Chiêm Ngắm Huyền Nhiệm Tình Yêu - Phần 1
Muốn củng cố sức mạnh của một con người, người ta có thể trao cho người ấy một thứ vũ khí mạnh để có thể trấn áp người khác; hoặc trao cho người khác đồng tiền để có thể mua chuộc mọi thứ; hoặc trao cho người khác những mối liên hệ thuận lợi theo kiểu “nhất thân nhì thế”… Nhưng có lẽ điều ta có thể làm cho một người nào đó có được sức mạnh vô địch, nói một cách triết lý, đó là trao cho con người một ý nghĩa. Hai người cùng thể trạng, cùng đạp xe đạp trên một quãng đường bằng nhau, nhưng một người đạp xe bất đắc dĩ, còn một người tha thiết muốn tập để trở thành một tay đua xe… thì chắc chắn người tìm thấy được ý nghĩa cho công việc làm của mình sẽ là người tiến bộ nhanh hơn, đạp mau hơn rất nhiều. Ngược lại, người không tìm được ý nghĩa cho việc làm của mình sẽ tự làm yếu nhược chính sức sống của mình bằng thái độ tiêu cực. Đó chính là bi kịch Sysiphe được diễn tả trong thần thoại Hy lạp; bi kịch của một kẻ chịu hình phạt nặng nề nhất của kiếp người, đó là làm một công việc vô nghĩa : lăn tảng đá lên đỉnh núi, rồi thả cho nó lăn xuống, và lại tiếp tục xuống núi để lăn nó lên. Hành trình của kẻ không ý nghĩa có thể bị sụp đổ có khi chỉ vì một trục trặc nhỏ trên đường đời. Ta có thể thấy cùng một nguyên tắc đó trên tất cả mọi lãnh vực của cuộc đời con người, đặc biệt trong những lãnh vực dài hơi.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
Tình yêu, nguyên lý của sự sống đích thực
1. Con người và hạt nhân ý nghĩa
Muốn củng cố sức mạnh của một con người, người ta có thể trao cho người ấy một thứ vũ khí mạnh để có thể trấn áp người khác; hoặc trao cho người khác đồng tiền để có thể mua chuộc mọi thứ; hoặc trao cho người khác những mối liên hệ thuận lợi theo kiểu “nhất thân nhì thế”… Nhưng có lẽ điều ta có thể làm cho một người nào đó có được sức mạnh vô địch, nói một cách triết lý, đó là trao cho con người một ý nghĩa. Hai người cùng thể trạng, cùng đạp xe đạp trên một quãng đường bằng nhau, nhưng một người đạp xe bất đắc dĩ, còn một người tha thiết muốn tập để trở thành một tay đua xe… thì chắc chắn người tìm thấy được ý nghĩa cho công việc làm của mình sẽ là người tiến bộ nhanh hơn, đạp mau hơn rất nhiều. Ngược lại, người không tìm được ý nghĩa cho việc làm của mình sẽ tự làm yếu nhược chính sức sống của mình bằng thái độ tiêu cực. Đó chính là bi kịch Sysiphe được diễn tả trong thần thoại Hy lạp; bi kịch của một kẻ chịu hình phạt nặng nề nhất của kiếp người, đó là làm một công việc vô nghĩa : lăn tảng đá lên đỉnh núi, rồi thả cho nó lăn xuống, và lại tiếp tục xuống núi để lăn nó lên. Hành trình của kẻ không ý nghĩa có thể bị sụp đổ có khi chỉ vì một trục trặc nhỏ trên đường đời. Ta có thể thấy cùng một nguyên tắc đó trên tất cả mọi lãnh vực của cuộc đời con người, đặc biệt trong những lãnh vực dài hơi.
Con người mạnh hơn con vật, dĩ nhiên không phải là bằng bắp thịt, mà có lẽ cũng không phải chỉ bằng trí khôn. Trong bản năng, sức lực của con vật có được một sự thống nhất vì một mục đích duy nhất, đó là bảo vệ sự sống của mình bằng bất cứ giá nào. Trong khi đó, con người, nhiều khi vì biết nên không còn đủ can đảm, vì sợ mà trở nên hèn nhát. Nhưng trí khôn con người và cả thể xác con người, chỉ có thể được thống nhất, được quy tụ và phát huy toàn bộ nang lực trong một ý nghĩa của cuộc đời. Tìm thấy ý nghĩa duy nhất của cuộc đời, con người tìm thấy được sức mạnh của toàn thể, sức mạnh của những tiềm lực có thể bị dấu kín trong nhiều tầng sâu của bản thân. Ý nghĩa đời người, đó là một “hạt nhân” có khả năng tập trung, thống nhất con người, và cung cấp sức mạnh thật sự cho hành trình phức tạp của đời sống con người.
2. Sự sống toàn diện
Khi ta ra đường, gặp những tình huống khó chịu ở nơi công cộng, đụng chạm và tranh cãi, … ta về nhà, buồn giận, càu nhàu, bực tức, và nhiều khi “giận cá chém thớt”… Đó cũng là sống, nhưng là một sự sống vụn vặt, rời rạc. Sự sống ấy không có một mạch sống liên tục, sự sống ấy không có đủ sức mạnh để vươn lên và tuôn trào, sự sống ấy quá mềm yếu mà một chút chuyện ngoài đường cũng có thể xâu xé được.
Có khi ta xem phim, gặp thấy những con người “trợ lý giám đốc”, xum xoe trước mặt giám đốc, dạ dạ vâng vâng, xoa tay xoa chân,… mà không có một bản lãnh hay một lập trường độc lập nào. Người ta gọi đó là những kẻ “bợ đít”. Đó cũng là hình tượng của những quan thái giám ngày xưa trong cung đình. Sự sống ấy là sự sống không có “xương”, không có đủ “gân cốt” để đứng trên đôi chân của mình; đó là sự sống “bị thiến”, sự sống “công công”.
Có khi ta thấy những bạn trẻ, hùa nhau để ăn chơi, hùa nhau để đua xe, hùa nhau để phá làng phá xóm… Nhưng thật ra, trong cả nhóm chỉ có một anh mạnh miệng, chỉ có một anh nắm đầu và lôi kéo tất cả… Ta thấy nơi đó cả một đám đông đoàn lũ, sống theo đuôi người khác. Đây lại là thứ sự sống dựa dẫm, không dám quyết định và bày tỏ chính cảm nhận, chính suy nghĩ của mình; những người ấy chỉ biết nói theo, làm theo, ăn theo, chơi theo những kẻ mạnh miệng.
Có khi ta thấy những con người luôn sống trong nỗi sợ, những nỗi sợ vụn vặt, sợ đủ mọi thứ chuyện : sợ người này giận, sợ người kia la mắng, sợ buổi lễ không đúng ý người khác, sợ bị hiểu lầm… Đó cũng là sự sống, nhưng là sự sống yếu ớt, èo uột, biểu lộ một nhân cách dúm dó.
Có khi ta thấy một người đàn ông thành công trong nhiều việc, có công danh, có sự nghiệp, có khi lại còn đầy uy tín ngời xã hội… nhưng lại có một sự tỷ mỷ đáng thương, khiến cho những người trong gia đình không thể chịu nổi; ông ta xăm soi từng việc tỷ mỷ, nhớ dai từng lỗi lầm, trì chiết từng khuyết điểm nhỏ… Đó cũng là sự sống, nhưng là một sự sống nghèo nàn, khô héo…
Tất cả mọi hình thức của sự sống ấy đều như hướng tới một cách giải quyết một vài vấn đề nào đó xẩy ra trong cuộc đời; và có vẻ những cách giải quyết ấy cũng có được một sự thành công nào đó : bảo vệ được “cái ghế” của mình, khỏi bị rắc rối trong mối tương quan với bạn bè, bảo vệ cho đời sống được ổn thoả trong từng chi tiết… Nhưng những hình thức sống ấy lại bộc lộ một khiếm khuyết nào đó, bộc lộ một sự méo mó lệch lạc trong nhân cách. Đó chính là sự méo mó của một đời người thiếu ý nghĩa chân chính đích thực. Đó là một sự sống chỉ mới tìm thấy khả năng thích nghi để tồn tại, chứ không phải là một sự sống triển nở phong phú và trổ sinh hoa trái của một nhân cách sung mãn.
Con người là một thực tại hết sức phức tạp, không chỉ phức tạp trong cơ thể, nhưng trên hết là một sự phức tạp do tinh thần; đến độ khi ta trao cho con người bất cứ điều gì, tốt hay xấu, thì đều có thể đưa đến những kết quả “bất ngờ”; nghĩa là có thể đưa đến những kết quả tốt mà cũng hoàn toàn có thể đưa đến kết quả xấu. Đồng tiền, ngôi nhà, tình bạn, tài năng… đều có thể hoặc tốt hoặc xấu; tốt cho người này mà lại xấu cho người khác, tốt trong hoàn cảnh này, nhưng lại xấu trong hoàn cảnh khác… Do đó, ta có thể nói thách đố chính yếu của cuộc sống con người chính là thách đố của sự hàm hồ. Hoặc nói cách khác, trách nhiệm lớn nhất của con người là tìm được một ý nghĩa chân chính, ý nghĩa duy nhất cho trọn cuộc đời mình. Con người cần một sự sống toàn diện, nghĩa là cần một nguyên lý sống chân thật có khả năng thống nhất và làm phong phú trọn vẹn cuộc sống của mình.
Nguyên lý sống ấy có thể tìm thấy ở đâu ?
3. Tình yêu, nguyên lý của sự sống đích thực
Nhưng chúng ta có thể đặt vấn đề kỹ lưỡng hơn một chút : con người cũng có thể có nhiều loại ý nghĩa trong cuộc đời : ý nghĩa một việc làm, ý nghĩa một ơn gọi, ý nghĩa một sáng tác nghệ thuật…; thế thì đâu là ý nghĩa thật sự mạnh hơn cả trong con người ? Chúng ta có thể trả lời rằng chính tình yêu là loại ý nghĩa sâu xa và mạnh mẽ hơn tất cả. Tình yêu là một nguồn mạch sức sống phong phú vô tận; tình yêu là nguồn mạch của nghệ thuật, của giá trị nhân văn, nguồn mạch của biết bao hoạt động kinh tế… trong cuộc sống. Tình yêu là ý nghĩa có thể thống nhất tất cả mọi ý nghĩa khác của đời sống con người. Thi sĩ Virgile, trong tập Bucolica nói rằng : “Omnia vincit amor” (tình yêu vượt thắng tất cả); và ông còn thêm : “Et nos cedamus amori” (và cả chúng ta hãy khuất phục trước tình yêu).
Trong sách Diễm Ca, chúng ta đọc được một lời ca tụng sức mạnh của tình yêu :
“Phải, tình yêu mãnh liệt như tử thần, cơn đam mê dữ dội như âm phủ. Lửa tình là ngọn lửa bừng cháy, một ngọn lửa thần thiêng. Nước lũ không dập tắt nổi tình yêu, sóng cồn chẳng tài nào vùi lấp. Ai đem hết gia tài sự nghiệp mà đổi lấy tình yêu, ắt sẽ bị người đời khinh dể.” (Dc 8,6-7)
Như thế, chúng ta hiểu được ý nghĩa của khẳng định nhân học căn bản trong Kinh Thánh : Con người được sáng tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa; chúng ta hiểu được tại sao Thiên Chúa muốn cứu độ chúng ta không bằng sức mạnh nào khác hơn sức mạnh của một tình yêu lớn nhất : "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình". (Ga 15,13); và hiểu được đời sống đức tin cũng có thể được gồm tóm lại trong ý nghĩa của tình yêu : "Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại ; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy".(Rm 13,10).
Tình Yêu là khát vọng tuyệt đối
1. Ý nghĩa cuộc đời
Sức mạnh của con vật được thống nhất trong bản năng bảo vệ sự sống, đó là bản năng sinh tồn của con vật. Chính bản năng sinh tồn là sự thống nhất làm nên tất cả sức mạnh của con vật, và mục đích của bản năng ấy là để bảo vệ sự sống cho bản thân nó.
Cũng vậy, tình yêu nơi con người mới có khả năng thống nhất tất cả cuộc sống và làm nên sức mạnh lớn lao nhất của một con người. Tuy nhiên, tình yêu nơi con người lại là một sự thống nhất bản thân để hướng tới ai khác. Sống là sống vì ai khác, đó là khác biệt lớn nhất giữa con người với con vật; hoặc ta cũng có thể nói đó là khác biệt căn bản giữa sự sống con người với sự sống con vật, sự khác biệt nằm ở phẩm chất của tình yêu. Tình yêu mang lại ý nghĩa căn bản cho một đời người, và ý nghĩa cuộc đời con người, một thứ mà chỉ con người có tự do và tình yêu mới có thể có được, làm cho con người có thể ra khỏi bản thân mình chứ không nhốt kín bản thân trong sự sống của chính mình. Khi yêu và yêu chân chính, người ta được thôi thúc, để gom góp toàn vẹn bản thân mình mà trao ban trọn vẹn cho ai khác.
Trong ý nghĩa ấy, ta mới thấy được tình yêu không phải là một chút trang trí hoa lá cành cho cuộc sống, yêu không phải là món đồ chơi xa xỉ của đời sống con người; nhưng yêu là khả năng nối kết mọi thành phần của con người phức tạp để làm nên một ý nghĩa thống nhất xứng tầm của con người, và ý nghĩa đó chính là sự trao tặng chính bản thân mình cho người mình yêu. Yêu không phải là điều gì thêm vào cho cuộc sống có thêm một chút hương vị, nhưng yêu là chính ý nghĩa của sống con người; sống trọn vẹn là sống bằng tình yêu. Yêu là sự sống đích thực, sung mãn nhất của mức độ con người, vì chỉ khi biết cho đi chính bản thân mình trong tình yêu, con người mới thực sự tìm gặp lại được chính mình. Công Đồng Vatican II nói :
"…Con người, tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ, chỉ có thể gặp lại chính bản thân mình nhờ thành thật hiến thân” (MV 24)
2. Tình yêu giúp con người đạt đến biên giới của tuyệt đối
Chỉ tình yêu mới có thể giúp con người thực hiện được khát vọng tuyệt đối sâu xa trong con người. Tình yêu chính là nguyên lý làm cho đời sống con người được thống nhất và phát triển, cũng như đáp ứng được khát vọng sâu xa nhất của con người. Bởi vì cái gì là cứu cánh thì cũng là nguyên lý; và cái gì là nguyên lý thì cũng là cứu cánh. Nếu con người khao khát tình yêu như cứu cánh của đời mình, thì nguyên lý giúp con người đi đến cứu cánh đó cũng phải là sức mạnh của tình yêu; và nếu ta xác tín tình yêu là sức mạnh chính yếu của con người thì điều đó cũng mở ra chân trời của cứu cánh đời người, tức là một thế giới yêu thương đang chờ đợi. Không ra khỏi con người của mình, dù con người có đạt đến mức độ thành công lớn lao đến đâu, thì tất cả cũng sẽ tiêu tan trước giới hạn căn bản của cái chết. Nhưng tình yêu lại có khả năng giúp con người có thể ra khỏi bản thân, nghĩa là sống vì ai khác để cuối cùng có thể trao ban chính bản thân mình vì sự thành đạt của ai khác. Cái chết, bình thường, là một sự phát hủy tất cả mọi thành quả mà người ta gom góp được trên đường đời; nhưng một người chết vì tình yêu thì lại thể hiện ý nghĩa một kẻ dám vét hết cuộc đời mình để cho đi, để dâng tặng cho người mình yêu thương. Đó mới là tuyệt đỉnh của phẩm giá con người.
“Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”.(Ga 15,12-13)
Chính vì thế, tình yêu có giá trị như cửa ngõ mở ra trước siêu việt, đụng đến biên giới của tuyệt đối. Chẳng hạn người ta có thể thấy được một số chuyện “động trời”, theo nghĩa là đụng chạm đến được biên giới của tuyệt đối trong đời sống con người, do sức mạnh của tình yêu : chẳng hạn người mẹ dùng chính máu của mình để nuôi con trong khi bị chôn vùi trong đống đá của một cơn động đất; chẳng hạn một người cha bỏ việc làm ở đồng quê để lên thành phố làm nghề đạp xích lô để có tiền cho con ăn học, chẳng hạn một người mẹ đóng từng viên gạch đất để có thể xây nhà cho con …
3. Nhờ Tình yêu của Chúa để sống trọn tình yêu
Thiên Chúa đã sáng tạo con người con người giống hình ảnh Ngài, đó là khẳng định căn bản của khoa nhân học Kitô giáo:
“Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa” (St 1, 27)
Nền tảng nhân học ấy không chỉ có nghĩa là một sự “giống nhau” trong so sánh. Khái niệm “giống như” trong tinh thần của người Do Thái diễn tả một sự gắn bó trong nguồn mạch, là mối liên hệ của một nguồn sự sống. Ý nghĩa trọn vẹn nhất của khẳng định ấy là : con người chỉ có thể sống trọn vẹn bản chất của mình khi được sống với Thiên Chúa; đó là mối tương quan sinh tử của con người. Chính vì thế, khi từ chối sống một cuộc đời trong mối tương quan thân tình với Chúa, khi chọn giải pháp tự giải quyết đời mình bằng một kỹ thuật sống để nên như thần thánh, con người sa vào bẫy của mưu chước satan :
“Con rắn nói với người đàn bà : “Chẳng chết chóc gì đâu ! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (St 3, 4)
Hậu quả của tội tổ tông là con người không còn đủ năng lực để sống trọn ý nghĩa yêu thương thôi thúc sâu xa trong tâm hồn. Vận mạng con người đi vào con đường cụt, con đường của sự chết : thù hằn, giết chóc, bất hòa, …. (Xc. St 3 - 11)
Do Thái Kitô giáo không phải là một tôn giáo ở bên ngoài, bên trên cuộc sống đời thường, nhưng là nẻo đường sinh tử của vận mạng con người. Tất cả lịch sử ơn cứu độ không là gì khác hơn việc Thiên Chúa thực hiện lời hứa cứu độ con người bằng việc nối lại mạch sống yêu thương cho con người, nhờ vào một nhân vật : Dòng Dõi Người Nữ (Xc St 3,15). Đức Benedicto XVI mở đầu thông điệp “Tình Yêu Thiên Chúa” bằng những lời trích trong thư Gioan I : “Thiên Chúa là tình yêu; ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1 Ga 4,16); rồi ngài giải thích rằng điều thánh Gioan diễn tả “làm nên trọng tâm đức tin Kitô giáo… (…). Thêm nữa, cũng ngay trong câu đó, thánh Gioan đưa ra cho chúng ta một công thức tóm tắt đời sống Kitô hữu : “Chúng ta đã nhận biết và tin vào tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta” (số 1).
“…nhận biết và tin vào tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta”, đó không là gì khác hơn nhận biết và tin vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã yêu thương chúng ta, đã chịu chết cho chúng ta, và đã thông chia sự sống yêu thương của Ngài cho chúng ta :
“Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”.(Ga 15,12-13)
Quả thật, nếu không nối lại được mạch sống yêu thương của Thiên Chúa, con người luôn khát vọng yêu thương, những cũng luôn luôn bị lôi kéo sống trong ích kỷ; con người có thể yêu thương người này hết mình, nhưng lại ghét người khác; con người nhiều khi sống tình yêu, nhưng lại luôn thể hiện bằng những phương cách lệch lạc như ghen tuông, như chiếm hữu, như thống trị; con người đôi khi có thể sống tình yêu thương “động trời”, nhưng lại chấm dứt đời mình trong sự phi lý của cái chết.
Chỉ có Thiên Chúa mới có thể đưa nẻo đường yêu thương của con người đến đích, chỉ Thiên Chúa mở cánh cửa yêu thương của con người hướng về khát vọng tuyệt đối.
Tình yêu, đơn giản và toàn vẹn
1. Tình yêu và tội lỗi, đơn giản và phức tạp
Mặc khải Thánh Kinh cho chúng ta biết tất cả vạn mạng của cuộc sống con người đều nằm trong câu chuyện về tình yêu, tình yêu giữa Thiên Chúa với con người và tình yêu giữa con người với nhau. Tất cả nguồn ơn phúc của con người là được sáng tạo giống hình ảnh Thiên Chúa, để sống trong mối tương quan yêu thương với Thiên Chúa và nhờ đó mà có thể yêu thương nhau. Đó là điều thật “đơn giản” trong bản chất con người. Mặt khác, tất cả mọi tai họa của cuộc sống con người, giết chóc, chia rẽ, hận thù, bất công,… cũng đều xuất phát từ lựa chọn đi ra ngoài nẻo đường của tình yêu. Đi ra ngoài con đường “đơn giản” ấy, con người bước vào một thế giới quá “phức tạp”. Quả thật, cuộc đời con người đơn giản quá nhưng cũng phức tạp quá. Cái đơn giản của bản chất và cái phức tạp của hiện tượng. Theo Kinh Thánh, cái đơn giản đó chính là tình yêu thương và cái phức tạp đó chính là hậu quả của tội lỗi. Trong thế giới của tội lỗi, cái phức tạp che mờ cái đơn giản.
Trong cuộc sống trần gian hiện nay, chúng ta đối diện với một thế giới hết sức phức tạp. Cái phức tạp của cuộc sống biểu lộ trong biết bao nhiêu học thuyết triết học và tôn giáo mong ước tìm con đường giải thoát khác nhau cho con người : siêu thoát, giác ngộ, khôn ngoan, đức độ… Cũng thế, chắc chắn là mỗi con người, trong cuộc vật lộn sống còn với cuộc đời, cũng đã tự hình thành cho mình một phương trình giải quyết, một cách minh nhiên hay mặc nhiên, theo nhiều đường hướng khác nhau : tôi phải có tiền, tôi phải khôn ngoan, tôi phải có uy tín trong dịa vị hoặc trong đức độ… Quả thật tội tổ tông, làm nên một thế giới phức tạp che mờ cái đơn giản, chưa bao giờ vắng mặt trong cuộc sống con người và trong hành trình của mỗi người.
Những con đường của sự “phức tạp” thường tỏ ra có những hiệu quả rõ ràng, mong chóng và hợp lý, chúng giống như những cánh cửa mở ra ngay đến bờ bến của thiên đường. Trong khi đó, nẻo đường “đơn giản” thì lại mờ mờ ảo ảo, chất chứa đầy những nguy cơ trước mắt, và có vẻ như đằng sau cánh cửa nó còn cả một con đường dài, vòng vèo, đầy chướng ngại.
Con đường của sự “phức tạp” lại có vẻ như rất đơn giản. Con đường của sự “đơn giản” lại xuất hiện trong bộ mặt quá phức tạp. Cái nào là thật ? Cái nào là quảng cáo ? Có phải “văn minh quảng cáo” là một thứ văn minh có nguồn gốc từ bản chất người và có dính dáng đến vận mạng sống còn của con người ? Điều mà Satan nói với bà Evà chẳng phải là một thứ quảng cáo sao !
“Con rắn nói với người đàn bà : “Chẳng chết chóc gì đâu ! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (St 3, 4)
2. Tình yêu, đơn giản và toàn vẹn
Kitô giáo chọn con đường của tình yêu, con đường đơn giản, mặc dù nó dẫn đưa qua những nẻo đường phức tạp. Con đường yêu thương là liên lụy, là hy sinh, là phải chết, “chết trong lòng một tý” hoặc nhiều khi là chết cả một cuộc đời. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói : “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”, đó là một điều quá đơn giản. Nhưng cái hay nhất của tấm lòng đơn giản ấy lại là “để làm gì em biết không, để gió cuốn đi, để gió cuốn đi”. Để gió cuốn đi thì phức tạp lắm, vì đó là một cuộc phiêu lưu mà ta không nắm được đàng chuôi bao giờ. À thì ra cái đơn giản của tình yêu là sự đơn giản của đôi cánh, đôi cánh bay vào bầu trời bao la kỳ diệu và đầy phức tạp, chứ không phải đơn giản của cục sắt hay cục vàng được cất kỹ trong ngăn tủ. Cái đơn giản của sự phong phú khác xa với cái đơn giản của sự nghèo nàn.
Tiêu chuẩn của cái đơn giản đích thực phải là tính cách bao dung và phong phú. Cái đơn giản đích thực phải gồm gói được tất cả mọi thực trạng của đời sống con người và làm tăng triển mọi năng lực tích cực của bản chất người. Đơn giản nhưng phải toàn vẹn, chứ không phải cái đơn giản do lấy một thành phần nào đó, đề cao nó lên, loại trừ những điều khác một cách khiên cưỡng.
Mặc dù trọng tâm của Kitô giáo chỉ hết sức đơn giản là yêu thương, nhưng tất cả lịch sử Giáo Hội vẫn không ngừng tìm cách thông hiểu mỗi ngày mỗi trọn vẹn hơn mà chẳng bao giờ có thể thấu được trọn vẹn. Giới luật yêu thương đơn giản như thế, nhưng lại bao hàm tất cả mọi chi tiết phức tạp của cuộc sống con người. Thánh Phaolô cho chúng ta một bài ca Đức Mến tuyệt diệu, diễn tả được sự đơn giản của tình yêu :
“Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả.
Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi (…).
Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến. (1 Cr 12,31-13,1-3.13)
Thế nhưng, dù bản chất của đức Mến thì đơn giản, những vận hành của nó lại không đơn giản chút nào. Đức Mến tuy dễ mà khó, và tuy khó mà dễ. “Dễ” vì tự đáy lòng con người, ai cũng khao khát yêu thương, nhưng “khó” vì con người chẳng đủ sức đi trọn hành trình yêu thương, vì con người vẫn bị cám dỗ do một thứ “dễ dãi” giả tạo, do những thứ “có vẻ đơn giản” bày ra cho mình. Thánh Phaolô cho thấy đức Mến những hoa trái của đức Mến được diễn tả trong nhiều khía cạnh của cuộc sống :
“Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả”. (1 Cr 13, 4-8).
Giáo Hội vẫn hiểu trọng tâm của đời sống đức Tin là đức Mến, nhưng trong lịch sử, đời sống của Giáo Hội vẫn không ngừng giao động giữa “trọng tâm” và “ngoại biên”, nghĩa là lúc thì giữ đức Mến, nhưng lại không diễn tả được trọn vẹn trong đời sống; và có lúc thì tìm ra nhiều cách diễn tả đức Mến nhưng lại không còn bóng dáng thực sự của đức Mến.
3. Sống tình yêu bằng niềm tin
Thật ra, trong Kitô giáo, chính Thiên Chúa đã “giải quyết” cái khó của con người, khi Ngài ban cho chúng ta chính tình yêu của Ngài trong Đức Giêsu, tình yêu lớn hơn mọi tình yêu. Cái “khó” đã trở nên cái “dễ”. Dĩ nhiên, cái “dễ” này lại cũng không phải là “dễ dãi”, vì nó luôn thôi thúc con người hy sinh chính bản thân mình theo như tình yêu của Chúa…
Chính niềm Tin là cây cầu nối kết giữa cái đơn giản và cái toàn vẹn. Niềm tin như là sự gắn bó bản thân mình với tình yêu lớn lao của Thiên Chúa trong Đức Kitô sẽ mở ra lộ trình của đức Cậy, giúp người tín hữu có thể hành trình trên nẻo đường yêu thương trọn vẹn, dù vẫn nhận ra sự phức tạp, nhận ra nẻo đường tình yêu còn dài hun hút. Trong niềm Tin, hành trình đức Mến lúc nào cũng ở trạng thái vừa “đang đi” vừa “đã đến”; đã “đến” rồi nhưng vẫn cứ phải tiếp tục “đi”. Tâm trạng của người sống đức Mến lúc nào cũng vừa bình an, vừa khao khát; bởi vì hơn hết mọi lãnh vực khác, chính nơi đức Mến, con người thể hiện trọn vẹn nhất bản chất của đời người như là một cuộc lữ hành..
Tình yêu : “Ở trong nhau”
1. “Ở trong” và “ở ngoài”
Hình như vật gì ở trần gian này cũng có cái ở trong và cái ở ngoài, có mặt trái và mặt phải, có hình thức và nội dung… Và hình như ở trần gian “giả trá” này, vẫn thường có một sự đối nghịch giữa cái bên trong và cái bên ngoài. Cũng có đôi khi ta thấy cuộc đời diễn ra theo một qui luật thuận “con lợn có béo thì lòng mới con”; nhưng thường hơn ta sự thật cuộc đời là một qui luật nghịch : “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, “chiếc áo không làm nên thầy tu”, “ngọt mật chểt ruồi”…
*”Cái bên ngoài”
Cái bên ngoài là cái ta có thể nhìn thấy, đụng chạm đến cách trực tiếp. Cái bên ngoài thường là cái rõ ràng, sáng sủa; nó lù lù ra đấy như một sự vật chiếm hết cái nhìn của ta, nó lồ lộ ra đấy như một cuộc biểu diễn thu hút hết sự chú ý của ta. Cái bên ngoài có vẻ như muốn áp đặt giá trị của nó trên nhận định của ta. Cái bên ngoài cũng là cái dễ thay đổi, có thể đổi trắng thay đen, trôi nổi theo dòng đời. Nó là sự thật không có chân, không có rễ, không gắn vào sự sống đích thực. Nó thường là lớp áo che đậy nhiều hơn là tỏ lộ thật sự. Do đó, cái bên ngoài thường là một thứ vinh quang được nhìn nhận từ những người khác. Cái bên ngoài thường làm nên danh giá, địa vị, …
Cuộc sống xã hội thường là những tương giao dựa trên cái bên ngoài. Có rất nhiều cuộc gặp gỡ, một công trình hợp tác, nhiều đoàn hội… ra vẻ như một sự gắn bó bền chặt, nhưng thật ra chỉ là những tương giao “bên ngoài” với nhau.
* “Cái ở trong”
“Cái ở trong” là điều ta thường không thấy rõ, không thấy ngay, không thấy lồ lộ ra đấy. Cái bên trong gắn liền với giá trị thật của chính mình nên nó thường vững bền, là căn cốt cho cái bên ngoài. Cái bên trong thường được dùng để diễn tả thực chất của một con người hay một sự vật nào đó. Muốn hiểu được cái bên trong, người ta phải có một độ “sâu sắc” nào đó, vì thế cái bên trong thường chỉ được một số ít người thấu triệt.
Đối với các sự vật khác, với một chút chú tâm, người ta có thể xác định được đâu là cái bên ngoài, đâu là cái bên trong. Đối với con người, ta đứng trước một sự biến ảo kỳ lạ, khó có thể biết chắc được đâu là cái bên ngoài, đâu là cái bên trong. Việc thiết lập mối tương giao giữa con người với nhau một cách trọn vẹn phải đến được tới “cái bên trong” của con người, nhưng đó là điều không phải dễ dàng.
2. Tình yêu đi vào “cái bên trong”
Thật ra, để đến với người khác một cách trọn vẹn, con người phải ra khỏi bản thân mình, nghĩa là không còn lấy mình làm trọng tâm, không còn sống theo kiểu kinh doanh lợi lộc cho bản thân mình bằng những mối tương giao với người khác, không còn cho sự thành đạt của mình là trên hết. Người cha/mẹ, khi nào nhận ra đời mình chẳng ra sao cũng được, miễn là con mình được nên người, thì khi ấy mới sống hết phẩm chất yêu thương của một người cha/mẹ thực sự. Như thế, “ngõ ra” khỏi bản thân không ở đâu khác mà chính là con tim. Cần phải đi từ trái tim để đi vào “cái ở trong” của ai khác.
* Đến với cái bên trong nhờ “có cảm tình”
Người ta kể tiểu sử một con người, người ta thường ghi dấu những chặng đường bằng những xác định không gian và thời gian : sinh ra ngày nào, ở đâu, thi đậu ngày nào, và lên chức gì… Đó là những ghi nhận “khách quan” về một con người. Nhưng ghi nhận ấy có vẻ như cho người ta biết rõ về một con người. Nhưng thật ra, bình thường, những ghi nhận ấy chỉ là những lớp vỏ bên ngoài, không cho thấy được mạch sống của một con người. Chỉ người nào đã được đón nhận lời chia sẻ thân tình, chỉ người nào cùng trăn trở với anh ta trong công việc, chỉ người nào cảm được nỗi lòng của anh ta,… thì mới có thể thực sự “hiểu” được hành trình anh ta đã đi. Đây là lối hiểu tận bên trong.
* Ở trong nhau là đón nhận những những biến chuyển nhỏ của nhau
Một người mẹ, khoe với hàng xóm rằng đứa con của mình mọc hai cái răng. Người hàng xóm dửng dưng, với sự kiện đó, vì mọc hai cái răng có gì quan trọng đâu. Người hàng xóm không cùng sống, cùng chia sẻ từng bước phát triển của một đứa bé, đứa bé đó không phải là con của mình. Chỉ người mẹ, nâng niu bú mớm cho con từng ngày, mới có thể vui được vì con mọc răng. … Ta có thể nói được rằng sự hiệp thông được thể hiện rõ nhất khi người ta hiệp thông được trong những điều nhỏ nhất của người khác.
* Ở trong nhau nhờ quá trình lịch sử
“Ở trong nhau”, bình thường điều đó được thành hình nhờ một quá trình. Khi người ta cùng chia sẻ với nhau một ưu tư, cùng liên lụy với nhau trong một hành trình gian khó, cùng đón nhận những thành công hay thất bại như một kết quả chung,… khi đó, dần dần, như hai sợi giây bện vào nhau, tâm tình của hai người có thể trở thành một. Yêu thương là đón nhận được những điều bé nhỏ của nhau. Điều đó chỉ có được khi người ta “ở trong” nhau, nghĩa là liên lụy với nhau trong một quá trình lịch sử. Cùng đồng hành trong một quá trình lịch sử người ta mới có thể đón nhận được những thành quả của nhau và chia sẻ những khó khăn của nhau.
* Ở lại trong nhau là đón nhận huyền nhiệm cuộc đời của nhau
Khi ta đứng ngoài ta thường rơi vào cám dỗ giải thích cuộc đời của người khác một cách minh bạch, hợp lý; nhưng đó là cách nhìn không chính đáng, vì cuộc đời của một con người là một huyền nhiệm. Huyền nhiệm không phải là điều có thể giải thích rõ ràng, nhất là không bao giờ có thể được giải quyết như một vấn đề. Chỉ có sự tôn trọng tha nhân như một huyền nhiệm ta mới có thể nhận ra được những điều kì diệu trong một con người và trong một cuộc đời. Khi chiêm ngắm tha nhân như một huyền nhiệm, ta có thể khám phá ra muôn vàn điều kỳ diệu hơn ta tưởng. Như thế, cuộc đời con người mới thực sự được đối xử xứng đáng với phẩm giá một con người thực sự.
Như thế, khi ở trong nhau, người ta đón nhận tha nhân như một ngôi vị chứ không phải như một sự vật hay như một bài toán. Thấm nhập vào huyền nhiệm, đó là một sự trân trọng huyền nhiệm một cuộc đời. Chỉ có tình yêu trân trọng như thế mới xứng đáng để đến với tha nhân..
3. Ở lại trong tình thương của Thầy…
Chúa Giêsu, trong Tin Mừng Gioan, nhiều lần nói đến việc “ở trong”, hay “ở lại trong”. Chúa Giêsu cho thấy nguồn mạch của sự hiệp nhất là sự kiện chính Ngài ở lại trong tình thương của Chúa Cha; để rồi Ngài cũng mời gọi các tông đồ ở lại trong tình thương của Ngài :
“Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy”. (Ga 15,9; Xc. Ga 6,56; 8,31; 15, 4-7.10…)
Từ ngữ của thánh Gioan có phần của một kinh nghiệm riêng, kinh nghiệm thần bí khó có thể thấu triệt; nhưng dù sao, Tin Mừng vẫn luôn là một lời loan báo Tin Mừng, nghĩa là một lời mời gọi chúng ta, bằng sự dấn thân vào mối tương quan thân tình với Chúa Giêsu, để dần dần khám phá ra huyền nhiệm sâu xa của tình yêu, huyền nhiệm ở trong Chúa. Thánh Phaolô cũng sống kinh nghiệm ấy khi nói :
"Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi.(Gl 2,20)
Có nhiều người Kitô hữu sống với Chúa nơi “cái ở ngoài”. Đó là thứ “đạo sinh hoạt”, đạo chỉ là tham dự những sinh hoạt đạo được tổ chức. Đức Giêsu mời gọi chúng ta “ra khỏi bản thân”, sống bí tích Rửa tội, nghĩa là chết cho con người cũ; để sống một cuộc sống mới, trong đó, chính đức Kitô sống trong tôi. Con đường ấy phải khởi đi vào lộ trình của tình yêu, của Đức Mến.
Tình yêu tự hủy
1. “Sức nặng” của tình yêu
* Cái “nặng” và cái “nhẹ”
Cái nặng là cục sắt; cục sắt nặng nên nằm yên một chỗ và không dễ gì di chuyển nó được. Cái nặng là cục vàng; cục vàng thì cũng nằm yên một chỗ; cục vàng còn được người ta cất kín trong két sắt và chẳng mấy khi được chu du giữa trời đất mênh mông. Cái nặng lúc nào cũng có tình trạng “an vị”, tự tại với chính mình và đòi cái gì khác phải đến với nó chứ nó không tự đến với cái khác được. Người “nặng ký” thì cũng vậy, người nặng ký thì được bảo vệ kỹ lưỡng, trong vòng an ninh chặt chẽ, vòng trong vòng ngoài… Người “nặng ký” chẳng dễ gì có thể đến được những nơi vùng sâu vùng xa, chẳng dễ gì gặp được những người “đầu đường xó chợ”, chẳng dễ gì thông cảm hay chia sẻ được với những phận người đau khổ. Lâu lâu người nặng ký làm một cuộc xuất du thì cuộc xuất du ấy cũng được dàn dựng với tất cả sự cồng kềnh của một bộ máy an ninh và “điếu đóm”. Cái nặng thì đầy oai phong và luôn giương oai với cái khác, nhưng cái oai phong ấy lại làm cho nó khó gắn với cái khác. Cái nặng luôn có khuynh hướng đơn độc một mình, oai phong một mình, mình với mình mà thôi. . .
Cái nhẹ là cục bông gòn, bay theo làn gió nhẹ, bồng bềnh lên xuống theo cơn gió. Cái nhẹ là hạt bụi, hạt bụi bị xua đuổi khỏi những nơi sang trọng, bị tống khứ ra những nơi tồi tệ và bẩn thỉu nhất. Cái nhẹ thì không có gì để an vị, tự tại với chính mình cả. Cái nhẹ suốt đời là kẻ viếng thăm cái khác mà lại chẳng mấy khi được cái khác viếng thăm. Cái nhẹ luôn khao khát đáp xuống một cái gì đó, luôn cần gắn với một cái khác, nhưng lại chẳng được những nơi sang trọng đón nhận. Người nhẹ “tép riu” cũng giống như cục bông gòn, giống như hạt bụi, họ có thể phiêu lưu như kẻ không nhà. Họ không có hành lý cồng kềnh, họ không có sự an toàn bao bọc, họ không có những vật quí giá cần phải bảo vệ, họ không sợ bị xầy xước khi giao tiếp, …Họ nhẹ bồng trên đường phiêu lưu và có thể đến được với ai khác, nhất là những nơi cùng khổ.
Tình yêu thương thường không phải là “cái nặng” nhưng chính là “cái nhẹ”; người biết yêu thương cũng thường là những con người “nhẹ ký”, không quá quan tâm bảo vệ cái tôi sang trọng của mình và như thế nên có thể đến được với người khác. Người ta thường thích nổi tiếng, thường thích trở nên quí giá, thường thích là nhân vật quan trọng, thường thích được người khác chú ý đến mình… những cái thích như thế không mở đường đi vào tình yêu được, nhưng chúng là những tảng đá ngăn chận nẻo đường tình yêu. Thứ yêu thương của những người như thế là những bước đi khệnh khạng, những “đám rước” rầm rộ, những biểu ngữ huyênh hoang, những thứ trình diễn tình yêu mà rất khó đi vào sự thân mật.
* Cái “thấm nhập” và cái “cưỡng bức”
Cái nặng thì “cưỡng bức”, nó đè bẹp, trấn áp, xô đẩy từ bên ngoài; cái cưỡng bức thì có sức mạnh để có thể bắt cái khác phải ở đúng vị trí mình muốn, vận hành theo đúng cách thức mình muốn. Cái cưỡng bức làm chủ được thân thể của cái khác, những lại không tạo được một sự hòa hợp sâu xa. Cái cưỡng bức thường làm nên một trật tự bên ngoài, nó có khả năng uốn nắn cái khác theo ý mình, sắp xếp để mọi sự ăn khớp với nhau theo một quy hoạch tổng thể … Nhưng cái cưỡng bức không thể làm nên được cái “duyên” nội tại, cái “hòa” một cách kỳ lạ và cái kỳ diệu một cách sáng tạo. Cái cưỡng bức thường làm nổi bật cái tổng thể, nhưng lại làm chìm mất cái cá biệt độc đáo. Con người có khả năng cưỡng bức là một kẻ độc tài, là người thống trị người khác bằng sức mạnh của cơ bắp, hoặc quyền bính, tạo nên nơi người khác một nỗi sợ; là người chinh phục người khác bằng tại năng làm cho người khác phải lép vế và rơi vào tình trạng khúm núm, e dè; là người “loé sáng” bằng đức độ khiến người khác phải chói mắt, lùi xa như một thứ “kính nhi viễn chi”, và mất tự tin để có thể tự mình sống cuộc đời của mình.
Cái “thấm nhập” thì thường là cái nhẹ nhàng, nó “chinh phục” không phải bằng một sự cưỡng bức bên ngoài, nhưng là một sự hòa hợp từ bên trong. Cái thâm nhập không phải là một dị vật trong cơ cấu hữu cơ của điều nó thâm nhập, nhưng tan biến và trở nên một với cái nó thâm nhập. Cái thâm nhập thì không còn giữ nguyên hình dáng của mình, nhưng biến hóa để thấm nhập và cấu tạo nên một cơ cấu hữu cơ với cái khác. Người có khả năng “thấm nhập” là người được người khác đón nhận một cách tự nguyện, được yêu bằng chính ý muốn tự do của người khác. Người thấm nhập là người để lại một chút vấn vương, một chút thi vị, một chút thăng hoa trong tâm tình của người khác.
Cái cưỡng bức không thể mang lại tình yêu được. Cái cưỡng bức chỉ có thể làm nên tình trạng “đồng nhi bất hòa”. Ngược lại, tình yêu thì phải được thấm nhập, một cách nhẹ nhàng, một cách thi vị, một cách an hòa. Tình yêu làm nên một nét duyên riêng của cấu trúc “hòa nhi bất đồng”.
* Cái “hiệp lực” và cái “đối lực”
Cái cưỡng bức thì phải mạnh để có thể đàn áp. Cái cưỡng bức thì coi sức mạnh của cái khác như một đối lực. Cái khác mạnh thì có nguy cơ làm cái cưỡng bức bị suy yếu, nên cần phải tiêu diệt sức mạnh của cái khác bằng tất cả mọi biện pháp cưỡng bức. Cái khác ấy là một “đối lực” làm trì trệ vận hành của cái cưỡng bức. Cái cưỡng bức luôn có khuynh hướng nghi ngờ, luôn tăng gia biện pháp đề phòng, luôn đặt ra thật nhiều đòi hỏi, đòi hỏi của luật lệ chi ly, đòi hỏi của phép tắc khó khăn, đòi hỏi cứ càng ngày càng gia tăng thêm nhiều quy định.
Cái “hiệp lực” thì lại đón nhận được sức mạnh của cái khác, sức mạnh được gia tăng trong sự hiệp thông, tình nghĩa được bền chặt trong mối giây tình nghĩa. Cái hiệp lực cần nhờ đến nhau như sức hút của nam châm khác cực, nghĩa là có khả năng đón nhận, có khả năng thấm nhập, có khả năng hiệp nhất sức mạnh của hai bên.
Người sống với người khác như một đối lực là người có khuynh hướng trở thành bạo chúa, luôn có những người để mình loại trừ, luôn bắt người khác làm theo ý mình, luôn đề cao trật tự bên ngoài, luôn coi sự phát triển của người khác là mối đe dọa cho chính mình. Ngược lại, người sống trong tinh thần “hiệp lực” thì lại có thể nhờ đến người khác; coi sự phát triển của người khác là điều tốt đẹp cho chính mình.
2. Huyền nhiệm tình yêu nơi Chúa Giêsu
Nhìn vào Chúa Giêsu, chúng ta thấy Ngài giống như ”cái nhẹ”. Giống như hạt bụi để cho ngọn gió của quyền lực thổi tung :
“Thời ấy, hoàng đế Au-gút-tô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ…". (Lc 2,1-7; x. Mt 4, 12-16).
Nhìn vào Chúa Giêsu, chúng ta thấy Ngài từ chối sức mạnh cưỡng bức để chinh phục người khác. Chúa Giêsu từ chối mọi cám dỗ của Satan để thi hành được lối cứu độ bằng bánh mì, bằng sự lạ và bằng quyền bính (x. Trình thuật Cám dỗ).
“Đức Giêsu bảo người ấy : "Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm” (Mt 26,52)
Ngài chọn con đường của Chúa Cha, con đường hy sinh mạng sống cho bạn hữu. Chúa Cha luôn xác nhận “nẻo được thấm nhập” nơi hành trình của Đức Giêsu; mỗi khi Chúa Giêsu đi theo lộ trình thấm nhập như thế, thì lại có tiếng của Chúa Cha “Đây là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng ta mọi đàng”. Ngài trở nên tấm bánh và ly rượu để thấm nhập trọn vẹn vào người môn đệ…
Nhìn vào Chúa Giêsu, ta thấy Ngài chữa lành bệnh tật, Ngài tha thứ tội lỗi, Ngài đón nhận được những người bị loại trừ, Ngài sống trọn vẹn như một người “mang Tin Mừng cho những người nghèo khó”. Tin Mừng của Ngài không làm cho cuộc sống con người sợ hãi và dúm dó, nhưng mở đường cho các môn đệ được lớn lên, được vững mạnh. Lời Thánh Irênê diễn tả thật tuyệt nét “hợp lực” của tình yêu ấy “vinh quang Thiên Chúa là con người được sống”.
“Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào”. (Ga 10,10)
Thiên Chúa là Tình yêu, và tình yêu Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu được thể hiện trong tất cả những đường nét huyền nhiệm mà ta không thể thấy được nơi đâu khác. Tình yêu của Thiên Chúa là tình yêu “hóa ra không” :
“Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang…” (Pl 2,6-7)