Vài dữ kiện triết học liên quan đến khái niệm Misericordia - Phần 2 (Phần cuối)

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Thật sự ra, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cũng có thể thấy nhiều “triệu chứng” của bệnh vô cảm. Chẳng hạn khi ta mừng sinh nhật một người bạn, và ta tìm một món quà để tặng. Có ba tiêu chuẩn : - tìm món quà sang trọng. - tìm món quà xứng đáng với địa vị của người tặng quà. - tìm món quà nào mà người nhận quà cần và thích nhất. Ở đây, ta đã có thể nhận ra những giá trị ưu tiên khác nhau, biểu lộ những cảm thức khác nhau : - Người tìm món quà sang trọng, đó là con người bám cứng vào sự hợp lý, nhất thiết phải thực hiện với sự đúng đắn nghiêm cẩn của phương cách diễn tả; - Người tìm món quà xứng đáng với địa vị của mình, đó là người con người quá “tự trọng”, luôn bảo vệ “tư cách” của mình và tìm khẳng định chính mình trong mọi tình huống; - Người tìm món quà thích hợp cho người bạn nhận quà, đây lại là người nhậy cảm, có nhiều khả năng thông hiệp, thấu cảm vui buồn với ai khác. Trong thái độ của hai mẫu người thứ nhất và thứ hai, chúng ta có thể thấy mầm mống của một thứ vô cảm.

2. Siêu âm tìm căn nguyên

Thật sự ra, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cũng có thể thấy nhiều “triệu chứng” của bệnh vô cảm. Chẳng hạn khi ta mừng sinh nhật một người bạn, và ta tìm một món quà để tặng. Có ba tiêu chuẩn :

- tìm món quà sang trọng.

- tìm món quà xứng đáng với địa vị của người tặng quà.

- tìm món quà nào mà người nhận quà cần và thích nhất.

Ở đây, ta đã có thể nhận ra những giá trị ưu tiên khác nhau, biểu lộ những cảm thức khác nhau : - Người tìm món quà sang trọng, đó là con người bám cứng vào sự hợp lý, nhất thiết phải thực hiện với sự đúng đắn nghiêm cẩn của phương cách diễn tả; - Người tìm món quà xứng đáng với địa vị của mình, đó là người con người quá “tự trọng”, luôn bảo vệ “tư cách” của mình và tìm khẳng định chính mình trong mọi tình huống; - Người tìm món quà thích hợp cho người bạn nhận quà, đây lại là người nhậy cảm, có nhiều khả năng thông hiệp, thấu cảm vui buồn với ai khác. Trong thái độ của hai mẫu người thứ nhất và thứ hai, chúng ta có thể thấy mầm mống của một thứ vô cảm.

3. Bệnh trạng của xã hội Việt Nam hiện nay

Làm sao xã hội Việt Nam lại nẩy sinh ra bệnh vô cảm trầm trọng như hiện nay ? Có lẽ có nhiều nguyên nhân tương tác lẫn nhau. Chúng ta thử truy tìm một số nguyên nhân :

3.1 Xã hội hiện đại

Người ta thấy rằng, cuộc sống càng văn minh, người ta càng muốn giải quyết mọi vấn đề một cách hợp lý, và một cách nào đó, cái lý dần dần lấn át cái tình. Xã hội văn minh, để tránh những sai phạm, ngày càng chuẩn hoá hành vi lối sống của con người với nhau, sự chuẩn hoá được xác định qua luật pháp. Điều đó khiến cho con người, từ chỗ sợ những hành vi sai luật, đến chỗ tìm sự an toàn cho mình, tránh dính dáng đến người khác. Khi gặp một đứa bé bị tai nạn, người ta gọi cấp cứu chứ không dại gì dính tay vào. Hình thức vô cảm này phát triển mạnh ở những nước văn minh.

3.2 Xã hội nhiễu nhương

Khi xã hội nhiễu nhương, luật pháp không nghiêm minh, cá nhân mỗi người không còn dám tin vào ai hay tin vào cái gì, con người không cảm thấy an toàn, và người ta phải lo bảo vệ chính mình, thì bệnh vô cảm gia tăng nhiều.…. Ta có thể chẩn đoán căn bệnh này khi thấy bầu khí xã hội tạo nên một thái độ căn băn của cá nhân mỗi người, thái độ đối phó.

Khi cuộc sống chung quanh có nhiều sự dòm ngó, dò xét và khi thấy sự hiện diện cũng như công việc của mình có thể bị đe doạ, thì cá nhân mỗi người hình thành nên một thứ phản ứng gọi là bản lĩnh đối phó. Ngược lại, khi cá nhân được hỗ trợ, được chấp nhận và khuyến khích, thì người ta sẽ có được thứ bản lãnh sáng tạo. Chúng ta có thể thấy thứ bản lĩnh đối phó phát triển quá mức trong guồng máy xã hội Việt Nam hiện nay, tạo nên thứ khôn vặt, những biện pháp giải quyết nửa mùa chỉ mang tính đối phó với tình huống trước mắt chứ không phải là một sự trân trọng những giá trị căn bản, những giá trị “thiêng liêng” trong tâm hồn.

Con người sống trong bầu khí xã hội nhiễu nhương phải chụp giựt, cướp thời cơ, bon chen, mánh khoé, chà đạp lên mọi lẽ phải, mọi thứ luân thường đạo lý, và nếu cần thì chà đạp cả người khác… để giành lấy sự sống cho mình. Điều đó đương nhiên tạo nên và nuôi dưỡng căn bệnh vô cảm.

3.3 Xã hội nhiễm độc

Nếu tình trạng xã hội nhiễu nhương, là khi không có một trật tự bên ngoài đúng đắn, và cá nhân bộc lộ những khuynh hướng ích kỷ vốn tiềm tàng trong mỗi con người; thì tình trạng nhiễm độc lại là tình trạng chính cơ chế và tưởng hướng dẫn trong xã hội lại góp phần làm tăng thêm sự hư hoại trong bản chất người.

Mạnh Tử nói rằng khi người ta thấy một đứa bé sắp rơi xuống giếng, thì ai cũng xót thương mà ra tay cứu vớt. Hành vi tốt này không do tính toán tư lợi hay tìm kiếm công danh, nhưng là tình cảm trắc ẩn mà bình thường trong con người ai cũng có. Đó chính là nền tảng tính thiện của con người. Từ tâm tình tối thiểu và căn bản ấy, nếu người nào biết phát triển rộng lớn thì đều có thể trở thành thánh nhân; hoặc nếu làm cho nó tiêu tán thì trở nên chẳng khác gì con vật.

Làm tiêu tán tính thiện là thế nào ?

Trước tiên, ta thấy một hệ quả đương nhiên của chủ trương vô thần là phải chọn nguyên tắc sống : bạn ra bạn, thù ra thù. Nguyên tắc ấy được nhấn mạnh, được nâng lên thành đường lối giáo dục, được tuyên truyền trong một bầu không khí chính trị hoá toàn bộ cuộc sống con người. Hệ quả đương nhiên là, từ lúc thơ ấu, những đứa trẻ đã được nhồi nhét tư tưởng chính trị để biết căm thù, để biết nhìn với con mắt “mang hình viên đạn”… và điều đó chắc chắn là tiêu tan mối thương cảm tự nhiên giữa người với người. Chúng ta từng thấy trong phim ảnh những đứa bé “kim Đồng”, bắn chết “thằng Mỹ” và nhẩy lên vỗ tay reo hò khoái trá…

Xã hội nhiễm độc làm gia tăng sự vô cảm từ hai nguyên nhân nói trên, và đưa đến những hệ quả đau lòng của căn bệnh vô cảm hiện nay.

4. Đâu là thuốc chữa ?

4.1. Tương quan nhân thân

Khi thấy có những tội phạm ra trước toà tỏ vẻ ăn năn sám hối, người ta nói rằng : họ chỉ sám hối khi không có điều kiện phạm tội nữa. Điều đó có lẽ có nhiều phần đúng. Nhưng người ta cũng có thể nói : những người chưa phạm tội, chẳng qua vì họ chưa có điều kiện phạm tội đấy thôi. Quả thật, cuộc sống đầy rẫy những quy luật nghiệt ngã của thế giới, của những áp lực xã hội, của những tương tác chính trị chi phối. Qui luật ấy có vẻ lấn áp, lôi kéo, xô đẩy con người như một sức mạnh lớn hơn tự do, lớn hơn lương tâm, lơn hơn lòng ao ước sự thiện của con người.

Ta cũng thấy điều đó trong cuộc đời đức Giêsu, đặc biệt trong cuộc thương khó của Chúa:

- Qui luật xã hội khiến những người vừa hoan hô Chúa mấy ngày trước, thì sau đó lại hò hét đòi đóng đinh Chúa vào thập giá;

- Qui luật chính trị khiến cho Philatô, mặc dầu biết Đức Giêsu vô tội, cũng đã phải trao đức Giêsu cho người Do Thái đem đi đóng đinh; và qui luật chính trị cũng thúc đẩy Caipha nói rằng thà một người chết thay cho toàn dân (Xc. Ga 11,49; 18,13-14)…

- Áp lực của xã hội khiến cho Phêrô và các môn đệ, trước đó tuyên bố sống chết với Thầy, rồi chẳng bao lâu sau đó thì bỏ trốn hết, và Phêro thì chối Thầy đến ba lần.

……………………….

Thế nhưng, trong trình thuật Thương Khó, ta có thấy được một sức mạnh nào khác có thể đối đầu với những áp lực xô đẩy nghiệt ngã của cuộc đời không ?

Có chứ !!!

- Phêrô oà lên khóc, Phêrô thoát ra khỏi áp lực đang xô đẩy ông chối Thầy, khi nhớ lại lời Chúa đã nói : “Ngay lúc đó, gà gáy lần thứ hai. Ông Phê-rô sực nhớ điều Đức Giê-su đã nói với mình : "Gà chưa kịp gáy hai lần, thì anh đã chối Thầy đến ba lần." Thế là ông oà lên khóc.” (Mc 14,72).

- Đặc biệt nhất là Chúa Giêsu, trong vườn Cây Dầu, đã thốt lên lời Abba, Cha ơi… Chính trong mối tương quan cá vị, mối tương quan nhân thân thâm sâu ấy đã giúp Đức Giêsu tìm được sức mạnh để không bị xô đẩy bởi áp lực bên ngoài, nhưng thiết tha tìm thực hiện ý Cha :

Người nói : "Áp-ba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn." (Mc 14,36)

Chỉ có một mối tương quan nhân thân (mối tình thân cụ thể của ai đó), nghĩa là thoát khỏi thái độ ataraxia, mới có thể tạo nên sức mạnh giúp con người tìm lại bản chất người trong tự do, tìm lại được thái độ đúng đắn như một con người biết yêu thương.

4.2. Tìm lại ý nghĩa lòng từ bi thương xót

Người ta nói nhiều, nói quá nhiều về tình yêu… nhưng có lẽ cũng chẳng có gì hàm hồ cho bằng tình yêu. Mỗi người hiểu và sống tình yêu một kiểu, thể hiện tình yêu một kiểu…và với nhãn hiệu tình yêu, đôi khi người ta làm những chuyện hết sức tàn ác. Cha ông chúng ta đã từng nói : yêu nhau lắm, cắn nhau đau…

Đức Gioan Phaolô II, trong thông điệp Thiên Chúa Giầu Lòng Từ Bi Thương Xót, nói rằng : có một danh hiệu thứ hai của Tình yêu, đó là lòng nhân hậu (từ bi thương xót).

“Vì lòng nhân từ là chiều kích không thể thiếu của tình yêu; nó như là danh hiệu thứ hai của tình yêu”.

Chúng ta hiểu rằng điều căn cốt của vận hành yêu thương trong Kitô giáo là : mối tương quan con người với nhau phải được đặt trong thế tay ba. Có Thiên Chúa ở đó; và tình yêu con người với nhau chỉ có thể vững bền, quảng đại khi được nối kết vào nguồn mạch tình thương nhân hậu của Thiên Chúa. Khi nói “tôi yêu anh”, thì trong niềm tin Kitô giáo, điều đó có nghĩa là : từ căn nguyên, tôi và anh đều “đáng thương” trước mặt Chúa. Phẩm chất căn bản của tình nghĩa “tôi thương anh” hay “anh thương tôi” thì cũng đều xuất phát từ phẩm chất lòng nhân hậu, lòng từ bi thương xót của Chúa.

Tạm kết

Thật ra, căn bệnh vô cảm không phải chỉ là chuyện của ngày hôm nay và cũng không phải chỉ là chuyện của thời đầu Kitô giáo. Vô cảm là chuyện của con người mọi thời và mọi nơi. Vô cảm có mầm mống trong tội tổ tông. Khi nguyên tổ loài người từ chối một hành trình cuộc sống được kết dệt bằng sống với, sống thân tình với Chúa và trở nên “một xương một thịt” với nhau (Xc. St 2,24), thì đã chọn phương thức để hoàn thành cuộc đời mình bằng một “trái cấm”. Nguyên tổ chọn trái cấm để trở nên như thần thánh:

“…ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác. (St 3,5)

Đằng sau trái cấm không có ai khác. Chọn trái cấm là chọn phương thức sống cho mình, vì mình, để hoàn thành cuộc đời mình.

Vô cảm là cám dỗ sâu xa nhất của cuộc đời con người. Khi người ta ngại sống với ai khác; khi người ta sợ bị thua lỗ mất mát khi phải sống vì ai khác; khi người ta từ chối con đường yêu thương, khởi từ thái độ để cho lòng mình được rung cảm vì ai khác, thì mầm mống sự ác đã tìm thấy kẽ hở để có thể thoát ra và hoành hành trong cuộc sống nhân sinh.

Misericordia nơi Schopenhauer và Nietzsche

Nguyễn Trọng Viễn O.P.

4.3. Mầm bệnh sâu xa

Nếu trở lại lịch sử Kitô giáo, chúng ta sẽ thấy vấn đề mà chúng ta gọi là “vô cảm” đã là một vấn đề xa xưa. Kitô giáo khi loan báo Tin Mừng đến chư dân, đặc biệt là đến với người Hy Lạp, đã phải đối diện với vấn đề “vô cảm” như một thách đố căn bản.

Xin đọc lại bản văn thánh Phaolo viết trong thư 1 Corintho:

Trong khi đó, sự sống nơi Nietzsche lại sản sinh ra một sự phấn khích huyền bí, hình thành nên những cá nhân độc đáo, những siêu nhân .

4.4. Vài ghi nhận

* Tính ngã vị

* Đặt nền trên bình diện phẩm giá

* Thể hiện trong một quá trình lịch sử

Lòng thương xót là sự gặp gỡ giữa hai ngã vị, là con đường thấu cảm của một ngã vị tự do, yêu thương, quyết định dấn thân vào chính bản thân và cuộc đời của ai khác.

Lòng thương xót là sự gặp gỡ ở nền móng, đó là mối tương quan trong một cộng đồng ngôi vị. Con đường cứu độ của Sách Thánh không phải là ngõ mở "trên nóc nhà" để chỉ có những người ưu tuyển mới có thể vươn tới được, nhưng là đường hầm ở đáy phận người để bất cứ ai dám sống thật con người của mình, dám đặt chân trên mảnh đất lầy lội của bản thân mình, để có thể đi vào được. Con đường cứu độ sách thánh không phải là nắm tóc để lôi lên, nhưng là nâng đỡ từ dưới chân.

ataraxia là một thái độ

Có thể nói được tinh thần của Kinh Thánh chính là điều gọi là sống-với. Ý nghĩa sống-với là ý nghĩa xuyên suốt trong tinh thần Kinh Thánh và đạo lý Giáo Hội. Sống-với không phải chỉ là

Ta có thể tóm tắt ý nghĩa sống với đó trong hai đoạn văn tiêu biểu:

1) Ý nghĩa căn bản của phẩm giá con người trong Kinh Thánh : “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ”. (St 1,27), mà ý nghĩa trọn vẹn nhất phải hiểu là con người chỉ có thể sống trọn bản chất của mình khi sống hiệp thông với Chúa và với nhau.

2) Trong Tin Mừng Gioan, cho chữ “như” có nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên, ý nghĩa căn bản, ý nghĩa thần học của từ “như” phải được hiểu, không phải chỉ là một sự tương tự trong so sánh, nhưng có nghĩa là “nền tảng”, “nguồn gốc”, “phát sinh”. Chẳng hạn :

“Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy.(…) Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. (Ga 15,9.12)

Ở đây, không phải là tình yêu của Chúa Giêsu đối với các môn đệ dựa theo khuôn mẫu tình yêu của Chúa Cha với Đức Giêsu; và cũng không phải là tình yêu của con môn đệ với nhau dựa theo khuôn mẫu của tình yêu Chúa Chúa Giêsu với môn đệ. Nhưng tình yêu của Chúa Cha đổ tràn trên đức Giêsu chính là “nền tảng”, “nguồn gốc”, “phát sinh” ra tình yêu của Đức Giêsu với môn đệ; và tình yêu của Chúa Giêsu với các môn đệ là “nền tảng”, “nguồn gốc”, “phát sinh” ra tình yêu của các môn đệ với nhau.

Sống-với nghĩa là để cho cuộc đời mình, tấm lòng của mình được dính dáng, được liên luỵ, được hiệp thông với những vui buồn sướng khổ của ai khác. Trong thái độ sống-với, điều quan trọng không phải là làm cái gì, không phải làm cho đúng với một khuôn mẫu nào, mà là tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình là vì ai, cho ai với ai. Chính vì thế, trong tinh thần tôn giáo chân chính của truyền thống Do Thái Kitô giáo, được các ngôn sứ công bố, điều nguy hiểm nhất không phải là không giữ luật nhưng là giữ luật chỉ để hoàn thiện chính mình; không phải là không làm việc phượng tự mà là dâng lễ vật phượng tự chỉ để tìm sự thanh thoả cho mình. Khi người Biệt Phái giữ luật, cho dù là giữ luật tỷ mỷ, kỹ lưỡng, nhưng chính yếu chỉ là để hoàn thiện con người mình mà thôi, thì đó là sự hư hoại của lề luật. Khi người Sa đốc chăm chú vào nghi lễ phượng tự, nhưng phượng tự chỉ là thứ trao đổi “hàng hoá” để bảo vệ sự công chính cho mình thì đó là sự hư hoại của phượng tự…

VÀI DỮ KIỆN TRIẾT HỌC LIÊN QUAN ĐẾN KHÁI NIỆM LÒNG THƯƠNG XÓT

Dàn Bài

Một sự khác biệt từ cội nguồn : So sánh khái niệm ataraxia với khái niệm misericordia.

Một sự khác biệt trong "hoa trái" : so sánh khái niệm lòng từ tâm (pitié) của Arthur Schopenhauer (1788-1860) với khái niệm lòng thương xót Kitô giáo.

1. Ataraxia và misericordia

1.1 Nền tảng của văn hóa - tôn giáo Hy Lạp

- Thời gian đi vòng tròn; Thượng Đế không quan tâm đến vũ trụ; vũ trụ lớn hơn con người....

- Hình thành nên một nền tảng "siêu hình học tự nhiên", trở thành chiếc nôi của khoa học (episteme). lý trí con người trở thành "chìa khóa" mở cửa cho cứu cánh đời người...

1.2 Quan niệm của Sách Thánh

- Thời gian đi theo đường "thẳng"; khởi đầu của lịch sử là một tác động của một ngã vị; Tác động sáng tạo vũ trụ "từ hư vô" như một ân ban; vị thế con người và hành vi mang tính ngã vị của con người lớn hơn qui luật vô ngã của vũ trụ

- Hình thành nên qui chế giao ước, có khả năng "bảo vệ" và đề cao tính ngã vị. Thái độ căn bản của con người là "lòng trung tín"...

1.3 Thái độ luân lý căn bản

- Ataraxia hướng tới mục tiêu "mặt nước hồ thu"

- Misericordia đặt con người vào vị thế "ngọn thác"

2. Lòng từ tâm (pitié) của Schopenhauer và lòng thương xót

2.1 Nền tảng triết học của Schopenhauer

- Ý chí chứ không phải lý trí là nền tảng của vũ trụ và con người

- Sự ưu thắng của ý chí chung trên ý chí riêng

- Con đường giải thoát khỏi khổ đau : nẻo đường nghệ thuật và nẻo đường tình yêu.

2.2 Vài đặc tính của tình thương Kitô giáo

- Nẻo đường chiến thắng "hư vô chủ nghĩa" của Sách Thánh

- Ngã vị con người càng ngày càng rõ nét trong cuộc chơi với một Thiên Chúa Ngã Vị.

- Khả năng "thấu cảm" (empathie) như nẻo đường đi vào "câu chuyện đời" của ngã vị.

2.3 Tình yêu chiến thắng tất cả mà không tự hủy diệt chính mình.

Tạm kết

- Vấn đề "Cái lý và cái tình".

- Vấn đề "Thương xót hay thương hại".

xem lại Phần 1