Phẩm giá và Chức năng trong Đời Sống Thánh Hiến - Phần 2 (Phần cuối)
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, khái niệm phẩm giá con người hay nhân phẩm hoặc nhân quyền đã được hình thành do từ sự hiện diện lù lù, của những người nghèo, những người bé mọn. * Thời Cận Đại, ta có thể kể cột mốc chính của tiến trình hình thành khái niệm nhân quyền là bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp 1789. Không kể nguồn mạch sâu xa của những tư tưởng này trong Kitô giáo (ta sẽ nói sau), người ta có thể thấy, đi trước bản Tuyên Ngôn của Cách Mạng Pháp, đã có một số tư tưởng khẳng định những quyền căn bản của con người như Thomas Hobbes (1588-1679) và J.Locke (1632-1704) ở Anh; đặc biệt là tư tưởng của các triết gia Pháp trong nhóm Bách Khoa như Montesquieu (1689-1755) Diderot (1713-1784), J.J Rousseau (1712-1778)...; và người ta cũng thấy có một số bản tuyên ngôn pháp lý quan trọng khẳng định những điều tương tự : Tuyên Ngôn Nhân Quyền 1689 của Quốc Hội Anh; Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ (1776). Tuy nhiên, bản tuyên ngôn của Cách Mạng Pháp 1789 là một cột mốc quan trọng, vì nó có một tầm ảnh hưởng rộng lớn khắp Châu Âu.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
Dàn bài khái quát
1. Phẩm giá con người
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, khái niệm phẩm giá con người hay nhân phẩm hoặc nhân quyền đã được hình thành do từ sự hiện diện lù lù, của những người nghèo, những người bé mọn.
* Thời Cận Đại, ta có thể kể cột mốc chính của tiến trình hình thành khái niệm nhân quyền là bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp 1789. Không kể nguồn mạch sâu xa của những tư tưởng này trong Kitô giáo (ta sẽ nói sau), người ta có thể thấy, đi trước bản Tuyên Ngôn của Cách Mạng Pháp, đã có một số tư tưởng khẳng định những quyền căn bản của con người như Thomas Hobbes (1588-1679) và J.Locke (1632-1704) ở Anh; đặc biệt là tư tưởng của các triết gia Pháp trong nhóm Bách Khoa như Montesquieu (1689-1755) Diderot (1713-1784), J.J Rousseau (1712-1778)...; và người ta cũng thấy có một số bản tuyên ngôn pháp lý quan trọng khẳng định những điều tương tự : Tuyên Ngôn Nhân Quyền 1689 của Quốc Hội Anh; Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ (1776). Tuy nhiên, bản tuyên ngôn của Cách Mạng Pháp 1789 là một cột mốc quan trọng, vì nó có một tầm ảnh hưởng rộng lớn khắp Châu Âu.
* Sau đó, trong thế kỷ XX, chúng ta có bản Tuyên Ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc 1948. Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc được biểu quyết tại Paris ngày 10-12-1948 . Điều Một của văn kiện viết : “Mọi người đều sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm giá và quyền lợi. Con người có lý trí và lương tâm, và phải đối xử với nhau trong tinh thần huynh đệ”. Ta thấy Bản tuyên ngôn loại trừ hết mọi thứ kỳ thị về chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, tư tưởng; trong đó có liệt kê những điều khoản về quyền tự do cá nhân và quyền chính trị xã hội.
* Nói chung, người ta thấy có bốn “thế hệ nhân quyền” :
- Quyền tự do và quyền công dân trong lãnh vực chính trị (các bản tuyên ngôn thời cận đại)
- Quyền tự do cá nhân và quyền trong chính trị, xã hội (Bản Tuyên Ngôn của Liên Hiệp Quốc)
- Quyền của chủ thể người xét như là những nhóm cộng đồng (những suy tư của nhiều học giả và nỗ lực của Liên Hiệp Quốc để cổ võ quyền độc lập và tự quyết của các dân tộc, các nhóm người như phụ nữ, trẻ em, dân tộc ít người)
- Quyền của nhân loại nói chung : cuối thế kỷ XX, người ta lại lưu tâm nhiều đến quyền sống của toàn thể nhân loại, kể cả thế hệ tương lai, chẳng hạn trong việc bảo vệ môi trường sống của trái đất.
* Điều quan trọng là những nỗ lực của con người trong việc hình thành và phát triển ý thức về nhân quyền luôn được gợi hứng, bị thúc bách do những tình cảnh đau thương, mất mát của những người ở cùng đáy xã hội. Đó là một quy luật lịch sử.
Chúng ta có thể nói được rằng, càng “nhìn xuống”, càng “đi xuống”, thì người ta càng có nhiều cơ may khám phá ra những gì là căn bản nhất của vận mạng con người. Phẩm giá con người được lộ ra rõ nét hơn hết nơi sự hiện hữu căn bản nhất của kiếp người, khi mà những nét tô vẽ đã được tẩy sạch. Những nét tô vẽ lên bộ mặt của nhân loại, đúng ra, là những đòi hỏi cần thiết và làm cho con người thêm đẹp, nhưng lại luôn có nguy cơ làm mất đi khuôn mặt trung thực nhất của hữu thể người.
* Việc khám phá ra ý niệm nhân quyền có lẽ là một thành quả tốt đẹp nhất của lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, ngay trong trong hoa trái tốt đẹp này, đã xuất hiện những nguy cơ khó có thể tránh khỏi, những nguy cơ đe dọa chính ý nghĩa căn bản của phẩm giá con người.
Khi khám phá ra phẩm giá căn bản của con người, người ta được đưa dẫn đến thái độ, chẳng những khẳng định con người có một phẩm giá đặc biệt, khác với con vật, nhưng còn phải tôn trọng từng con người, tôn trọng cá nhân mỗi người. Mỗi người phải được nhìn nhận như một cá nhân độc đáo, được thể hiện được tính cách chủ thể trong đời sống của mình. Không thể coi một con người nào như một con số vô danh chìm khuất trong tập thể; và mỗi con người như một chủ thể độc đáo cũng không thể sống đời mình một cách đoàn lũ, hùa theo đám đông một cách vô nghĩa.
Ở đây, ta có thể thấy ngay mối nguy cơ tiềm ẩn thứ nhất đó là thái độ cá nhân chủ nghĩa. Người ta dễ dàng đi từ chỗ sống phẩm giá bản thân mình một cách phong phú, đến thái độ chỉ biết bản mình mà không biết đến người khác. Khuynh hướng ích kỷ nằm sẵn trong mỗi người và người ta không dễ vượt qua nó. Người ta có thể bào chữa cho kiểu sống “lập di” của mình bằng cách gán cho nó ý nghĩa “độc đáo”. Rồi người ta cũng dễ dàng đòi người khác phải tôn trọng quyền lợi của mình, nhưng lại không dễ tôn trọng quyền lợi của người khác.
Mối nguy cơ tiềm ẩn thứ hai lại là khuynh hướng tập thể chủ nghĩa. Trong ý nghĩa này, người ta thấy rõ tính cách nguy hiểm đe dọa, phẩm giá con người nơi những chế độ toàn trị (totalitarisme) của thế kỷ XX; nơi đó, người ta xoá nhòa ranh giới giữa đời sống chung và đời tư của mỗi người. Đặc điểm chính yếu của chế độ toàn trị là cá nhân bị trưng dụng để phục vụ cho mục đích và lợi ích của tập thể; nơi đó, cá nhân chỉ được coi như một đơn vị trong một tập thể.
Có thể nói những nguy cơ tiềm ẩn trong vấn đề phẩm giá con người như thế được bộc lộ ra trên bình diện chức năng.
2. Những hệ lụy của phẩm giá
Thật ra, quá trình khám phá và đấu tranh cho phẩm giá con người luôn dựa trên một nền tảng, đó là việc coi con người như một ngôi vị, hoặc nhân vị (personne). Một cách minh nhiên hoặc mặc nhiên, người ta ý thức mỗi con người là một nhân vị. Từ ngữ ngôi vị cũng phải trải qua một lịch sử dài mới có thể hình thành rõ ý nghĩa.
luôn hàm nghĩa, người ta cũng hình thành quan niềm về ngôi vị. Ngôi vị là một suy nghĩ đến những tính cách khác nhau để thể hiện bản thân mình. Đó là điều tất nhiên, người ta không chỉ là người, nhưng còn phải làm người. Nền tảng của nhân phẩm là con người được là người, nhưng con người cũng khác con vật ở chỗ còn cần phải làm người, nghĩa là thể hiện mình trong một quá trình, hoàn thành cuộc đời mình trong một lịch sử, “làm nên” bản thân mình bằng một nhân cách phong phú, sung mãn. Chính vì thế mà từ ngữ ngôi vị (personne) để chỉ bản thân con người, khác với con vật, lại luôn bao hàm một khát vọng triển nở không thể bỏ đi, được diễn tả trong các từ ngữ nhân cách (personnalité) hoặc nhân vật (personnage). Người ta muốn khẳng định cá tính của mình, muốn hoàn thành ngôi vị của mình với một nhân cách sung mãn hoặc muốn trở thành một nhân vật tiếng tăm….
Có thể nói cuộc đời của mỗi người là một bài toán, trong đó con người phải đáp ứng được hai nhu cầu căn bản : nhu cầu được chấp nhân và nhu cầu tự khẳng định chính mình.Có người thì chọn đáp án cho mình bằng cách phải khẳng định chính bản thân mình để được người khác chấp nhận. Có người, ngược lại, khao khát được chấp nhận một cách tặng không, để rồi việc khẳng đinh chính bản thân mình có thể trở nên một lời đáp trả nghĩa tình…
Mặt khác, điều nghịch lý trong thực tế là, khi nhân loại nại đến phẩm giá người để đòi hỏi sự bình đẳng, thì việc khẳng định “ngôi vị” của mình lại luôn đưa đến một sự so sánh, một sự phân cấp thứ bậc, một sự đánh giá cao thấp. Rồi khi lao vào nỗ lực khẳng định bản thân mình, thì người ta lại dễ quên mất điều căn bản làm nên phẩm giá bản thân mình. Khi đó, người ta lại rơi vào một thứ xếp hạng các tầng lớp xã hội, không phải theo tiêu chuẩn của những giai cấp cố định như trong xã hội phong kiến (quí tộc, tăng lữ, giai cấp thứ ba), mà theo một cách đánh giá về tài năng, về địa vị xã hội, hoặc về của cải, hoặc ngay cả về đức độ… Làm sao một linh mục, hoặc một kỹ sư, bác sĩ, giám đốc… dẹp bỏ được một thứ cảm giác “tự tin” vào địa vị của mình, tự hào về vị thế của mình, tự mãn về sự thành công của mình ? Cha ông ta đã từng nói : miệng người sang có gang có thép…là như vậy.
Chiều hướng đó đi dần tới tình trạng, như trong nền kinh tế thị trường, có những mẩu quảng cáo, có vẻ như đã thổi phồng quá đáng sản phẩm của mình, nhưng cũng không phải là không đánh trúng vào thị hiếu vốn có của con người, đánh vào đúng lòng khát khao khẳng định mình để được chấp nhận, hoặc để hơn thua người khác : đôi dép, hoặc mùi nước hoa, nước gội đầu…lại có thể làm cho người ta trở nên tự tin, lịch lãm, vẽ nên được tương lai của đời sống…
Thật ra, trong mức độ con người với nhau, người ta không thể tìm thấy được một nền tảng nào để có thể khẳng định, có thể bảo đảm cho một sự bình đẳng đích thực. Nếu người ta tìm thấy được sự bình đẳng về phẩm giá là-người, xét như là con người là hữu thể có lý trí, thì người ta lại không thể tìm thấy được sự bình đẳng thực sự trong hành trình làm-người.
3. Phẩm giá và chức năng trong Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô
3.1. Nền tảng của phẩm giá con người ở nơi Thiên Chúa
Một khuynh hướng trái ngược trong một vài cuộc cách mạng là người ta lại muốn “cào bằng” tất cả, ăn đồng chia đều trong tất cả mọi công việc, dù đó là những công việc thực sự không thích hợp cho một số người, mọi người đều phải và được làm những công việc như nhau.
Cả hai thái độ đó đều do không phân biệt được phẩm giá và chức năng.
Một khi không phân biệt được phẩm giá và tài năng, người ta, hoặc sẽ rơi vào thái độ khinh thường những người có ít tài năng trong cuộc đời. Nguyên nhân sâu xa của việc quên mất phẩm giá cũng là vì một lối đánh giá con người theo một tiêu chuẩn chung của tài năng, tức là khả năng đóng góp nhiều ít cho xã hội. Trong khi đó ý nghĩa của phẩm giá thì lại không thể dựa trên một tiêu chuẩn lợi ích xã hội, và người ta chỉ có thể một chút ánh sáng về điều này trong lãnh vực yêu thương.
Thật sự, trong thế giới Tây Phương, chính Sách Thánh và tư tưởng của Kitô giáo mới là một nguồn mạch dồi dào cho vấn đề phẩm giá con người. Khẳng định căn bản của khoa nhân học Kitô giáo chính là mặc khải con người được sáng tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa.
Chúng ta có thể tìm thấy một nguồn mạch của phẩm giá con người trong truyền thống Kinh Thánh. Nền tảng của khoa nhân học Kitô giáo là chính là khẳng định con người được sáng tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa (X. St 1,26-27; 9,6; Kn 2,23-24).
Chính Tin Mừng của Chúa Giêsu mới thật sự là nguồn mạch của phẩm giá con người, phẩm giá là-người cũng như phẩm giá làm-người. Chúa Giêsu cho thấy phẩm giá là-người của những kẻ bé mọn và khẳng định nền tảng của sự bình đẳng ấy được chuẩn nhận nơi chính Thiên Chúa. Sự quan tâm của Thiên Chúa đến cá nhân con người được khẳng định trong việc trao ban cho mỗi người có một thiên thần bản mệnh.
"Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này ; quả thật, Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”. (Mt 18, 10)
Tuy nhiên, con người không phải chỉ hiện diện trên mặt đất như một cái gì đã hoàn tất. Con người cần phải sống cuộc đời mình để hoàn thành phẩm giá là người bằng một tiến trình làm người. Con người và cuộc đời, đó là hai điều không thể tách rời nhau. Phẩm giá là người cần phải được “hoàn tất” khi tính đến một thứ tạm gọi là “phẩm giá làm người” hay “phẩm chất đời người”. Chúa Giêsu cũng khẳng định phẩm giá làm-người khi cho biết điều quí trọng của đời sống con người không phải là một so sánh sự hơn thua bên ngoài, nhưng là một sự hoàn thành chính bản thân mình trong cuộc đời, và điều đó thể hiện trong sự sẵn sàng cho đi ít nhiều chính bản thân mình :
“Người liền nói : "Thầy bảo thật anh em : bà goá nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. Quả vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào dâng cúng; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình." (Lc 21,3-4)
Và cuối cùng, cũng chính Thiên Chúa mới thể hiện được một sự tôn trọng “phẩm giá siêu nhiên” của con người, khi mời gọi tất cả mọi người, cả những người nghèo hèn tầm thường nhất, được đón nhận được trọn vẹn ơn cứu độ, khi Ngài thực hiện một mầu nhiệm cứu độ đảo ngược so với kiểu suy nghĩ sáo mòn của con người :
"Đức Giê-su nói với họ : "Tôi bảo thật các ông : những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông”.(Mt 21,31)
Lập trường của Chúa Giêsu cho thấy Thiên Chúa tôn trọng con người, tôn trọng cả trong phẩm giá là người cho đến phẩm chất làm người. Nếu phẩm giá là người là một gia sản chung của mọi con người mà Thiên Chúa ban cho, một cách nào đó, theo kiểu đồng đều cho mọi người, thì phẩm chất làm người lại được xác định trong một thái độ tôn trọng hoàn cảnh riêng, tâm tính riêng, điều kiện sống riêng của mỗi người. Không có một sự đồng đều “khách quan” theo kiểu một bài thi chung cho mọi học sinh, nhưng là một sự nhìn đến, tính đến nét đặc trưng của cá nhân mỗi người. Ở đây, một sự đồng đều khách quan lại chỉ có thể là một sự thiếu công bằng và coi rẻ chính phẩm giá làm người. Nếu phẩm chất làm người không tính đến hoàn cảnh riêng của cá nhân, thì phẩm giá là người trở nên vô nghĩa lại trở thành một sự kết án trước cho những kẻ bé mọn. Nói theo kiểu triết học Kant, con người có “cứu cánh tại thân”, đây là một sự trân trọng phẩm giá người; và xã hội con người cần phải trở nên như một nước “cộng hòa các cứu cánh tại thân”, đây là một xã hội vừa tôn trọng phẩm giá cá nhân vừa mời gọi cá nhân vươn lên đến sự hiệp nhất cao cả.
Lòng tôn trọng đối với phẩm giá và phẩm chất người như thế là điều kiện căn bản để con người có thể sống trong thế giới yêu thương đích thực.
3.2 Tôn trọng phẩm giá và chiêm ngắm nguồn mạch tâm linh nơi người nghèo
Người nghèo không phải chỉ là người không có tiền bạc, nhưng là người không có đủ năng lực để đi vào thế giới đổi chác. Người nghèo cũng là người tội lỗi, là người thiếu đức độ, là người thiếu uy tín, là người bị người ta khinh dể. Như thế, phẩm giá người nghèo không còn dựa trên một nền tảng nào theo “văn hóa” của con người. Bản thân người nghèo chỉ còn lại một điều, và là điều quan trọng nhất : phẩm giá con người mà Chúa ban cho. Do đó, điều trước tiên và căn bản trong việc phục vụ người nghèo chỉ có thể là sự tôn trọng phẩm giá căn bản của một con người như họ có được trước mặt Chúa. Từ sự chân nhận phẩm giá một con người, một con người “trần trụi” về mọi giá trị thế gian, nhưng lại có đầy đủ giá trị căn bản trước mặt Chúa như thế, chúng ta mới có thể tìm lại thế giới tình thương của Chúa, đó là sự chấp nhận chính bản thân. Người nghèo bị “bắt buộc” vượt qua qui luật đổi chác để đòi được sống trong qui luật nghĩa tình. Thật ra, trong tương quan nghĩa tình, người ta không đổi chác được. Một thanh niên tự hào mình “đẹp trai, học giỏi, con nhà giầu, muốn cô nào chẳng được…” đó là một người không biết yêu. Yêu thương là trao tặng bản thân cho nhau, và không ai có quyền “đem hết gia tài của mình để đổi lấy tình yêu” (diễm ca). Yêu thương là nhận ra mình thiếu bản thân người khác, và khẩn cầu sự tặng không bản thân của người khác, lãnh nhận bản thân của người khác với lòng tri ân. Từ nền tảng đức Tin như thế, chúng ta cũng hiểu được ý nghĩa của tình yêu Kitô giáo đúng đắn hơn. Yêu thương không hẳn là quí mến những phẩm chất “sự vật” bên ngoài bản thân, nhưng là quí trọng chính bản thân một con người. Yêu thương là chấp nhận bản thân một con người, là xây dựng một nền móng thuộc về nhau trong đức tin.
Người nghèo là người không có tiếng nói, nghĩa là lời nói của họ không được lắng nghe, không được trân trọng. Người nghèo không có tiếng nói, vì tiếng nói của họ không có được những “phương tiện” hỗ trợ, không có địa vị, tiền bạc. Người nghèo không có tiếng nói, vì những cách diễn tả của họ không có được nét đẹp “văn hoá”, dĩ nhiên đây là văn hóa xã hội trần thế. …Đúng hơn, người ta không nghe được tiếng nói của người nghèo, vì người ta không có được một “chân trời” giá trị mà Thánh Thần mở ra. Như thế, sự trân trọng phẩm giá người nghèo biểu lộ trong thái độ, nhờ một thứ văn hóa đức Tin, lắng nghe được “tiếng nói” của người nghèo. Chính nhờ Tin Mừng của Chúa, nhờ chiêm ngắm nhiệm cục cứu độ lạ lùng của Chúa, người tín hữu mới có thể nhận ra tiếng nói của người nghèo.
“Tiếng nói” của người nghèo không có “âm thanh” dễ thương, dễ nghe, dễ lọt tai…, nhưng thể hiện trong sự khẩn nài dai dẳng, thể hiện trong một thứ khát vọng lì lợm. Ta có thể thấy thái độ lì lợm như thế trong trình thuật Giacóp quyết không buông tha vị thiên sứ vật lộn với ông trong đêm, cho đến khi được thiên sứ ấy chúc phúc cho mới thôi. Trong Tân Ước, ta cũng thấy thái độ ấy nơi bà góa nghèo, lì lợm đòi vị quan án “không kính sợ Thiên Chúa và chẳng coi ai ra gì” phải giải quyết nỗi bất công của bà…Ta cũng thấy thái độ tương tự trong những ví dụ khác của Chúa Giêsu về việc cầu nguyện.
Người nghèo không sống được trong thứ “văn hóa thế gian”. Tuy nhiên, trong “văn hóa đức Tin”, trong nhiệm cục cứu độ của Chúa, người nghèo lại là những người sống với bản thân, đòi được chấp nhận bản thân mình cho tới cùng, mặc dù biết rằng mình không có gì để đổi chác trong thế giới “chợ đời”.
Người ta nói rằng : phú quí sinh lễ nghĩa. Điều đó cũng có nghĩa là người giầu sống trong một vòng vây của rất nhiều tường rào của lễ nghĩa, của văn hoá, của lập trường tư tưởng... Những điều đó chắc hẳn là tốt, nhưng chúng cũng không phải là không có thách đố. Trong vòng vây của những lớp “lễ nghĩa” như thế, người ta đánh giá nhau qua phong thái lịch sự, người ta lo buồn chỉ vì một lời nói thiếu lịch sự . . . Trong khi đó, người nghèo là những người “bị” bắt buộc đưa chính bản thân mình vào cuộc tương giao. Người nghèo kêu gào cách lí lợm và dai dẳng để được chấp nhận, người nghèo chia sẻ “hai đồng xu”, không phải vì lễ nghĩa hay danh giá, mà là chia sẻ chính sự sống của bản thân mình. Người nghèo không bị dằn vặt nhiều vì những “lớp hàng rào”. Khi người ta túng thiếu thì lễ nghĩa quí tộc như một thứ trang trí chẳng quan trọng bằng chính những điều gắn liền với sự sống.
Mặt khác, chính vì người nghèo sống trong sự bấp bênh, bấp bênh của chính bản thân, nên họ dễ tin tưởng và phó thác trọn vẹn cuộc đời mình vào Thiên Chúa hơn. Với người nghèo, Thiên Chúa không chỉ là một Đấng cần thiết trong suy tư đấu đá với những lý thuyết vô thần, Thiên Chúa không chỉ là Đấng trợ giúp một vài khó khăn lặt vặt, nhưng Ngài là nguồn mạch ban sự sống đích thực, Ngài thực sự là Đấng vượt qua cái chết và Phục Sinh trong chính cuộc đời của mình
“Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc”
Phẩm giá và chức năng
1. Phẩm giá và chức năng
* Bài toán của cuộc đời : khẳng định mình để được chấp nhận hoặc được chấp nhận thì khẳng định mình.
- Nhân loại khám phá ra phẩm giá, nhưng không nối kết được phẩm giá và chức năng cho đúng :
. hoặc không phân biệt được phẩm giá và chức năng,
. hoặc khám phá ra phẩm giá, nhưng không thể đi đến cùng được ý nghĩa của chức năng : tìm được sự trân trọng phẩm giá là-người, nhưng không tìm được ý nghĩa của phẩm giá làm-người, nghĩa là thể hiện trọn vẹn phẩm giá của mình trong chức năng. Điều đó được diễn tả trong ý niệm nhân phẩm và ý niệm ngôi vị
- Giáo Hội cũng loay hoay, nếu không trở về nguồn mạch của Tin Mừng : cuộc tranh luận về đời sống thánh hiến hay đoàn sủng…/ Cuộc trở về nguồn của Vatican II khi đưa ra nền thần học về tác vụ…
2. Chức năng phải gắn liền với phẩm giá
* Một gia đình quê, làm ăn thất bại hoài… một người thân cho gọi đứa con út lên thành phố, cho ăn học…
- Phẩm giá ở mức độ con người, chỉ là sự khẳng định cái chung của mọi người (phẩm giá), nhưng con người cần tìm ra bản thân của chính mình trong cái ngôi vị (personne) của mình. Và khi khẳng định cái personne của mình, thì người ta lại thích biến thành nhân cách (personnalité), hoặc nhân vật (personnage) mà quên cái phẩm giá (humanité - dignité humaine)
- Lý do là vì người ta không tìm được nền tảng nào sâu hơn để nối kết phẩm giá. Hoặc người ta phải nại đến ý nghĩa con người có lý trí, hoặc người ta nại đến sự quy định của nhà nước (K. Marx) Giống như vô thần thì chỉ có thể tìm về lập trường “bạn ra bạn, thù ra thù”…
- Một sự chìm lắng sâu hơn, đó là hiểu bản chất người như một “sinh vật chính trị”, đúng hơn là sinh vật sống trong đô thị (chữ politique do từ chữ Polis, nghĩa là đô thị. Trong đời sống chung của đô thị, người ta sống một tình trạng tham dự vào lợi ích chung (chữ koinônia của Aristote có nghĩa là thông hiệp vào sở hữu chung; và con người “sống trong đô thị” (kôinônos) là những người tham dự vào giá trị và thiện hảo chung của đô thị…Ý nghĩa nguyên thủy của từ communicatio là như thế, chứ không phải chỉ có nghĩa là trao đổi thông tin như người ta hiểu ngày nay).
3. Thiên Chúa nhìn xuống
- Khi mầu nhiện cứu độ được “nhìn xuống”, Giáo Hội ý thức được tình thương cao cả của Thiên Chúa thể hiện trong lòng từ bi thương xót.
- Khi mầu nhiệm cứu độ được “nhìn lên”, người ta hình thành nên nền thần học đền thay.
Một thí dụ khác : trong khi chuẩn bị Thượng Hội Đồng Giám Mục về đề tài Đời Sống Thánh Hiến, có một luồng tư tưởng muốn tìm nét căn bản của nếp sống này trong ý nghĩa của “đoàn sủng” thay vì quy chiếu vào việc thánh hiến. Người ta cho rằng định nghĩa đời tu bằng ý niệm “thánh hiến” thích hợp cho đời sống đan tu nhiều hơn, và không làm rõ nét những đoàn sủng khác sau trong các hội Dòng. Tuy nhiên, sau khi gom góp các ý kiến và viết ra tông huấn Đời Sống Thánh Hiến, đức thánh cha Gioan Phaolô II và muốn sử dụng lại khái niệm căn bản là “thánh hiến”. Ngài trình bày đời sống thánh hiến trong ba chiều kích : (1) hướng thượng : thánh hiến; (2) hướng ngoại : sứ vụ; (3) và hướng nội : đời sống cộng đoàn. Khẳng định của tông huấn có thể hiểu như là một sự khẳng định căn bản về phẩm giá đời tu dựa trên thực tại được thánh hiến. “Thánh hiến” là nét căn bản làm nên phẩm giá bình đẳng giữa mọi thành phần.
Phẩm giá người Kitô hữu được thể hiện