Đức Tin trong đời thường - Phần 1

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Trong đời sống con người, có những lãnh vực thiết yếu cần đến lòng tin tưởng của người này với người kia. Xã hội nào cũng có những khái niệm như lời hứa, giao ước, hoặc những giá trị luân lý đòi hỏi con người phải biết tôn trọng “chữ tín”. “Lòng tin” theo nghĩa đời thường, chiếm một phần lớn trong sinh hoạt thường ngày của con người : lập gia đình, đi làm xí nghiệp, chơi với bạn bè… luôn luôn cần có sự can thiệp của lòng tin thì mới sống với nhau được.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

1. Lòng tin trong đời thường

1.1 Lãnh vực của lòng tin

Trong đời sống con người, có những lãnh vực thiết yếu cần đến lòng tin tưởng của người này với người kia. Xã hội nào cũng có những khái niệm như lời hứa, giao ước, hoặc những giá trị luân lý đòi hỏi con người phải biết tôn trọng “chữ tín”. “Lòng tin” theo nghĩa đời thường, chiếm một phần lớn trong sinh hoạt thường ngày của con người : lập gia đình, đi làm xí nghiệp, chơi với bạn bè… luôn luôn cần có sự can thiệp của lòng tin thì mới sống với nhau được.

Không có lòng tin tưởng vào nhau, xã hội con người sẽ trở nên hỗn độn; người ta sẽ phải sống với nhau trong sự lo sợ, trong thái độ tự vệ, và không thể hình thành được những giá trị văn hoá trong thế giới loài người. Do đó, trong đời thường, xã hội cần có chữ “tín” để cuộc sống thường ngày có thể “xuôi chảy”.

1.2 Lòng tin trong thời đại hôm nay

Tuy nhiên, theo đà phát triển, xã hội càng ngày càng có nhiều tổ chức phức tạp hơn. Những mối tương giao của con người ngày càng chặt chẽ hơn để có thể xây dựng được những công trình lớn; và người ta cảm thấy không thể chỉ đặt nền móng cho những mối liên hệ ấy chỉ bằng một chữ tín bấp bênh. Trong đà tiến của xã hội văn minh người ta có khuynh hướng muốn những gì bấp bênh tuỳ thuộc vào lòng người phải được thay thế bằng một hệ thống luật pháp bên ngoài chặt chẽ hơn. Trong xã hội xưa thì, người ta sống với nhau theo nguyên tắc “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” (Nguyễn Du). Điều đó vừa có nghĩa là một người có tâm thì đáng quí trọng hơn người có tài; nhưng hơn nữa, điều đó còn có nghĩa là khi người ta có tài lớn thì cũng phải có tâm lớn; để cái tâm có thể bao bọc và hướng dẫn cái tài. Cái “tâm” là một thứ bảo đảm cho cái “tài” được sử dụng tốt. Ngày nay, người ta có thể chứng nhận đơn thuần tài năng của một người (bằng cấp…) mà không cần lưu ý tới tâm của người ấy; và một công ty hay xí nghiệp có thể sử dụng một con người vào một công việc nào đó mà không quá tuỳ thuộc vào cái tâm của người ấy.

Phải chăng ngày nay người không cần đến cái tâm cũng như chữ tín ? Vì những tương quan xã hội cần có sự chắc chắn, nên người ta muốn mọi sự phải được làm hợp đồng theo luật. Ngày nay, trong xã hội quá phức tạp và quá sa sút về đạo lý, thì không ai dám đặt tương lai của mình, dự án của mình, tiền bạc của mình… vào một thứ tương giao bấp bênh của lòng tin. Không ai muốn “nắm đằng lưỡi” trong cuộc chơi ngày hôm nay, và điều đó lan tràn cả đến trong gia đình, trong dòng tu…

Phải chăng luật pháp có thể thay thế cái tâm để kiểm soát cái tài của con người ? Thật ra, chỉ duy với khoa học hay pháp luật thì không bao giờ người ta có thể kiểm soát được con người một cách đầy đủ. Chữ tín luôn cần thiết, vì sự kỹ lưỡng của máy móc hoặc luật pháp không thể cao tay hơn sự tinh quái của con người. Một khi xã hội không còn chữ tín, sự tinh quái của con người có thể vượt qua mọi sự kiểm soát… Khi mà lòng người không còn những giá trị luân thường bên trong, thì dù xã hội có hệ thông luật pháp (cái bên ngoài) nghiêm minh đến đâu, người ta vẫn có thể luồn lách. Thật ra, tựu trung của mọi sự vẫn là vấn đề “con người”. Một xã hội mà người ta còn tin ở con người là một xã hội “nhân trị”. Ngược lại, một xã hội không còn chữ tín thì chỉ có thể là một xã hội “pháp trị”. Khi nhân trị là chính, người ta vẫn cần tới luật pháp như một tiêu chuẩn khách quan để xử lý nhiều trường hợp tranh chấp, nhưng điều quan trọng vẫn phải luôn luôn là đề cao giá trị đạo đức nội tại nơi cái tâm của mỗi người. Ngược lại, khi xã hội chỉ được điều hành bằng “pháp trị”, con người bị đẩy vào chỗ bị ngờ vực và chính điều đó sẽ lại làm cho người ta dễ phạm pháp khi có thể. Bầu khí xã hội pháp trị luôn phải là trấn áp, tạo nên thái độ đối phó, và đây là nguyên nhân làm mất đi bao nhiêu giá trị cao quí của phẩm giá con người. Khi mà xã hội bị băng hoại từ bên trong, khi nền móng cương thường đổ nát, thì dù luật pháp có dầy đặc và có “công bằng” đến đâu, thì vẫn có, vẫn thật nhiều nhiều lạm dụng, nhiều mưu mẹo để luồn lách…

Nói chung, ta có thể thấy cuộc sống con người có ba cấp độ của tương quan:

- dưới cùng là tương quan sinh vật : quy luật của xã hội này là mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé. Một xã hội mà mọi người phải chọn thái độ giành giật để sống còn.

- trên một cấp là tương quan xã hội theo luật : quy luật ở đây là thuận mua vừa bán. Người ta cố gắng để sống với nhau như một sự trao đổi sòng phẳng, không ai được quyền bóc lột ai.

- trên cùng là cấp độ tương quan ngã vị của con người với nhau : đây là xã hội sống theo nguyên lý nghĩa tình. Luân thường đạo lý giúp con người có thể có những hành vi trao tặng, có những thái độ biết hy sinh, quên mình…

Nếu một xã hội nào đánh mất cấp độ tương quan ngã vị, xã hội ấy không thể dừng lại ở mức độ công bằng, theo nguyên lý thuận mua vừa bán, nhưng sẽ luôn luôn bị kéo xuống mức độ tương quan giành giật của sinh vật.

2. Phẩm chất của lòng tin trong đời sống con người

2.1 Sống lòng tin là sống tương quan phẩm giá người

Thật ra lòng tin không phải chỉ để có thể ổn định xã hội, không phải chỉ để áp dụng vào chuyện hợp đồng làm ăn. Sâu xa và cao quí hơn, lòng tin còn làm cho phẩm chất của tương quan con người với nhau được nâng lên đúng tầm của phẩm giá con người.

Niềm tin tưởng vào nhau cho thấy con người không bị chi phối hoàn toàn do mối tương tác trực tiếp của thế giới hữu hình, nhưng có khả năng vượt trên mối tương tác trực tiếp, hữu dụng như các sinh vật khác, để mặc lấy được giá trị văn hoá, giá trị nhân văn… Tin nhau, nghĩa là giữ một “khoảng cách” vượt quá mối tương tác trực tiếp có tính thực nghiệm, là giành một “không gian” để mỗi người có thể sử dụng tự do của mình, và điều đó mở đường để mỗi người được mời gọi sống thái độ chủ thể của mình.

Nên nhớ nền luân lý Kitô giáo luôn đề cao thái độ “chủ thể” hơn là những giải pháp bên ngoài. Chẳng hạn Giáo hội không chấp nhận thụ thai nhân tạo, không chấp nhận ngừa thai bằng phương pháp nhân tạo,… và luôn kêu gọi một thái độ tự chủ, thái độ có trách nhiệm như điều căn bản để giải quyết vấn đề. Khi tính chủ thể được phát triển, người ta mới có thể giải quyết mọi vấn đề mà không rớt vào một thứ hạ giá nhân phẩm.

2.2 Tin để sống thú vị như một cuộc chơi

Đời sống ở mức độ con người không gắn liền trực tiếp với thế giới khách thể, nhưng luôn cần một “khoảng cách”, một “không gian” để con người có thể sống với nhau như những chủ thể tự do. Do đó, cuộc đời con người có phẩm chất như một cuộc chơi, tức là vẫn luôn là một cuộc phiêu lưu, để rồi hy vọng tìm lại được sự gặp gỡ thực sự như một món quà mang lại niềm vui oà vỡ. Quả thật, có một nhu cầu thiết yếu trong đời sống con người và thường bị bỏ quên, đó là nhu cầu chơi. Thú “phiêu lưu” nằm trong khát vọng sâu xa của con người. Khi chơi, con người vượt qua mức độ sinh vật để sống với nhau như những con người tự do, đối sử với nhau như là những chủ thể thực sự. Chỉ khi có một khoảng cách để tin nhau, người ta mới có thể sống tương quan nhân vị như một cuộc chơi, bao hàm niềm vui của một cuộc phiêu lưu.

Ta có thể diễn tả ý nghĩa cuộc đời như một cuộc chơi thế này : giả dụ ta có hai người, một bên là A, một bên là B. Có những cách để AB sống với nhau như sau :

1/ A thống trị B, (hoặc B thống trị A)

2/ sống đàng A, B sống đàng B, không ai dính dáng đến ai.

3/ và B sống với nhau, để không rớt vào trường hợp (1/.) hoặc trường hợp (2/.), thì cả hai phải tuân theo một qui định chung, nghĩa là A và B phải theo hai đường thẳng song song vẽ sẵn, giống như một bộ luật.

4/ A và B vẫn có thể sống với nhau mà không có thống trị, không có mạnh ai nấy sống mà cũng không có một bộ luật quy định bên ngoài nào cả; khi mà hai bên biết nhận ra ý của nhau và đáp ứng ý nguyện đó một cách tự nguyện; nghĩa là có một kiểu song song, nhưng đây là song song bay lượn, biến hoá phong phú, ngẫu hứng, thú vị. Chỉ có cách này mới diễn tả đúng nhất cuộc chơi.

Chính khi chơi, con người bước vào một lãnh vực đặc biệt, trong đó, con người giải toả được “noạ tính” của sự vật khỏi đời sống; bộc lộ con người thật của mình, cũng như có khả năng mở ra những chân trời phiêu lưu… Con người khi chơi, đó là sống khát vọng vô biên, sống thái độ dám buông bỏ cái ăn chắc nghèo nàn đã có để tìm một sự phong phú khác.

Ở đây, ta gặp thấy một khía cạnh thiết yếu khác của Kitô giáo, khía cạnh “nghèo”, khía cạnh khát vọng vô biên. Với Kitô giáo, đời sống con người không phải được giải quyết bằng kiểu “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”, nhưng được mời gọi dám tung cái chăn rách để tìm được một căn phòng sửa ấm và hơn nữa…

Đặc biệt, trong lãnh vực tương giao nhân thân, khi chơi, con người tìm được chính mình trong một sự gặp gỡ thực sự. Tương quan là sự gặp gỡ giữa hai ngã vị tự do, tự do trong từng giây phút, tự do hiện sinh. Chỉ khi chơi, con người mới tìm được niềm vui oà vỡ; khi mà cuộc phiêu lưu đạt được kết quả gặp gỡ, hiệp nhất, ăn rơ với nhau…

3. Đức Tin Kitô giáo

3.1 Con người chỉ có thể được cứu nhờ tin

Chúa muốn cho con người sống với Chúa như một chủ thể tự do chứ không phải như một xác chết vâng lời. Trong ý nghĩa đó, lòng tin là một “cửa ngõ” thiết yếu, vì tin chính là một hành vi tự do để đi vào ơn cứu độ và tìm thấy được khả năng được cứu thoát. Tuy nhiên, để nhận ra được tầm quan trọng của đức Tin, người ta phải nhận ra mình đang bị ràng buộc bởi cái gì. Để hiểu được điều này, ta cần nhìn lại bối cảnh văn hoá của người Do Thái.

3.1.1 Quan niệm của người Do Thái

Con người ta sinh hoạt trong ba lãnh vực : thần trí, linh hồn, và thân xác (Xc. 1 Tx 5,23). Đây không phải là ba thành phần trong con người, nhưng là ba khía cạnh của một con người toàn diện.

- Linh hồn chính là con người toàn diện xét như có sức sống nội tại, có cảm giác, có suy nghĩ, có tự do, có hồi tưởng…

- Thân xác chính là con người toàn diện trong khía cạnh yếu đuối của con người, tức là con người trong những mối tương quan thông qua thân xác; cụ thể là tương quan với vũ trụ và với tha nhân.

- Thần khí là con người toàn diện trong khía cạnh siêu việt, nghĩa là trong tương quan với Thiên Chúa.

Khi nói con người toàn diện trong khía cạnh tương quan với thân xác chẳng hạn, thì điều đó không phải chỉ giới hạn trong những sinh hoạt gắn liền với thân xác, mà còn ngay cả trong những sinh hoạt phượng tự với Thiên Chúa bị chi phối bởi khía cạnh yếu đuối của con người. Cũng vậy, khi nói con người toàn diện trong khía cạnh thần trí, thì điều đó cũng bao hàm cả những chuyện của thân xác, ăn uống, chiếm hữu của cải, giao tiếp với tha nhân…, nhưng tất cả những điều đó đều được hướng dẫn theo sức mạnh và ý nghĩa của thần trí. Trong vị thế đó, con người tự do lựa chọn và thể hiện vận mạng của mình khi để cho sự sống nội tại (linh hồn) của mình hoặc hứng theo thần trí, hoặc hứng theo thân xác.

3.1.2 Tính giới hạn và sự bế tắc của cách sống “hứng theo xác thịt”

Cuộc sống hứng theo xác thịt, tức là cách ứng xử bình thường của con người : có tiền thì xài, có niềm vui thì hưởng thụ, cố gắng có càng nhiều của cải càng tốt…; sống với tha nhân thì bạn ra bạn thù ra thù, anh chơi xấu tôi thì tôi chơi xấu anh,… Cách sống ấy không thể làm thoả mãn được khát vọng yêu thương, khát vọng hiệp nhất, khát vọng “tứ hải giai huynh đệ”, cũng như không đưa con người đến tầm mức ơn gọi và sứ vụ được. Cách sống ấy đưa con người dần dần lún sâu vào những quy luật khắc nghiệt của cuộc sống đời thường; sự ác xuất hiện dần dần như một mạng lưới “xã hội đen” trói buộc mà con người không thể nào thoát ra được; con người mang vận mệnh “phải chết” và dấu hiệu của sự chết càng ngày càng lấn lướt những dấu hiệu của sự sống.

Với một cái nhìn toàn diện, con người nhận ra mình bị trói buộc trong thế giới “có thời gian” mà lòng thì lại mới khát khao thế giới “không thời gian”. Cũng có thể nói được rằng con người cần phải nhận diện khuôn mặt của Satan, “cha sự gian dối” (Ga 8,44), vẫn đang thống trị trong thế giới và trong cuộc sống cụ thể của con người; và trong tình thế ấy, con người mới được nhắc nhở để nhận ra mình không bao giờ có thể tự cứu được chính mình.

3.1.3 Được cứu nhờ đức Tin

Chính trong cảm nhận ấy, con người mới có thể mở ra một chân trời khác, chân trời của đức Tin và xác nhận mình chỉ có thể được cứu nhờ đức Tin. Tin, trước hết, là thái độ “mở”, thái độ chân nhận sự bế tắc căn bản của cuộc đời và khao khát mở ra một chân trời khác. Lòng tin đời thường đưa đến một thái độ sẵn sàng để bước sang lãnh vực của đức Tin siêu nhiên mà Thiên Chúa tặng ban cho con người. Người Kitô hữu cần hiểu nét căn bản của giáo lý : ơn tha thứ để được cứu độ bao giờ cũng là hồng ân tặng không. Những “công đức” của con người không bao giờ có thể “đổi chác” được ơn tha thứ để được cứu. “Công đức” của con người chỉ là cộng tác với ơn Chúa để hoá giải những hệ luỵ của tội. Nếu không như thế, đời sống đức Tin của người Công giáo sẽ rớt vào thái độ Biệt phái.

3.2 Con người có khả năng đi vào cuộc chơi với Chúa

Đức Tin trong ý nghĩa siêu nhiên cũng bao hàm ý nghĩa sống cuộc đời như một cuộc chơi với chính Chúa. Tin là buông bỏ sự ăn chắc của giác quan, sự ăn chắc của tính toán con người, sự ăn chắc theo qui luật của cuộc sống đời thường, để sẵn sàng chọn Chúa, chọn gỉai pháp của Chúa, là chấp nhận nắm “đàng lưỡi” và để Chúa nắm “đàng chuôi”. Đó là cuộc phiêu lưu cần thiết để có thể tìm được một sự gặp gỡ đúng với phẩm giá con người có tự do, và đúng với phẩm giá của con người được sáng tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Chỉ trong cuộc chơi đó người ta mới tìm được trọn vẹn thành quả của cuộc chơi : niềm vui oà vỡ một cách thú vị và mang lại hạnh phúc thực sự.

Đây là vấn đề rất căn bản trong đức Tin. Chẳng hạn, chúng ta biết đức Tin có hai nội dung : gắn bó với bản thân Chúa và tuân giữ mọi điều Chúa dạy. Giữ luật vì luật hay ho và hợp lý, hay giữ luật vì trung tín với Chúa ?

Nếu sống đức Tin đúng đắn, tức là trước tiên giữ lòng trung tín với chính Chúa thì người tín hữu có thể giữ mọi điều Chúa dạy, chấp nhận đường lối còn bí ẩn của Chúa trong đời mình. Ngược lại, nếu muốn ăn chắc cho mình, người tín hữu sẽ chỉ tin vì những điều Chúa dạy hợp lý, vì những hành động của Chúa trong đời mình mang lại lợi ích…, thì khi người ta gặp những “lời khó nghe”, khi gặp những điều “khó hiểu”, khi đối diện với thách đố của cuộc đời, người tín hữu ấy sẽ bỏ Chúa.

“Nghe rồi, nhiều môn đệ của Người liền nói : "Lời này chướng tai quá ! Ai mà nghe nổi ?" 61 Nhưng Đức Giê-su tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông : "Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư ? 62 Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao ? 63 Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.

64 Nhưng trong anh em có những kẻ không tin." Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giê-su đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người. 65 Người nói tiếp : "Vì thế, Thầy đã bảo anh em : không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho." 66 Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa”.(Ga 6, 60-66).

Tin là đón nhận chính bản thân của Chúa, điều đó đôi khi đời người tín hữu phải trải qua một quá trình sống đức Tin, một quá trình được Chúa hướng dẫn trong đức Tin, rồi mới có thể ngộ ra được. Chẳng hạn, chúng ta biết trường hợp đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Khi ngài “hiểu ra” điều chính yếu là chọn Chúa chứ không phải chọn công việc của Chúa, thì ngài được dẫn dắt vào một hành trình mới của đức Tin. Biến chuyển này là một cột mốc để phân biệt một nhà quản trị với một mục tử, một viên chức tôn giáo với một đấng thánh.

3.3 Đức tin trong hành trình Kitô giáo

Đức tin theo truyền thống Kinh Thánh mang một ý nghĩa đặc biệt : sống đời mình như một lịch sử ơn cứu độ. Đức tin là cuộc sống trên mảnh đất đời người chứ không phải mảnh đất linh thiêng cao xa nào… Đức Tin thiết yếu phải được thể hiện trong đời thường, đó chính là hoa trái đặc biệt của đức Tin trong truyền thống Do thái – Kitô giáo. Trong truyền thống đó, có người nói rằng Hôsê là người Israen chân chính nhất, khi ông vâng lệnh Chúa cưới bà Gomer làm vợ, nhiều lần tha thứ cho sự phản bội của bà … Hôsê đã sống đức Tin, không phải trên đỉnh núi cao uy nghiêm và thánh thiện, nhưng là sống đức Tin trên giường ngủ của đời sống vợ chồng.

Kết

Đức Tin trong đời thường không phải chỉ là một phần nhỏ trong đời sống người tín hữu, nhưng là nét căn bản của đức Tin Kitô giáo. Đức Tin Kitô giáo thiết yếu là sống đức tin trong dòng lịch sử và biến lịch sử đời mình thành lịch sử ơn cứu độ.

Cũng chính đức Tin ấy phải được thể hiện trong những giá trị nhân bản Kitô giáo của đời thường, nghĩa là nhận ra nét đẹp của giá trị nhân văn trong chân trời của đức Tin. Bởi vì chính niền tin vào Chúa mở ra chân trời tâm linh cho con người có thể tín nhiệm lẫn nhau, chơi với nhau trong sự tôn trọng phẩm giá người.

Xem tiếp phần cuối