HƯỚNG ĐI CỦA TÌNH YÊU
Tình yêu là nhu cầu căn bản của đời sống con người. Nhưng con người cũng không xứng tầm với tình yêu. Do vậy, người ta ai cũng khát vọng được sống trong tình yêu, nhưng lại không có mấy người biết yêu thực sự, dám yêu thực sự, đi trọn con đường yêu thương thực sự của đời mình. Mặt khác, vì không xứng tầm với tình yêu, nên con người thường tìm nhiều cách né tránh để từ chối tình yêu chân chính, để biến tình yêu thành một thứ tình cảm nổi trôi theo thời cuộc, để chỉ biết yêu như một kẻ đòi hỏi người khác, như một sự hưởng thụ cho bản thân mình. . .
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
Tình yêu là nhu cầu căn bản của đời sống con người. Nhưng con người cũng không xứng tầm với tình yêu. Do vậy, người ta ai cũng khát vọng được sống trong tình yêu, nhưng lại không có mấy người biết yêu thực sự, dám yêu thực sự, đi trọn con đường yêu thương thực sự của đời mình. Mặt khác, vì không xứng tầm với tình yêu, nên con người thường tìm nhiều cách né tránh để từ chối tình yêu chân chính, để biến tình yêu thành một thứ tình cảm nổi trôi theo thời cuộc, để chỉ biết yêu như một kẻ đòi hỏi người khác, như một sự hưởng thụ cho bản thân mình. . .
Tình yêu là bản chất của Thiên Chúa, và chỉ có Chúa mới thật sự thể hiện được một thứ tình yêu chân chính. Con người được sáng tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa, nên con người cũng khao khát yêu thương, nhưng con người lại không phải là Thiên Chúa, nên con người thường tập tễnh đi vào nẻo đường yêu thương một cách què quặt. Chúng ta thừơng nghe nói những nhận định theo kiểu như “hôn nhân giết chết tình yêu”,. . . đó là một thứ tầm thường hoá hoặc là một thứ thích ứng tình yêu theo thân phận nổi trôi của phận người.
Báo Thanh Niên, số thứ Bẩy 10-3-2007 vừa qua có thuật lại một vai diễn để đời của nghệ sĩ Lê Vũ Cầu, vai diễn “anh Năm” trong phim “Ông Cá Hô”. Truyện phim kể về một người ngư dân yêu một cô đào trong một gánh hát cải lương. Vì tình yêu ấy, anh Năm Cá Hô lao vào việc săn bắt cá hô để giúp đỡ người yêu trong nhiều hoàn cảnh khó khăn, giúp cho cô đào được thăng tiến, lên thành phố để vào những sân khấu lớn. Nhưng cũng vì con đường thăng tiến ấy của cô đào, anh Năm Cá Hô đánh mất người yêu. Đã vậy, anh Năm Cá Hô không hề giận người yêu mà còn lo lắng cho người yêu vì sợ cô phải long đong trên biển đời phức tạp. . . Tình yêu chỉ cho đi chứ không đòi nhận lại . . . Những hình ảnh nghệ thuật ấy phác họa lại được một khuôn mặt chân chính của tình yêu; chống lại những thứ tình yêu giả, tình yêu nửa vời, tình yêu biến chất, tình yêu kiểu ích kỷ . . . Những thứ tình yêu giả như thế như thế đã “vu khống” tình yêu chân chính, và trở thành như nguyên nhân của một số tội ác tày đình : vì yêu nên giết người yêu, vì yêu nên phải bất trung với vợ, vô trách nhiệm với con . . .
Để góp phần “minh oan” cho tình yêu, xin thử mô tả những cấp bậc của tình yêu chân chính :
1. YÊU NHAU VÌ NHỮNG ĐIỀU TỐT ĐẸP CỦA THA NHÂN
Đây chỉ là bước khởi đầu thường tình của tình yêu. Nghĩa là khi ta đến với người khác, một người còn xa lạ với ta, chưa có mối liên hệ nào khác với ta, thì bình thường, nhịp cầu nối kết hai đầu xa lạ ấy chính là những nét tích cực của nhau : nét đẹp, tài năng, duyên dáng, sự chân thật, lòng tốt . . theo kiểu “trai tài gái sắc”. Ở mức độ này, người ta thường bị người khác cuốn hút không phải do chính bản thân của người khác như do một vài điều tích cực nào đó. Yếu tố khơi mào cho bước khởi đầu của tình yêu chính là những giá trị tích cực của nhau. Bình thường những ngộ nhận về tình yêu là do người ta “quan niệm” tình yêu chỉ ở mức độ khởi đàu “hợp lý”này mà thôi. Thế nhưng tình yêu lại thường có những điều không hiểu được, “phi lý”, nhưng lại biểu lộ một lòng quảng đại hào phóng hơn nhiều.
Tình yêu kiểu ưa thích điề tôet đẹp như thế, tự nó, không thể vững bền được, vì con người không thể ở mãi trên đỉnh cao; tài năng có lúc sẽ cùn nhụt, sắc đẹp có lúc sẽ phai tàn, ngay ca đức độ cũng có lúc bị rơi rụng, hoặc vì dòng thời gian, hoặc vì “một phút lỡ dại”. Một cách nào đó, ở cấp độ này, tình yêu vẫn còn được diễn tiến theo nguyên tắc “thuận mua vừa bán”, hay “tiền trao cháo múc”; bởi vì muốn được yêu, người ta phải có một hoặc nhiều “tài sản” để có thể “mua” được tình yêu của người khác : sắc đẹp, tài năng hay đức tính. . . Và khi mà phần “tài sản” ấy bị “phá sản”, thì người ta cũng đánh mất cả tình yêu. Đó là một thứ tình yêu đòi hỏi nơi người mình yêu, tình yêu đặt điều kiện tiên quyết cho người mình yêu. Tình yêu như thế đặt yếu tố quyết định cho cuộc tình nơi người mình yêu, tình yêu ấy đòi hỏi người khác và nếu người khác không đáp ứng được thì mình cũng sẵn sàng đổ tội cho người khác. Ở nguồn cội sâu xa của tình yêu loại này là một nguyên lý công bằng, cho dù là cách tính toán công bằng thế nào đi nữa. Nguyên lý công bằng chưa thể thực hiện được lòng khao khát hiệp thông, lòng khao khát công hiến, khao khát cho đi của tâm hồn người biết yêu.
2. YÊU LÀ DÁM LIÊN ĐỚI TRÁCH NHIỆM VỚI THA NHÂN CẢ TRONG CÁI TỐT VÀ TRONG CÁI XẤU CỦA THA NHÂN
Khi đã đi vào cuộc gặp gỡ, chia sẻ hành trình cuộc đời với nhau, người ta được mời gọi để tiến sâu hơn, cao hơn vào cuộc tình với người khác bằng thái độ liên lụy cuộc đời với người mình yêu. Đó là kết quả của một thực tại là mình thuộc về người khác nhiều hơn và người khác cũng thuộc về mình nhiều hơn. Bình thường, “lịch sử” chính là môi trường để người ta đan kết những chuyện đời thường, những kỷ niệm vui buồn với nhau, để rồi dần dần nhận ra mình thuộc về nhau nhiều hơn. Gắn bó với nhau trên bước đường đời, đó là quá trình thuộc về nhau của con người, và đó cũng là quá trình, theo cách thức bình thường của con người, để đi sâu vào tình yêu. Ngoài cách thức bình thường ấy, chỉ có đức Tin mới có thể gíup người ta đón nhận con ngưởi đón nhận người khác như “thuộc về mình”. Niềm xác tín về một người Cha Trên Tròi là cha chung giúp người ta mở sẵn cánh cửa của tấm lòng để đón nhận và đối xử với nhau nhu là anh chị em một nhà…
Bước vào hành trình này, những hấp dẫn của cái hay cái đẹp bớt dần để “chìm vào” một nền tảng sâu xa hơn, đó là “tình cảm” thuộc về nhau. Thuộc về nhau đó là “chìa khóa” của tình yêu chân chính chứ không phải là nét đẹp hay sự tốt đẹp của nhau. Trong mức độ này, người ta không lấy thái độ đòi hỏi nơi tha nhân là điều căn bản, mặc dù vẫn luôn mong người mình yêu được tốt hơn, hay hơn, đẹp hơn; nhưng đó là sự mong ước điều tốt cho người mình yêu vì chính người đó chứ không phải vì chính mình, không phải để thoả mãn một cái tôi phìn lớn vì được chơi, được kết bạn, được sở hữu một con người tốt đẹp. Trong mức độ này, người ta bộc lộ, diễn tả tình yêu chân chính khi dám liên đới và liên lụy với người mình yêu cả trong cái tốt và cái xấu. Khi đó, người ta đưa bản thân mình vào cuộc chứ không phải chỉ đòi hỏi người mình yêu thương phải thế này thế khác. Ở đây, nguyên lý chi phối tình yêu không phải là “thuận mua vừa bán”, mà là “đồng hội đồng thuyền”.
3. YÊU LÀ DÁM HY SINH MẠNG SỐNG CỦA MÌNH CHO THA NHÂN.
Một khi nhận ra nhau như là người “thuộc về mình”, tiến trình chân chính ấy của tình yêu sẽ còn mời gọi con người thăng tiến đến một mức độ cao hơn nữa, đó là mức độ trao tặng bản thân của mình cho người yêu. Nơi đây, người ta không còn chỉ thấy điều hay điều tốt, nhưng vươn tới tới chính bản thân của tha nhân. Yêu thương chính bản thân của người khác là một thứ tình yêu vô điều kiện, loại trừ tất cả những điều kiện ít nhiều mang tính cách “sự vật”, để vươn tới mức độ ngôi vị.
Nơi đây, chúng ta được mời gọi để đạt đến những nguyên tắc cơ bản của Kitô giáo : con người có một phẩm giá tuyệt đối; bản thân con người có cứu cánh nơi chính mình, nghĩa là không phải là phương tiện mà cũng không phải là một mục đích tùy phụ nào. Cứu cánh là mục đích cuối cùng, có khả năng mang lại ý nghĩa căn bản, nhờ một giá trị căn bản tự nơi bản chất của phẩm giá con người. Con người có cứu cánh nơi bản thân mình, nên không thể biến con người thành phương tiện cho bất cứ một mục đích nào khác, ngay cả cho Chúa. Con người cần được hoàn thành cuộc đời mình chứ không phải là được dựng nên như một “phó sản” cho ai khác hay cho điều gì khác. Chính trên nền tảng phẩm giá tuyệt đối của con người như thế mà con người chỉ có thể hoàn thành cuộc đời mình khi tự do, tự nguyện hy sinh bản thân mình cho người khác.
“Con người, tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ, chỉ có thể gặp lại chính bản thân mình nhờ thành thật hiến dâng” (Vatican II, MV 24)
Do đó, đón nhận một ngôi vị là đón nhận một tuyệt đối mà không gì, không sự vật nào có thể thay thế và cũng không một thứ “tài sản” nào có thể đổi chác cách “công bằng”. Ngôi vị, của con người, của các thiên thần và của Chúa, là một tuyệt đối.
Ngôi vị con người là một phẩm giá mà không có cách nào chiếm hữu được, nhưng chỉ có thể “có được” khi được tự do trao tặng. Đối với ngôi vị, ta không thể tự hào có thể khuất phục bằng sức mạnh hay kiến thức, không thể chinh phục bằng tài năng hay đức độ, không thể quyến rũ bằng vẻ đẹp hay sự mua chuộc… bởi vì khi đó, cái mà ta chiếm hữu đựơc không còn là ngôi vị nữa mà chỉ còn là cái xác, hoặc là một thứ chân lý của lý trí vô ngã. Do đó, mức độ đón tiếp một ngôi vị là mức độ đón nhận trong lòng tri ân; bởi vì đó là đón nhận một quà tặng tuyệt đối.
Như thế, trao tặng chính ngôi vị của mình chỉ có thể là trao tặng trao tình yêu, và đó là trao tặng chính bản thân của mình cho người mình yêu thương. Tình yêu chân chính hướng tới mức độ tình yêu của Thiên Chúa, mời gọi con người trao tặng chính bản thân mình cho người mình yêu.
“Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15,13)
Nơi đây, người ta khộng còn đòi hỏi một điều kiện tiên quyết nào nơi người mình yêu nữa, nhưng cảm thấy một đòi hỏi từ chính bản thân mình để cống hiến một cách trọn vẹn; người ta không còn sống theo thái độ vui hưởng, mà là công hiến. Nguyên lý sâu xa của tình yêu này là khả năng tặng không và trao tặng trọn vẹn, trao tặng đến mức độ cho đi chính bản thân của mình để người mình yêu được sống và được sống dồi dào. Nguyên tắc vận hành của mức độ này chỉ có thể là “tự nguyện trao tặng” và đáp trả thật lòng bằng tâm tình tri ân.
KẾT
Một mặt, chúng ta nhận thấy tiến trình yêu thương nói trên như một khát vọng siêu việt của con người, tiến trình ấy hướng con người đến vóc dáng tình yêu của Thiên Chúa. Nét đặc trưng của Tân Ước không phải là “Mến Chúa yêu người”, vì đó mới chỉ là mức độ của Cựu Ước. Trong khi đó Đức Giêsu mời gọi các môn đệ yêu thương như chính Ngài đã yêu thương, và yêu thương như chính Chúa Giêsu yêu thương nghĩa là “hy sinh mạng sống vì bạn hữu” : :
“Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết”. (Ga 15,12-15)
Mặt khác chúng ta cũng nhận ra vóc dáng tình yêu như thế đã được “phác hoạ” trong bản chất của con người. Chúng ta nhận thấy, chẳng hạn, tiến trình của tình yêu như thế thể hiện khá rõ trong tình yêu của đôi tình nhân- tình yêu trong thời gian đầu của hôn nhân- và thứ tình yêu của vợ chồng khi đã chín mùi trong tình nghĩa gia đình và với con cái. Tiến trình ấy, trong rất nhiều gia đình, đã bộc lộ đường nét như hạt lúa thối đi để nẩy sinh nhiều bông hạt khác :
“Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”. (Ga 12,24).
Nguyễn Trọng Viễn O.P.