Suy niệm về Đức Tin

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

“Tái khám phá nội dung đức Tin được tuyên xưng, được cử hành, được thể hiện qua đời sống và cầu nguyện [15], và suy tư về chính việc làm của lòng tin, đó là nhiệm vụ mỗi tín hữu phải thực hiện, nhất là trong Năm Đức Tin này. (Tự sắc Porta Fidei, s. 9)

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

“Tái khám phá nội dung đức Tin được tuyên xưng, được cử hành, được thể hiện qua đời sống và cầu nguyện [15], và suy tư về chính việc làm của lòng tin, đó là nhiệm vụ mỗi tín hữu phải thực hiện, nhất là trong Năm Đức Tin này. (Tự sắc Porta Fidei, s. 9)

1. Con người cần được tôn trọng

- Phẩm giá của lòng tin

- Con người như chủ thể

- Bầu khí Tân ước, thái độ tự nguyện

2. Con người cần được cứu

2.1 Quan niệm Kinh Thánh về con người

* Con người luôn là toàn diện, với ba khía cạnh : thân xác, linh hồn và thần trí. Là con người toàn diện, người ta không thể phân chia ba điều nói trên thành ba thành phần; và do đó, có thể người ta làm những việc của xác thịt mà lại được hứng theo thần trí, và ngược lại cũng vậy.

* Nếu không tin vào Thiên Chúa qua khía cạnh thần trí, con người linh hồn (sự sống nội tại) bị giam hãm vào khía cạnh xác thịt, “hứng theo xác thịt”, và sống một cuộc đời trong bế tắc. Con người không thể tự cứu lấy chính mình.

2.2 Tin và một thái độ rộng mở để có thể được cứu

* Tin là khả năng phóng mình ra phía trước, không phải là sự lấn trước đối với sự vật một cách chắc ăn, nhưng là sự trân trọng ai khác như chờ đợi lời đáp của một chủ thể khác. Ngay trong đời thường, lòng tin vốn là khả năng sống-với đúng với phẩm giá con người.

* Tuy nhiên, con người được sáng tạo để sống với Chúa trong tình yêu. Con người có vận mạng siêu nhiên. Không có mối tương quan với Chúa, con người loay hoay trong bế tắc : - đập phá lung tung; - tiêu xài vụn vặt; - hưởng thụ tầm thường. Đó là nẻo đường cụt.

2.3 Đức Tin Kitô giáo

* Tin là hồng ân căn bản của ơn cứu độ : Đức Tin sống-với. Đức tin đưa vào tương quan ngã vị với một Tha Ngã trọn vẹn nhất là chính Chúa.

* Tin là mở rộng chân trời sống-với đến tuyệt đối. Chỉ chân trời sống với ấy mới có thể mở rộng “vùng đất” cho mọi sinh hoạt của con người. Chỉ nơi đây, con người mới có thể “có đất dụng võ” và hoàn thành được vận mạng siêu nhiên của mình.

3. Con người cần được chơi (phiêu lưu)

3.1 Con người bị đè nặng trong cái lập đi lập lại

* Vòng tuần hoàn, vòng luân hồi vốn là một sức mạnh “vũ trụ luận” đè nặng trên vận mạng con người. Vòng tuần hoàn làm cho cuộc đời con người, dù có vĩ đại đến đâu, bị rơi vào cái lẩm cẩm chán ngắt.

* Đức Tin cho ta một nền tảng tín lý về sáng tạo. Niềm tin về một dòng thời gian theo đường thẳng cần được chứng nghiệm trong một sức sống mới : khả năng bứt phá.

3.2 Khát vọng phiêu lưu

* Con người khi chơi, đó là lúc con người được giải thoát khỏi cái đều đặn để đi vào cuộc phiêu lưu. Chơi là một nhu cầu thật của cuộc sống con người.

* Đức Tin là sống với Chúa như một cuộc chơi, tìm được niềm vui oà vỡ và tìm được hạnh phúc của một sự gặp gỡ, hiệp thông đúng với phẩm chất người.

3.3 Tin vào Đức Giêsu và Nước Trời

* Đức Giêsu, con người tự do, đó là hình ảnh lý tưởng của con người. Con người khao khát được kết hợp với đức Giêsu để được tự do thực sự.

* Tin vào Chúa Giêsu, con người có khả năng “cử hành” nghi lễ giải thoát cho cuộc đời, ướm cuộc đời tản mạn và tẻ nhạt vào một cuộc chơi sinh tử, trò chơi của tình yêu trọn vẹn. Ướm cuộc đời vào cái chết và cuộc Phục Sinh của đức Giêsu.

4. Con người cần được yêu (tương quan cá nhân)

4.1 Bài toán cái ngã

* “Cái ngã” trung tâm điểm quy tụ mọi sinh hoạt của con người. Nhiều người sợ cái ngã vì trong thực tế, cái ngã gây ra biết bao khổ đau. Nhưng con người cần được khẳng định bản ngã của mình. Kitô giáo không phải là con đường làm giảm nhẹ cái ngã, nhưng là làm rõ nét cái ngã độc đáo.

* Khẳng định mình để được chấp nhận hay mong chờ được ban tặng sự chấp nhận để có thể khẳng định mình trong tình nghĩa, đó là bài toán lớn của cuộc đời. Cái ngã chỉ được giải gỡ và được hoàn tất trong khả năng tự nguyện ban tặng chính bản thân mình.

4.2 Con người cần được thuộc về

* Không có niềm tin, con người bị nhốt trong thế giới trao đổi, bị giới hạn trong thế giới thực nghiệm. Mối tương quan trao đổi ấy bị giam hãm trong mức độ khả nghiệm.

* Khát vọng được thuộc về là khát vọng sây xa của con người. Thuộc về là nền tảng để con người có thể sáng tạo chính bản thân mình như một nghệ thuật.

4.3 Đức Tin đưa ta vào gia đình của Chúa

* Thần khí nghĩa tử là hồng ân tặng-không. Kitô giáo không phải chỉ là một trường giáo dưỡng những đức tính luân lý, mà là gia đình thật sự, trong đó có sự thuộc về nhau. Yếu tố căn bản trong việc thuộc về nhau, đó là việc đóng góp chính bản thân vào cuộc đời vào một “cộng đồng ngôi vị”.

* Thiên Chúa Cha là nguồn gốc mọi tình phụ tử trên trời dưới đất. Kinh nghiệm gia đình thật quí báu, nhưng kinh nghiệm gia đình cần được rộng mở, thăng hoa để đi vào cộng đoàn đức tin.

5. Con người cần được thuộc về hiêp thông hội thánh

5.1 Kinh nghiệm hụt hẫng

* Người tân tòng mới vào Hội thánh, người mới bước vào đời tu…thường có tâm trạng hụt hẫng, vì thấy cái đúng thật trong suy nghĩ và học hỏi không hoặc ít đụng đến kinh nghiệm thật của cá nhân mình.

* Cái chân thật (verum) và cái chắc thật (certum), đó là hai yếu tố cần thiết cho cuộc sống. Truyền thống Tây Phương, xuất phát từ Hy Lạp, quá nghiêng về cái chân thật mà dần dần bỏ quên cái chắc thật.

5.2 Nẻo đường đức Tin

* Tin là gắn bó với Chúa và chấp nhận mọi điều Chúa dạy. Nền tảng của đức Tin không phải là lý trí mà là một sự dấn thân trọn vẹn của cả bản thân và cuộc đời. Từ sự gắn bó bản thân với Chúa, người tín hữu mới có thể đón nhận mọi điều Chúa dạy.

* Đức tin là gắn bó với Chúa trong sự phiêu lưu; dù không biết chắc những điều Chúa dạy. Đức tin tìm kiếm sự hiểu biết.

5.3 Làm chứng cho niềm tin

* Tôi tin – chúng tôi tin. Đức tin vừa là hành vi cá nhân, vừa là hành vi của cộng đoàn. Đức Tin cá nhân được hiệp thông và được lớn lên trong đức Tin của Giáo hội.

* Mối giây tương tác giữa đức tin cá nhân và cộng đoàn ấy bộc lộ phẩm chất sự sống đích thực trong việc làm chứng niềm tin cho nhau, trong “trao đổi kinh nghiệm đức tin” : trong bầu khí sinh hoạt cộng đoàn và trong kinh nguyện phụng vụ.

6. Con người cần được thương xót (cái lẩm cẩm)

7. Con người cần được hiệp thông (liên luỵ và hiệp thông)

8. Con người cần được đồng hành (việc mình thì quáng)

8.1 Bản thân và cuộc đời

* Con người trọn vẹn không chỉ là bản thân mà còn là cuộc đời. Cuộc đời cũng phức tạp như bản thân, có thành công và thất bại, có bóng tối và ánh sáng… Người ta không dễ chấp nhập bản thân của ai khác, và càng không dễ đón nhận bản thân đó trong dòng đời.

* Bên cạnh nỗi cô đơn siêu hình khi không được đón nhận bản thân, còn có nỗi xao xuyến sâu xa vì có thể không hoàn thành được vận mạng làm người của mình. Do đó, con người cần được chấp nhận và cũng cần được sự đồng hành.

8.2 Thế giới nhị nguyên và thế giới tất định

* Con người bị trói buộc trong thế giới nhị nguyên. Kinh nghiệm trần thế khiến con người không dám mơ tưởng đến một sự hoàn hảo trọn vẹn.

* Thế giới nghiệt ngã thường tỏ ra mạnh hơn tình nghĩa nhân thân (personnelle). Sống trong xã hội, con người như bị thế giới bên ngoài quy định mọi sự. Khả năng sống tự do và tự quyết trở thành mong manh, dòn mỏng.

8.3 Đức Tin nhận ra Chúa hiện diện mọi ngày

* Tương quan nhân thân có khả năng tạo nội lực để con người có thể gánh vác mọi gánh nặng của cuộc đời. Đức tin chính là mối tương quan nhân thân với Chúa Giêsu, Đấng ở cùng ta mọi ngày.

* Đức Tin không giúp ta giải thoát rắc rối cuộc đời theo kiểu đào tẩu, nhưng bao gồm năng lực dấn thân, dấn thân trong tự do. Có Chúa, ta không sợ hãi chi !!!

. Tin vào quyền năng của Chúa và sống đơn sơ

9. Con người cần được đổi mới (quy luật trước sau)

9.1 Con người bị đè nặng và bị trói buộc

* Gánh nặng của quá khứ đè lên hiện tại. Con người không thể bỏ quá khứ đi một cách vô trách nhiệm mà cũng không có đủ sức mạnh để mang vác quá khứ ấy.

* Con người bị trói buộc trong mối giây liên hệ chằng chịt của cuộc sống. Một nỗ lực thay đổi, sám hối, thăng tiến… nào cũng luôn luôn là “bứt giây động rừng”.

9.2 Cách thức đổi mới của Chúa

* Thiên Chúa đổi mới con người bằng tình yêu, cái không bao giờ dư thừa và già cỗi. Hơn nữa, tình yêu lại là điều được tặng-không. Con người được đưa vào mối liên hệ mắc nợ nghĩa tình.

* Tình yêu làm cho mỗi cuộc đời có được nét duyên, làm cho mỗi cuộc đời được có ý nghĩa.

9.3 Đức Tin sáng tạo cuộc đời

* Tình yêu làm nên sự hiệp thông chứ không phải đe doạ, củng cố bản lãnh sáng tạo chứ không phải bản lãnh đối phó.

* Tình yêu không xoá bỏ quá khứ, nhưng có khả năng biến đồ cũ thành đồ cổ, biến cuộc đời tầm thường và cay nghiệt thành một tác phẩm nghệ thuật. Tình yêu của Chúa giúp ta không so sánh hơn thua với ai, nhưng an vui và thích thú với bản thân và cuộc đời của mình.

10. Con người cần được ước mơ

- ướm cuộc đời vào ngày Cánh Chung

- Cái nghèo của kiếp người

- Cử hành đức Tin trong cuộc sống thường ngày (sức mạnh đan tu)

11. Con người cần được cứu

11.1 Quan niệm Kinh Thánh về con người

* Con người luôn là toàn diện, với ba khía cạnh : thân xác, linh hồn và thần trí. Là con người toàn diện, người ta không thể phân chia ba điều nói trên thành ba thành phần; và do đó, có thể người ta làm những việc của xác thịt mà lại được hứng theo thần trí, và ngược lại cũng vậy.

* Nếu không tin vào Thiên Chúa qua khía cạnh thần trí, con người linh hồn (sự sống nội tại) bị giam hãm vào khía cạnh xác thịt, “hứng theo xác thịt”, và sống một cuộc đời trong bế tắc. Con người không thể tự cứu lấy chính mình.

11.2 Tin và một thái độ rộng mở để có thể được cứu

* Tin là khả năng phóng mình ra phía trước, không phải là sự lấn trước đối với sự vật một cách chắc ăn, nhưng là sự trân trọng ai khác như chờ đợi lời đáp của một chủ thể khác. Ngay trong đời thường, lòng tin vốn là khả năng sống-với đúng với phẩm giá con người.

* Tuy nhiên, con người được sáng tạo để sống với Chúa trong tình yêu. Con người có vận mạng siêu nhiên. Không có mối tương quan với Chúa, con người loay hoay trong bế tắc : - đập phá lung tung; - tiêu xài vụn vặt; - hưởng thụ tầm thường. Đó là nẻo đường cụt.

11.3 Đức Tin Kitô giáo

* Tin là hồng ân căn bản của ơn cứu độ : Đức Tin sống-với. Đức tin đưa vào tương quan ngã vị với một Tha Ngã trọn vẹn nhất là chính Chúa.

* Tin là mở rộng chân trời sống-với đến tuyệt đối. Chỉ chân trời sống với ấy mới có thể mở rộng “vùng đất” cho mọi sinh hoạt của con người. Chỉ nơi đây, con người mới có thể “có đất dụng võ” và hoàn thành được vận mạng siêu nhiên của mình.

12. Con người cần yêu

12.1 Bài toán cái ngã

* “Cái ngã” trung tâm điểm quy tụ mọi sinh hoạt của con người. Nhiều người sợ cái ngã vì trong thực tế, cái ngã gây ra biết bao khổ đau. Nhưng con người cần được khẳng định bản ngã của mình. Kitô giáo không phải là con đường làm giảm nhẹ cái ngã, nhưng là làm rõ nét cái ngã độc đáo.

* Khẳng định mình để được chấp nhận hay mong chờ được ban tặng sự chấp nhận để có thể khẳng định mình trong tình nghĩa, đó là bài toán lớn của cuộc đời. Cái ngã chỉ được giải gỡ và được hoàn tất trong khả năng tự nguyện ban tặng chính bản thân mình.

12.2 Con người cần được thuộc về

* Không có niềm tin, con người bị nhốt trong thế giới trao đổi, bị giới hạn trong thế giới thực nghiệm. Mối tương quan trao đổi ấy bị giam hãm trong mức độ khả nghiệm.

* Khát vọng được thuộc về là khát vọng sây xa của con người. Thuộc về là nền tảng để con người có thể sáng tạo chính bản thân mình như một nghệ thuật.

12.3 Đức Tin đưa ta vào gia đình của Chúa

* Thần khí nghĩa tử là hồng ân tặng-không. Kitô giáo không phải chỉ là một trường giáo dưỡng những đức tính luân lý, mà là gia đình thật sự, trong đó có sự thuộc về nhau. Yếu tố căn bản trong việc thuộc về nhau, đó là việc đóng góp chính bản thân vào cuộc đời vào một “cộng đồng ngôi vị”.

* Thiên Chúa Cha là nguồn gốc mọi tình phụ tử trên trời dưới đất. Kinh nghiệm gia đình thật quí báu, nhưng kinh nghiệm gia đình cần được rộng mở, thăng hoa để đi vào cộng đoàn đức tin.

13. Con người cần được đồng hành

13.1 Bản thân và cuộc đời

* Con người trọn vẹn không chỉ là bản thân mà còn là cuộc đời. Cuộc đời cũng phức tạp như bản thân, có thành công và thất bại, có bóng tối và ánh sáng… Người ta không dễ chấp nhập bản thân của ai khác, và càng không dễ đón nhận bản thân đó trong dòng đời.

* Bên cạnh nỗi cô đơn siêu hình khi không được đón nhận bản thân, còn có nỗi xao xuyến sâu xa vì có thể không hoàn thành được vận mạng làm người của mình. Do đó, con người cần được chấp nhận và cũng cần được sự đồng hành.

13.2 Thế giới nhị nguyên và thế giới tất định

* Con người bị trói buộc trong thế giới nhị nguyên. Kinh nghiệm trần thế khiến con người không dám mơ tưởng đến một sự hoàn hảo trọn vẹn.

* Thế giới nghiệt ngã thường tỏ ra mạnh hơn tình nghĩa nhân thân (personnelle). Sống trong xã hội, con người như bị thế giới bên ngoài quy định mọi sự. Khả năng sống tự do và tự quyết trở thành mong manh, dòn mỏng.

13.3 Đức Tin nhận ra Chúa hiện diện mọi ngày

* Tương quan nhân thân có khả năng tạo nội lực để con người có thể gánh vác mọi gánh nặng của cuộc đời. Đức tin chính là mối tương quan nhân thân với Chúa Giêsu, Đấng ở cùng ta mọi ngày.

* Đức Tin không giúp ta giải thoát rắc rối cuộc đời theo kiểu đào tẩu, nhưng bao gồm năng lực dấn thân, dấn thân trong tự do. Có Chúa, ta không sợ hãi chi !!!

14. Con người cần được chơi

14.1 Con người bị đè nặng trong cái lập đi lập lại

* Vòng tuần hoàn, vòng luân hồi vốn là một sức mạnh “vũ trụ luận” đè nặng trên vận mạng con người. Vòng tuần hoàn làm cho cuộc đời con người, dù có vĩ đại đến đâu, bị rơi vào cái lẩm cẩm chán ngắt.

* Đức Tin cho ta một nền tảng tín lý về sáng tạo. Niềm tin về một dòng thời gian theo đường thẳng cần được chứng nghiệm trong một sức sống mới : khả năng bứt phá.

14.2 Khát vọng phiêu lưu

* Con người khi chơi, đó là lúc con người được giải thoát khỏi cái đều đặn để đi vào cuộc phiêu lưu. Chơi là một nhu cầu thật của cuộc sống con người.

* Đức Tin là sống với Chúa như một cuộc chơi, tìm được niềm vui oà vỡ và tìm được hạnh phúc của một sự gặp gỡ, hiệp thông đúng với phẩm chất người.

14.3 Tin vào Đức Giêsu và Nước Trời

* Đức Giêsu, con người tự do, đó là hình ảnh lý tưởng của con người. Con người khao khát được kết hợp với đức Giêsu để được tự do thực sự.

* Tin vào Chúa Giêsu, con người có khả năng “cử hành” nghi lễ giải thoát cho cuộc đời, ướm cuộc đời tản mạn và tẻ nhạt vào một cuộc chơi sinh tử, trò chơi của tình yêu trọn vẹn. Ướm cuộc đời vào cái chết và cuộc Phục Sinh của đức Giêsu.

15. Con người cần được đổi mới

15.1 Con người bị đè nặng và bị trói buộc

* Gánh nặng của quá khứ đè lên hiện tại. Con người không thể bỏ quá khứ đi một cách vô trách nhiệm mà cũng không có đủ sức mạnh để mang vác quá khứ ấy.

* Con người bị trói buộc trong mối giây liên hệ chằng chịt của cuộc sống. Một nỗ lực thay đổi, sám hối, thăng tiến… nào cũng luôn luôn là “bứt giây động rừng”.

15.2 Cách thức đổi mới của Chúa

* Thiên Chúa đổi mới con người bằng tình yêu, cái không bao giờ dư thừa và già cỗi. Hơn nữa, tình yêu lại là điều được tặng-không. Con người được đưa vào mối liên hệ mắc nợ nghĩa tình.

* Tình yêu làm cho mỗi cuộc đời có được nét duyên, làm cho mỗi cuộc đời được có ý nghĩa.

15.3 Đức Tin sáng tạo cuộc đời

* Tình yêu làm nên sự hiệp thông chứ không phải đe doạ, củng cố bản lãnh sáng tạo chứ không phải bản lãnh đối phó.

* Tình yêu không xoá bỏ quá khứ, nhưng có khả năng biến đồ cũ thành đồ cổ, biến cuộc đời tầm thường và cay nghiệt thành một tác phẩm nghệ thuật. Tình yêu của Chúa giúp ta không so sánh hơn thua với ai, nhưng an vui và thích thú với bản thân và cuộc đời của mình.

16. Con người cần được quyền mơ ước

16.1 Những ước mơ ảo vọng

* Khiêm tốn; - mơ ước; - hy vọng; - đạo đức; - tự do; - yêu thương…. Tất cả những giá trị nhân bản, thật ra, chỉ có thể hoàn tất và hợp lý trong chân trời tâm linh.

* Khát vọng tứ hải giai huynh đệ…chính là một chân trời cho tình nghĩa con người, nhưng trong thực tế lại không thể thực hiện được.

16.2 Những ước mơ được trả lời

* Đức tin giúp ta nhận ra dấu chỉ Nước Trời. Đức tin là khai mở một hành trình mới, đó cũng là dấu hiệu chân thực của tự do.

* Đức Tin không phải là gìn giữ một báu vật, nhưng chính yếu là động thái quảng đại trao ban bản thân và cuộc đời cho ai khác.

16.3 Dấn thân vào nẻo đường đức Tin

* Thái độ nghèo của Nước Trời chính là khoét rỗng một khát vọng tuyệt đối. Từ đó con người mới có thể đón nhận được tuyệt đối là chính Chúa. Con người cần từ bỏ thái độ “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”.

* Đức tin mời gọi ta buông mình theo sự phong phú của Chúa, đặt mình vào dòng sự sống phong phú vô tận, tuôn đổ hết để có thể lãnh nhận tất cả.

17. Đức Tin là gắn bó với chính Chúa

17.1 Kinh nghiệm hụt hẫng

* Người tân tòng mới vào Hội thánh, người mới bước vào đời tu…thường có tâm trạng hụt hẫng, vì thấy cái đúng thật trong suy nghĩ và học hỏi không hoặc ít đụng đến kinh nghiệm thật của cá nhân mình.

* Cái chân thật (verum) và cái chắc thật (certum), đó là hai yếu tố cần thiết cho cuộc sống. Truyền thống Tây Phương, xuất phát từ Hy Lạp, quá nghiêng về cái chân thật mà dần dần bỏ quên cái chắc thật.

17.2 Nẻo đường đức Tin

* Tin là gắn bó với Chúa và chấp nhận mọi điều Chúa dạy. Nền tảng của đức Tin không phải là lý trí mà là một sự dấn thân trọn vẹn của cả bản thân và cuộc đời. Từ sự gắn bó bản thân với Chúa, người tín hữu mới có thể đón nhận mọi điều Chúa dạy.

* Đức tin là gắn bó với Chúa trong sự phiêu lưu; dù không biết chắc những điều Chúa dạy. Đức tin tìm kiếm sự hiểu biết.

17.3 Làm chứng cho niềm tin

* Tôi tin – chúng tôi tin. Đức tin vừa là hành vi cá nhân, vừa là hành vi của cộng đoàn. Đức Tin cá nhân được hiệp thông và được lớn lên trong đức Tin của Giáo hội.

* Mối giây tương tác giữa đức tin cá nhân và cộng đoàn ấy bộc lộ phẩm chất sự sống đích thực trong việc làm chứng niềm tin cho nhau, trong “trao đổi kinh nghiệm đức tin” : trong bầu khí sinh hoạt cộng đoàn và trong kinh nguyện phụng vụ.

Kết

Rất nhiều những trục trặc trong đời sống Giáo hội hiện nay có căn rễ trong vấn đề đức Tin. Sự trục trặc chính yếu là kiểu sống “hồn trương ba da hàng thịt”, nghĩa là mang danh đức Tin, những thực sự lại được nuôi dưỡng, thúc đẩy, giải quyết theo kiểu “hứng theo xác thịt”.

Do vậy, chúng ta có lý để hy vọng một sự canh tân trong đời sống đức Tin có thể mang lại nhiều hoa trái phong phú cho Giáo hội trong một thế giới có nhiều thách đố này.

“Vào cuối đời, Thánh Tông đồ Phaolô truyền cho môn đệ Timôthê "hãy nỗ lực đạt được đức Tin" (2 Tm 2, 22), với lòng kiên trì như lúc còn trẻ (x. 2 Tm 3, 15). Chúng ta hãy nghe lời mời gọi này được gửi đến mỗi người chúng ta, để đừng ai biếng nhác trong đời sống đức Tin. Đức Tin là bạn đồng hành suốt đời, đem lại một cái nhìn luôn mới mẻ để nhận ra những kỳ công Chúa đang thực hiện cho chúng ta. Nhằm nắm bắt những dấu chỉ thời đại hiện nay của lịch sử, đức Tin thúc đẩy mỗi người chúng ta trở thành dấu chỉ sống động về sự hiện diện của Đấng Phục sinh trong thế giới. Điều mà thế giới ngày nay đặc biệt cần đến, đó là chứng từ đáng tin cậy của những người được Lời Chúa soi sáng nơi tâm trí, có khả năng khai mở tâm trí của biết bao người đang khao khát Thiên Chúa và sự sống thật, sự sống vô cùng vô tận”.(Tự sắc Porta Fidei, s. 15)