Mầu nhiệm Nước Trời

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Lời rao giảng đầu tiên của Chúa Giêsu là : “Thời kỳ đã mãn, và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1, 15). “Thời kỳ đã mãn”, nghĩa là thời gian chờ đợi của lịch sử ơn cứu độ đã đến, thời gian đã chín mùi, để đến một thời kỳ Chúa hoàn tất trọn vẹn chương trình cứu độ của Ngài, thời kỳ của Triều đại Thiên Chúa. “Anh em hãy sám hối” : để bước vào thời kỳ mới này, con người cần phải sám hối, nghĩa là phải vượt qua một lần nữa trình độ sống tôn giáo, phải vượt qua những giới hạn của Cựu Ước, phải sám hối, métanoia, để thay đổi tinh thần cũ bằng một tinh thần mới; phải vượt qua não trạng cũ trong chế độ lề luật, để bước vào chế độ mới của ân sủng. Chế độ mới của Triều đại Thiên Chúa mời gọi một tinh thần mới, một thái độ mới, một sự can đảm thay đổi triệt để.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

1. Nước Trời như men như hạt

Lời rao giảng đầu tiên của Chúa Giêsu là : “Thời kỳ đã mãn, và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1, 15).

“Thời kỳ đã mãn”, nghĩa là thời gian chờ đợi của lịch sử ơn cứu độ đã đến, thời gian đã chín mùi, để đến một thời kỳ Chúa hoàn tất trọn vẹn chương trình cứu độ của Ngài, thời kỳ của Triều đại Thiên Chúa.

“Anh em hãy sám hối” : để bước vào thời kỳ mới này, con người cần phải sám hối, nghĩa là phải vượt qua một lần nữa trình độ sống tôn giáo, phải vượt qua những giới hạn của Cựu Ước, phải sám hối, métanoia, để thay đổi tinh thần cũ bằng một tinh thần mới; phải vượt qua não trạng cũ trong chế độ lề luật, để bước vào chế độ mới của ân sủng. Chế độ mới của Triều đại Thiên Chúa mời gọi một tinh thần mới, một thái độ mới, một sự can đảm thay đổi triệt để.

Triều đại Thiên Chúa đã “đến gần”. Đến gần ở đây không có nghĩa là chưa đến, là sắp đến trong tương lai, nhưng là đã có mặt và đang hoàn thành. Triều đại Thiên Chúa không “rớt xuống” một cách hoàn toàn ngẫu nhiên, nhưng được gieo mầm, trong lòng trông chờ, trong những bước Thiên Chúa đã chuẩn bị suốt dòng lịch sử Cựu Ước. Bây giờ đây, triều đại Thiên Chúa đã có mặt. Nước Trời do Chúa Giêsu thiết lập, nên ở đâu có Chúa Giêsu thì ở đó đã có mặt Triều đại của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, điều quan trọng là, mặc dù chính Chúa Giêsu hiện diện, chính Chúa Giêsu rao giảng về Triều đại Thiên Chúa, nhưng Triều đại Thiên Chúa vẫn “gần đến”. Điều đó cho thấy Triều đại Thiên Chúa không lù lù xuất hiện như lòng mong đợi của người Do Thái, Triều đại Thiên Chúa vẫn còn “chờ” lòng sám hối, Triều đại Thiên Chúa vẫn còn cần đến một tiến trình lâu dài …và Chính Thánh Thần của Chúa mới hoàn tất mọi sự trong Chân lý Toàn Vẹn.

Có thể nói mầu nhiệm về Triều đại Thiên Chúa được thể hiện trong hình ảnh hạt cải và nắm men. (Mt 13, 31-33; Mc 4,30-32; Lc 13, 18-21). Nắm men và hạt cải Nước Trời là một khởi đầu nhỏ bé nhất, nhưng lại bao hàm một mầm sống vô cùng lớn lao.

Người Do Thái, những người đã được chuẩn bị gần 2000 năm để đón nhận Đấng Mêsia, nhưng lại không hiểu được nét mới của Triều đại Thiên Chúa, và đã trượt dài trên nẻo đường từ chối Đức Giêsu Kitô. Từ trong Cựu Ước, đã có hai nguồn ánh sáng về Đấng Mêsia, một của Isaia, và một của Daniel, hai luồng tư tưởng ấy trái ngược nhau. Người Do Thái không hóa giải được mâu thuẫn giữa hai luồng tư tưởng ấy. Trong truyền thống Do Thái giáo, người ta thấy rằng những nhà thần kiến táo bạo nhất cũng không làm sao dung hòa được hai viễn tượng đó, mặc dầu là dung hòa một cách vụng về đi nữa. Chẳng hạn chúng ta đọc thấy trong triết gia Do Thái Maimonide (1135-1204 sau JC) một suy niệm như sau : “Bạn đừng có bao giờ nghĩ rằng vào thời kỳ của Đấng Cứu Thế, có cái gì sẽ thay đổi trên thế giới bình thường nay… Không, thế giới vẫn như thường, và điều Isaia đã nói… và tất cả những điều giống như thế về vấn đề Đấng Cứu Thế đều là những mechalim, những dụ ngôn”.

(Trích lại trong bài “Không có ngày “G” đối với Đấng Cứu Thế”, của Robert Aron; trong tuyển tập : A. Frossard, J Dheilly, M. Halpern, R. Aron, Để Làm Giầu Kiến Thức Kinh Thánh, tập IV, Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo, t/p HCM, 1993, tr. 1316.)

Hoặc chúng ta có thể đọc trong bài thơ của Frischmann, một thi sĩ Ba lan, gốc Do Thái, một hình ảnh biểu tượng một Đấng Cứu Thế bị trói bằng những sợi xích vàng trên thiên giới : Ngài đón nhận những nỗi đau của nhân loại, qua mọi thời đại. Từ trên cao Ngài nhìn thấy mọi nỗi kinh hãi của cuộc sống nơi anh em Ngài… Ngài như vùng vẫy để xuống thế, Ngài khao khát, Ngài lấy hết nghị lực để bẻ gẫy xiềng xích, để thoát ra, để phóng xuống, để giải thoá, để cứu vớt… nhưng Ngài vẫn bị trói bằng những sợi xích vàng… (Nt, trang 1318-1320).

Phải chăng cuối cùng hình ảnh Người Tôi Trung trong Isaia cũng chỉ là “dụ ngôn” ? là cách diễn tả lòng khao khát cứu độ của một Đấng Mêsia bị xích bằng những sợi xích vàng ? là một động lực muôn đời trong dòng lịch sử, bộc lộ trong những con người anh hùng hết thời đại này sang thời đại khác, để lao vào cuộc cứu độ con người ?

Thật sự ta không ngạc nhiên gì về thái độ của người Do Thái, bởi vì đường lối của Thiên Chúa vượt xa đường lối của con người, và con người luôn phải hoán cải là như thế :

- Herode đã tưởng Vua mới sẽ chiếm mất ngôi vua của mình nên tìm cách giết đi.

- Gioan Tẩy Giả, người Tiền Hô cũng hiểu lầm về Triều Đại Thiên Chúa;

- Người Biệt Phái muốn có một Đức Mêsia hùng mạnh;

- Dân chúng muốn tôn Chúa Giêsu lên làm vua;

- Các môn đệ cũng hí hưởng đi theo Chúa;

Ta biết rằng sở dĩ có “bí mật trong Tin Mừng Marco”, đó cũng là vì Chúa Giêsu không muốn làm cớ cho sự hiểu lầm của hầu như tất cả mọi người Do Thái trước mầu nhiệm Nước Thiên Chúa.

2.Hai lần Chúa đến

Người Do thái có một lịch sử quá đau thương. Trong khi các dân tộc khác, nhất là những nền văn minh khổng lồ chung quanh Địa Trung Hải, đã phát triển nền văn minh tự nhiên của họ rất nhiều; thì người Do Thái, xét về phương diện văn minh nhân loại, hầu như chỉ là số không. Tất cả niềm hy vọng của họ đặt ở niềm tin tôn giáo, đặt ở sự xuất hiện của Đấng Mêsia. Họ đã chờ đợi quá lâu, và họ không thể nào lại tiếp tục chờ đợi kiểu công bố Nước Thiên Chúa như men, như hạt.

Nước Thiên Chúa được thể hiện trong một quá trình dài giữa hai lần Chúa đến, một lần đến như Isaia công bố, và một lần Chúa đến như Daniel công bố.

Trong chương trình của Thiên Chúa, có một giai đoạn cánh chung dài, chứ không phải là một biến cố dứt khoát ngay. Quãng thời gian dài để Nước Thiên Chúa như men, như hạt có thể lớn lên, phát triển và biến đổi bộ mặt trần gian từ bên trong, biến đổi toàn diện và thấm nhuần toàn bộ cuộc sống trần gian.

Thời gian của Giáo Hội, là thời gian giữa hai lần Chúa đến, là thời gian vun tưới cho Nước Trời, như men, như hạt, được lớn lên và thành tựu. Đó cũng là ý nghĩa chính yếu của Giáo Hội, là sứ mạng chính yếu của Giáo Hội; ý nghĩa chính yếu của mọi thành phần trong Giáo Hội, ý nghĩa chính yếu của mọi người Kitô hữu.

3.Cám dỗ muôn đời

Não trạng của người Do Thái cũng chính là cám dỗ muôn đời của nhân loại, của chính Giáo Hội trong suốt lịch sử, và Giáo Hội hiện nay. Cám dỗ về một Giáo Hội hùng mạnh, có khả năng thống trị, và chinh phục người khác bằng một thứ sức mạnh không phải của Nước Trời. Chương sách nổi tiếng của Dostoievsky, Viên Đại Pháp Quan Tôn Giáo, anh tiểu thuyết Anh Em Nhà Karamadốp cho thấy mức độ nguy hiểm của cám dỗ quyền lực, cám dỗ của sự khôn ngoan nhân loại, cám dỗ của nhu cầu vật chất.

Cám dỗ một cách cụ thể đối với người Kitô hữu hiện nay, chính là thái độ ngần ngừ vì không dám tin vào mầu nhiệm Nước Trời, không dám sống bằng sự sống mới của Ơn Chúa Thánh Thần. Người Kitô hữu “nửa mùa” là người chọn con đường khả thi xét theo năng lực con người, không dám dấn thân vào cuộc phiêu lưu của hạt men, hạt cải Nước Trời; rồi xét đoán hoàn cảnh, xét đoán người khác cũng chỉ thuần túy theo lý lẽ tự nhiên :

“Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người : "Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn." (Mt 14, 15)

Đức Giêsu mời gọi các môn đệ, dám nghĩ đến điều bất khả thi : “ Đức Giê-su bảo : "Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn." (Mt 14, 17)

Rồi Ngài mời gọi môn đệ khởi đi từ những gì hết sức giới hạn của mình :

“Các ông đáp : "Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá !". Người bảo : "Đem lại đây cho Thầy !" (Mt 17, 18)

Chính trong tình huống ấy, Chúa Giêsu mới có thể thực hiện sự phong phú dư dật của hồng ân Nước Trời :

“Rồi sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng. Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.” (Mt 14, 19-21)

Chúng ta có thể thấy trong bữa ăn này hình ảnh bàn tiệc cánh chung, bàn tiệc cánh chung vẫn đang được dọn bữa, bằng những công sức của Giáo Hội, và bàn tiệc cánh chung được hoàn thành trong ân sủng của Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa đã có mặt và đang hoàn thành. Sống ý nghĩa cánh chung, đó là một thách đố của Giáo Hội, và đặc biệt là thách đố của người sống đời sống thánh hiến, tức là những người đã bước cả hai chân vào Nước Thiên Chúa trong giai đoạn là men là hạt này. Không nhận ra men, hạt của Tin Mừng, không dám dấn thân vào cuộc “vun trồng” ấy, người sống đời sống thánh hiến sẽ không có đủ khả năng nhận ra vận hành tiến đến Cánh Chung, và chỉ còn biết lên án, phê phán, tuyệt vọng, hoặc đổ hết lỗi cho người khác…

Tạm Kết

Ta có dám tin vào mầu nhiệm Nước Trời mà Chúa Giêsu đã loan báo ? Một cách nào đó, người Kitô hữu Việt Nam tin vào Chúa, nhưng không tin vào Nước Trời Chúa công bố. Người ta tin vào Chúa để bảo đảm phần rỗi mai sau mà không dám tin vào vận hành Nước Trời ngay ở đây và lúc này.