ƠN GỌI VÀ SỨ MỆNH
Thế giới chúng ta đang sống có một sự sa sút rất nhiều về ý nghĩa của đời sống, và cụ thể là sa sút về đời sống luân lý. Để giải quyết tình trạng này, người ta tìm đến những biện pháp của luật pháp, hoặc giáo dục kỹ năng sống, giá trị sống… Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa của tình trạng này chính là một sự trệch hướng căn bản trong nguyên lý của xã hội văn minh : - Xã hội mất căn tính : chẳng hạn trước đây, một người thợ, làm ra một sản phẩm như cách thể hiện chính bản thân mình. Người thợ có một thứ lương tâm nghề nghiệp, nên không thể nào chấp nhận một sản phẩm sai lỗi. Niềm tự hào về bản thân mình như là người thợ, đó là một ý thức lớn hơn, quan trọng nên hiệu năng của sản phẩm để đổi lấy đồng tiền. Chính niềm tự hào đó giúp người thợ tìm được một căn bản nào đó cho ý nghĩa cuộc đời của mình. Trong bầu khí đó, việc làm là một cách thể hiện bản thân, người ta làm việc và người ta khẳng định được bản thân mình một cách nào đó.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
1. Bầu khí xã hội hiện nay
Thế giới chúng ta đang sống có một sự sa sút rất nhiều về ý nghĩa của đời sống, và cụ thể là sa sút về đời sống luân lý. Để giải quyết tình trạng này, người ta tìm đến những biện pháp của luật pháp, hoặc giáo dục kỹ năng sống, giá trị sống…
Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa của tình trạng này chính là một sự trệch hướng căn bản trong nguyên lý của xã hội văn minh :
- Xã hội mất căn tính : chẳng hạn trước đây, một người thợ, làm ra một sản phẩm như cách thể hiện chính bản thân mình. Người thợ có một thứ lương tâm nghề nghiệp, nên không thể nào chấp nhận một sản phẩm sai lỗi. Niềm tự hào về bản thân mình như là người thợ, đó là một ý thức lớn hơn, quan trọng nên hiệu năng của sản phẩm để đổi lấy đồng tiền. Chính niềm tự hào đó giúp người thợ tìm được một căn bản nào đó cho ý nghĩa cuộc đời của mình. Trong bầu khí đó, việc làm là một cách thể hiện bản thân, người ta làm việc và người ta khẳng định được bản thân mình một cách nào đó.
Trong xã hội hiện nay, người ta thấy mối liên hệ khắng khít giữa người thợ và sản phẩm của mình không còn nữa. Người thợ hiện nay làm ra sản phẩm chỉ là để đổi lấy đồng tiền, và mục đích chính yếu là để mua sắm các sản phẩm khác. Hàng hóa trong xã hội thị trường ngày hôm nay quá nhiều, quá phong phú, điều đó khiến cho tâm quan trọng của việc khẳng định bản thân mình bằng những sản phẩm đúng phẩm chất không còn quan trọng nữa. Việc khẳng định bản thân giờ đây tùy thuộc vào những sản phẩm mà con người mua được, sắm sửa được xung quanh mình : nhà cửa, máy mọc, quần áo, xe cộ…. Giá trị của một con người được đánh đồng trong thang giá trị chung, giá trị của đồng tiền mà mình có được, giá trị của hàng hóa xa xỉ mà mình trang bị được cho đời sống của mình…
Ngoài ra, người ta cũng thấy có nhiều hiện tượng gắn liền với hiện tượng xã hội mất căn tính : xã hội duy hiệu năng, xã hội chuẩn hóa… Kết quả đưa đến là ý nghĩa của mỗi con người trở nên quá nhỏ. Mỗi cá nhân chỉ còn là một chi tiết nhỏ trong bộ máy khổng lồ của kinh tế.
Điều này đưa dẫn đến một hiện tượng khác, ở một bình diện sâu xa hơn : con người hôm nay đánh mất ý nghĩa của “ơn gọi cá nhân”, và cũng đánh mất sự thôi thúc của sứ mạng trong hành trình cuộc đời. Trước đây, có nhiều người lựa chọn một ngành nghề như một “ơn gọi”, nghĩa là nhận ra ý nghĩa đời mình trong nghề nghiệp. Người thầy giáo tha thiết với sự nghiệp giáo dục, điều đó làm nên ý nghĩa cuộc đời của người thầy. Việc dạy học không phải chỉ thuần túy là phương thức kiếm tiền, nhưng là cách thức thể hiện tâm huyết của mình với xã hội. Người thầy sống với tâm huyết như thế sẽ xoay sở, tìm tòi mọi cách tốt nhất để đạo tạo nên những con người giỏi dang, những người công dân tốt… Như thế, nghề nghiệp nâng lên đến tầm mức của ơn gọi, làm nên ý nghĩa của cuộc đời; chứ không phải nghề nghiệp bị giản lược thành một phương thức kiếm sống. Đó là một xã hội góp phần nhân bản hóa thế giới bằng việc thể hiện phẩm giá cao quý của con người. Ngược lại, vận hành của xã hội hiện nay, trong thực chất, là một vận hành sự vật hóa bản thân con người. Con người bị đánh giá theo sự vật, theo mức độ xa hoa hoặc hữu dụng của sự vật. Đây là căn nguyên của biết bao nhiêu tai họa trong xã hội hiện nay.
Để phân biệt được rõ hơn giữa ơn gọi và nghề nghiệp, ta có thể nói một cách khái quát : nghề nghiệp thì có “nghỉ hè”, vì nghề nghiệp chỉ còn là phương cách đối phó với đòi hỏi của xã hội. Ơn gọi thì không có “nghỉ hè”, vì ơn gọi là cách thức thể hiện chính ý nghĩa của bản thân mình. Nhưng gì mang tính cách của một ơn gọi, như đi tu, làm cha/mẹ… thì không thể có “nghỉ hè tu”, hoặc “nghỉ hè làm cha/mẹ”.
2. Phẩm giá của người Kitô hữu : được kêu gọi
Khi Sách Sáng Thế nói con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, thì điều đó không chỉ có nghĩa là con người có lý trí, hoặc có tình yêu giống như Thiên Chúa; nhưng có một ý nghĩa trọng yếu : con người chỉ có thể hoàn thành hành trình hiện hữu của mình khi sống với Chúa, sống tương giao cụ thể với Chúa và với anh chị em của mình. Nếu vận mạng của bản chất người là “sống với”, thì phẩm giá của con người được thể hiện trọn vẹn trong ý nghĩa của “ơn gọi”. Do đó, trên bình diện đức tin, người Kitô hữu có được một phẩm giá căn bản : được Chúa kêu gọi.
Được kêu gọi, nghĩa là được tách mình ra khỏi đám đông vô danh, được chấp nhận tầm quan trọng của bản thân, và được chờ đợi câu trả lời một cách trân trọng. Thế là một con đường của tương giao ngôi vị, của sống-với được mở ra. Người Kitô hữu được Chúa kêu gọi, đó không phải là việc tuyển lựa một công nhân để đảm nhận một công việc còn trống chỗ, nhưng được công nhận ý nghĩa tuyệt đối, không thể thay thế của chính bản thân.
Dân Israen được Chúa gọi và chọn làm Dân riêng của Ngài. Nhưng ý nghĩa trọn vẹn của phẩm giá cá nhân mỗi người chỉ được thực hiện trọn vẹn trong Tân Ước. Người Kitô hữu có được những điều mà người dân Israen không có được : giao ước bản thân, cá nhân được lãnh nhận Thánh Thần, Cá nhân được Chúa tôn trọng, nhìn đến, biết đến, tính đến trong “cuộc chơi” của vận mạng con người. Ta có thể tóm lại : cá nhân mỗi người Kitô hữu được có ơn gọi của Thiên Chúa.
Chúa Giêsu kêu gọi người Kitô hữu, trước tiên là để sống-với, chứ không phải để trám vào chỗ trống của một công việc. Thiên Chúa gọi tôi bằng chính tên tôi, Thiên Chúa “biết” tôi, nghĩa là thân quen với tôi :
“Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”.(Ga 10 14-15)
Tin Mừng cho thấy Chúa Giêsu gọi các môn đệ, và các ông đã đến “ở với Người” :
“Người bảo họ : "Đến mà xem." Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười.” (Ga 1,39)
Chúa Giêsu cũng cho thấy Thiên Chúa trân trọng một con người, cho dù đó là một con chiên lạc. Ngài bỏ 99 con ở đó để quyết chí đi tìm con chiên bị lạc mất….
Tất cả những điều đó trở thành ý nghĩa hết sức quan trọng cho hành trình cuộc đời con người. Điều đó lại càng trở nên đặc biệt quan trọng hơn nữa trong bầu không khí của xã hội mất căn tính hiện nay, nghĩa là trong bầu không khí mà người ta không tính đến bản thân mỗi người cho bằng đánh giá mỗi người qua những gì họ chiếm hữu.
3. Sứ mạng : hành trình khởi từ trái tim
Trong nhiều chuyện “có thời hạn” thì đôi khi ta cũng có thể ép buộc người khác một cách nào đó : ép đứa con phải học bài, ép người kia phải ăn món này món kia. Nhưng trong những lãnh vực liên quan đến ý nghĩa của cả cuộc đời thì không ai có quyền ép buộc cả. “ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên”. Không ai được quyền ép người khác lập gia đình với người mà họ không yêu, không ai được quyền ép người nào đó đi theo đời sống thánh hiến, không ai được ép uổng người khác phải chấp nhận theo đạo mà lương tâm của học không chấp nhận…
Điều đó cho thấy, hành trình chính yếu của đời người phải được phát khởi từ bên trong. Chính chủ thể phải có quyền quyết định về cuộc đời mình. Hành trình liên quan đến vận mạng con người phải được phát khởi từ chính trái tim.
Hơn nữa, ở tầng sâu nhất của vận mạng con người, con người lại chỉ có thể hoàn thành cuộc đời mình khi ra khỏi được chính bản thân mình. Chính vì thế, Vatican II cho thấy con người chỉ có thể tìm được ý nghĩa của đời mình khi “thành thật hiến dâng” (X. MV 24).
Trái tim là cửa ngõ duy nhất để con người có thể ra khỏi bản thân. Trước tiên, từ trái tim, người ta có thể di chuyển trọng tâm đến người khác. Khi người mẹ không còn thấy việc quan trọng nhất của mình là sự thành đạt cho bản thân mình, nhưng là sự thành công của đứa con, thì trọng tâm của bản thân người mẹ đã được di chuyển ra ngoài, đặt ở nơi bản thân của đứa con.
Quả thật, phẩm giá của con người thể hiện ở chỗ khả năng ra khỏi bản thân trong tình yêu. Như thế, nỗi đau đúng với phẩm giá con người, niềm vui đúng với phẩm giá con người, sự thành công đúng với phẩm giá con người… chính là nỗi đau vì người khác đau, vui vì người khác vui, nhận thấy mình thành công vì sự thành công của người khác.
Trong đời sống đức tin, vận hành ra khỏi bản thân được bắt đầu bằng mối liên hệ thân tình với Chúa Giêsu. Hoặc nói cách khác, khởi đầu bằng một đời sống thân mật với Chúa Giêsu. Có lẽ xã hội duy hiệu năng ngày nay còn có một sai sót khác nữa là đánh mất chiều kích của sự thân mật trong tương giao hằng ngày. Đời sống đức tin mời gọi người Kitô hữu đi vào đời sống thân mật với Chúa Giêsu, đó chính là bước khởi đầu của hành trình sống ơn gọi và sứ vụ
Con người chỉ có thể hoàn thành cuộc đời mình khi vét hết cuộc đời mình để trao tặng, nghĩa là khi đạt được ý nghĩa của sứ mệnh. Sứ mệnh cũng khác với công tác. Công tác là trách nhiệm ta lãnh nhận từ phía bên ngoài; ta chu toàn công tác trong những điều kiện tương đối của hoàn cảnh có được. Sứ mệnh thì xuất phát từ sự thúc bách của ơn gọi. Do đó, người mang lấy sứ mạng thì không bao giờ có thể tự thoả mãn với những gì mình đã làm được. Người mang sứ mệnh là người không ngừng nhận ra sự thôi thúc phải làm nữa và làm nữa; và nhất là không thể rút lui như một sự chào thua…
Vận mạng của con người không phải là chiến đấu trong một cuộc chiến thảm hại để sống còn; nhưng là lao mình đến sát “biên cương” của tuyệt đối trong phẩm chất của sự sống. Vận mạng của con người không phải tính toán lặt vặt, để đạt được một vài thành công chóng qua, để “thi đậu” trong một cuộc khảo hạch dựa theo mức “trung bình cộng”, nhưng là dám đánh đổi tất cả cuộc đời mình để đạt đến được một ai khác. Ta có thể thấy một cách cụ thể rằng cuộc đời một ai đó không đạt đến tầm mức “có sứ mạng”, thì cuộc sống ấy là cuộc sống làng nhàng, vất vưởng. Thiên Chúa đã sáng tạo con người, để một cách phổ biến nhất (không phải là một cách tầm thường nhất), người ta được mang lấy sứ mạng làm cha, làm mẹ.
Cuộc sống tu trì thường được đánh giá (não trạng trước-Vatican II vẫn còn đó) là một cuộc sống ở bậc cao hơn. Thật ra, phẩm chất thực sự của đời sống tu trì nằm ở chỗ dám buông bỏ tất cả để chọn lấy sứ mạng Nước Trời. Nếu một tu sĩ mà không đạt tới mức độ có một sứ mạng, thì trong thực chất, đó chỉ là đi tìm một thứ danh giá xã hội, chứ không thể hiện được một sức sống nội tại đáp ứng được khát vọng tuyệt đối.
* Tạm Kết
Đối với con người, ý nghĩa hay phẩm chất cuộc sống quan trọng hơn chính cuộc sống. Ta có dám chọn phẩm chất của sự sống hơn là chính sự sống không ? Ta có dám đáp lại sự thôi thúc của Thánh Thần, để thực sự dám buông đời mình theo một sứ vụ như ý nghĩa thiêng liêng quý báu nhất của đời mình không?