thể dễ dàng kiểm chứng và mọi người có thể sống được. Chẳng hạn : chúng ta có thể vào nhà thương ung bứu để thấy bao nhiêu cảnh khổ của cuộc sống con người, nhưng chiều về chúng ta vẫn cảm thấy thư thái, ăn ngon và ngủ ngon; vì những người đau khổ ấy, một cách nào đó, chưa dính dáng đến ta bao nhiêu. Cũng thế, chúng ta có thể chia vui với một người bạn xây xong một ngôi nhà khang trang, hoặc có con mới thi đậu đại học, những niềm vui đó chẳng sống động và sâu xa bao nhiêu so với bao nhiêu chuyện đang quay quắt trong quỹ đạo sinh hoạt thường ngày của cuộc đời mình. Ngược lại, nếu người nằm trong nhà thương Việt Pháp bị mổ ruột dư là em của tôi, người thi đậu tiểu học là cháu của tôi,… thì chắc chắn nỗi lo lắng và niềm vui của tôi sẽ sâu xa và mạnh mẽ hơn nhiều. Cái ruột dư bị đau chẳng quan trọng bằng cái bứu ác tính đang đe dọa tính mạng, văn bằng tiểu học chẳng là gì so với tờ giấy báo trúng tuyển đại học; nhưng những điều ấy lại dính dáng đến tôi, chúng được sống động do nguyên lý “thuộc về nhau”. Cũng thế, người thân của chúng ta chắc chắn chẳng hay hơn, chẳng tốt hơn, chẳng dễ thương hơn tất cả mọi người, nhưng điều quan trọng hơn là : đó là những người thuộc về tôi. Một khi đã xây dựng được một sự thuộc về nhau, tức là một sự đón nhận bản thân của nhau, người ta có thể vượt qua được những mâu thuẫn, những xung đột, hoặc những chướng ngại của một tật xấu nào đó, để có thể đón nhận người thuộc về mình một cách quảng đại và vô điều kiện.

3. Thiên Chúa giao ước móng nền với con người

Nếu như trong Cựu Ứơc, giao ước giữa Giavê với Dân còn có phần tính toán, tìm lợi lộc và chưa dính dáng trọn vẹn đến bản thân của mỗi người, thì Tân Ước mới thực sự là giao ước ở mức độ bản thân. Nơi đây, Thiên Chúa trao trọn bản thân của Ngài trong Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa, và người Kitô hữu cũng dâng trao trọn vẹn bản thân mình cho Chúa.

"Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. (Ga 3,16)

Chúng ta có thể thấy rõ giao ước của bí tích Rửa Tội không phải là một thứ giao ước thuận mua vừa bán. Trong loại giao ước như thế, mỗi bên chỉ góp vào một phần sự vật nào đó của mình chứ không đóng góp chính bản thân mình. Ngược lại, trong giao ước “móng nền”, giao ước “ngôi vị” sẽ làm nên một “cộng đồng ngôi vị”, trong đó, người ta đem chính bản thân mình ra để “ký kết”. Trong giao ước ngôi vị như thế, mỗi bên trao phó trọn vẹn bản thân mình cho nhau và cũng đón nhận trọn vẹn bản thân của người kia.

Thiên Chúa đã ban Con Một của Ngài cho chúng ta; và mỗi người Kitô hữu, khi lãnh bí tích Rửa Tội, chấp nhận chết đi cho con người cũ để sống một con người mới hoàn toàn, con người mới hoàn toàn thuộc về Chúa, từ lối sống cho tới cả những ý nghĩ thầm kín nhất….

* "Thật vậy, không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa" (Rm 14,7-8)

* "Đức Ki-tô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình". (2Cr 5,15)

Sống trong giao ước “móng nền” của bí tích Rửa Tội, người Kitô hữu nhận ra Thiên Chúa là Đấng “cùng phe” với mình, Thiên Chúa giúp mình “trả nợ đời” chứ Ngài không phải là ông chủ nợ. Thiên Chúa là người Cha với tất cả phẩm chất của người Cha chứ không phải là một ông chủ :

" Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng : 'Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng ! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.' Và họ bắt đầu ăn mừng." (Lc 15, 21-24)

Thiên Chúa trao ban chính bản thân mình, chứ không phải chỉ là trao ban một đồ vật, một món hàng nào đó. Điều đó giống như một người “nắm đàng chuôi”, chỉ có niềm tin vào tình yêu được đáp trả là sức mạnh duy nhất để đợi chờ. Tình yêu trao bao cần phải được chờ đợi, để lãnh nhận chính bản thân của người tín hữu tự do trao tặng. Thiên Chúa đã muốn chọn con đường yêu thương như thế.

xem tiếp Phần 3

xem lại Phần 1