“Thật” và “ảo” – “chân” và “giả” - Phần 1

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Chúng ta có thể đọc được trên mạng khá nhiều bài viết về lối sống ảo của giới trẻ hiện nay. Tình trạng ấy đã trở nên một vấn đề thời đại. Với những mạng xã hội càng ngày càng phổ biến, người trẻ có một sân chơi mới, khác hẳn với những thứ sân chơi trước kia. Trên không gian mạng, người trẻ dễ dàng khám phá thế giới và có thể đi đến “tận cùng thế giới”… Người trẻ kết thân với nhau, trao đổi với nhau về cuộc sống xã hội và chia sẻ những vấn đề trong cuộc sống của riêng tư. Những mối tương quan qua mạng, trước mắt, là xoá bỏ khoảng cách không gian giữa con người với nhau. …

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

1. Thế giới mạng và cái ảo

Chúng ta có thể đọc được trên mạng khá nhiều bài viết về lối sống ảo của giới trẻ hiện nay. Tình trạng ấy đã trở nên một vấn đề thời đại.

Với những mạng xã hội càng ngày càng phổ biến, người trẻ có một sân chơi mới, khác hẳn với những thứ sân chơi trước kia. Trên không gian mạng, người trẻ dễ dàng khám phá thế giới và có thể đi đến “tận cùng thế giới”… Người trẻ kết thân với nhau, trao đổi với nhau về cuộc sống xã hội và chia sẻ những vấn đề trong cuộc sống của riêng tư. Những mối tương quan qua mạng, trước mắt, là xoá bỏ khoảng cách không gian giữa con người với nhau. …

Tuy nhiên, điều đó lại tạo nên một khoảng cách khác, khoảng cách giữa “thật” và “ảo”. Với không gian mạng, người ta có thể dễ dàng gặp nhau, nói với nhau và tỏ bày nhiều chuyện cho nhau; nhưng những điều được chia sẻ trên không gian mạng luôn có nguy cơ là những điều mình muốn là, mình mơ được là, mình tưởng mình là…, chứ không phải là chính cái thật của mình.

Thật ra, đối với con người, điều gì cũng hàm hồ. Điều xấu chưa hẳn sẽ đưa đến kết quả xấu và ngược lại. Điều coi như một thực tại xấu, như một mối nguy, lại vẫn có thể được đón nhận trong một ý nghĩa tích cực và trở thành cơ may. “Nguy” và “cơ” không hoàn toàn tách biệt, nhưng hàm chứa trong nhau …

1.1 Cái “ảo” gia tăng độ“giả”

Có lẽ đa số giới trẻ hiện nay, trên thế giới mạng, đã rơi vào tình trạng giả tạo như nhiều người đã vạch mặt chỉ tên. Người ta tô vẽ khuôn mặt của mình bằng kỹ thuật vi tính, người ta đính kèm vào hình ảnh mình những chiếc xe hoặc điện thoại mắc tiền… và muôn vàn thứ khác…, và điều nguy hiểm là người ta dần dần quen với con người giả của mình, thân thương và không muốn mất hình ảnh giả của mình, sẽ coi kết quả giả tạo mình đạt được nơi nhận xét của người khác thực sự là công sức hợp lý của mình… Sự sống trên mạng trở thành ngọt ngào hơn đời sống thực biết bao lần. Nhưng không gian mạng hoàn toàn trái ngược với cuộc sống thật, sự khác biệt ấy trở nên một thách đố lớn khiến cuộc sống thật càng ngày càng trục trặc, càng héo tàn…

1.2 Cái “ảo” mở đường cho cái “thực”

Tuy nhiên, không phải vì thế mà ta không công nhận nhiều giá trị tích cực của không gian mạng, ngay cả trong lối sống và khát vọng của một con người.

Có lẽ có, dù không phải là nhiều, những người vốn khó tìm được mối tương quan thông thoáng, an hoà với những con người thật xung quanh mình. Có người gặp khó khăn để bộc lộ con người mình, có người bị kẹt trong nhưng hàng rào lễ nghĩa dầy đặc, có người, thực ra luôn mang trong nỗi sợ, sợ những người và những áp lực xung quanh mình khiến cho bản thân bị gò bó… những người ấy khi bước vào không gian mạng, có thể cảm thấy thoát được nỗi sợ, vì có một chỗ trú khá an toàn, đã dự phòng một cánh cửa thoát hiểm, vì che được khuôn mặt lù lù trong đời sống thường ngày.

Cũng giống như trong lễ hội hoá trang, khi người ta che đi khuôn mặt thật của mình, người ta được thanh thản thực hiện những gì mà hoàn cảnh, địa vị xã hội thực không cho phép…và ngày hội hoá trang có thể, đối với một số người, là thời gian sống thật nhất.

Hoặc cũng giống như khi người ta say rượu, những gì sâu xa trong ruột gan được phép tuôn ra. Đối với người không uống rượu, kẻ say nói và làm những điều không ý thức, không đúng theo chuẩn mực bình thường, những điều không thật. Nhưng trong chiều sâu tâm lý, lúc say có thể là lúc con người bộc lộ những uẩn ức hoặc những tình cảm chân thật sâu xa nhất.

* Hiện tượng thả hồn theo những đánh giá like hoặc dislike rồi unlike trên mạng có lẽ không hoặc chưa phải là phổ biến, chưa phải là một vấn đề nổi cộm trong hiện trạng của đời sống thánh hiến.

Tuy nhiên, tất cả những hiện tượng xã hội hoặc tâm lý không phải là cái gì từ trời rớt xuống một cách ngẫu nhiên, nhưng luôn là sự lộ diện của một thực tại siêu hình, nghĩa là sự lộ diện hoặc bùng phát của một thách đố muôn thuở trong phận người. Chỉ có thể có hiện tượng sống ảo vì bản chất người, trong ảnh hưởng của tội tổ tông, đã dính chặt vào thái độ xấu hổ của con người lịch sử sau khi tội xâm nhập vào phận người… những hiện tượng xã hội hoặc tâm lý của một thời đại luôn là những “triệu chứng” bộc lộ một thách đố “triết học” muôn thuở trong đời sống con người;

Như thế, nếu tìm thấy căn để thách đố của phận người trong hiện tượng sống ảo của giới trẻ hiện nay, ta cũng có thể khám phá thấy những kiểu “sống ảo” khác, những biểu lộ mang dáng vẻ khác, nhưng cũng cùng thuộc về một thách đố siêu hình của kiếp người. Và nếu nhìn từ căn bản này, chắc hẳn ta có thể nói : không những tu sĩ trẻ mà cả tu sĩ già, tu sĩ lão cũng có nếp sống ảo.

2. “Chân” và “giả”

Gốc rễ của vấn đề “ảo” và “thực” nằm ở bình diện siêu hình của phận người, khía cạnh “chân” và “giả”. Ảo và thực, thật ra chỉ là triệu chứng hữu hình của một thực tại vô hình; ảo và thực là thứ “thân xác” của “tinh thần” trong vấn đề “chân” và “giả”.

2.1 Thực tại và ý nghĩa

Đức Giáo hoàng Phanxico nói thực tại lớn hơn tư tưởng. Ta có thể thấy truyền thống văn hoá Sê-mít nhạy bén hơn với thực tại, tức những biến cố, những sự kiện đơn lẻ, những gì diễn ra một cách khách quan, trong không gian và thời gian thực. Trong khi mà truyền thông Hy Lạp lại chọn đường lối đề cao những biểu tượng, tức những khái niệm mang tính phổ quát, bao hàm nhiều thực tại cùng một giống loài.

Kito giáo chính xác là tôn giáo của biến cố và sự kiện, tức gắn liền với thực tại. Đường lối ấy gắn liền với quan điểm duy-thực nhận thực luận như là một lập trường căn bản. Tuy nhiên, việc tôn trọng và đặt nền tảng của chân lý trên thực tại không phải là một thái độ duy vật; vì thực tại ở đây không phải là một “thực tại thô”, nằm trọn trong sự tương tác thực nghiệm, mà là một thực tại có ý nghĩa.

Ý nghĩa của thực tại không phải là cái áo mặc thêm vào cho thực tại, nhưng chính là cánh cửa khai mở để tỏ lộ chân tính của thực tại. Thế giới, vũ trụ được trao cho con người, để con người “đặt tên”. Thực tại luôn cần được soi sáng dưới ánh sáng nhân văn.

Như thế, thực tại thuần tuý, như một biến cố hay một sự kiện nào đó, xét như một điều “thực”, lại chỉ có thể trở nên “chân thực” khi được soi chiếu dưới ánh sáng ý nghĩa đích thực và hội nhập vào dòng chảy của hành trình làm người.

Hơn nữa, đối với Kito giáo, ý nghĩa mà con người soi vào thế giới không phải do một thứ tự do ngẫu hứng, cũng không phải là thứ giá trị khiên cưỡng áp đặt lên thực tại. Có một thực tại cao hơn là nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa, có một ý nghĩa bao trùm hơn, đó là thánh ý của Thiên Chúa. Trong tự do và trong thế đứng như một chủ thể, con người có sứ mạng “ráp nối” giữa một thế giới của thực tại thô và một kế đồ sâu xa của Thiên Chúa trong dòng lịch sử ơn cứu độ. Thực tại chỉ đạt được tính chân thực đi được hội nhập vào vận hành cứu độ, hướng tới thời điểm thành toàn.

Cũng như vận mạng con người là một dự phóng, là cái khả thể đang chuyển mình, thì thực tại xung quanh con người cũng đang “rên la” như người ở cữ.

2.2 Khi cái “thực” chỉ là cái thực tế nghèo nàn

Một thực tại thô lù lù ra đó, trong noạ tính cố hữu, thì chưa phải là chân-thực. Đối với con cọp thì thịt của một con nai chắc là ngon hơn thịt một ông già; một ông già, xét như một thực tại thô thì chẳng có ích bằng một cái máy lau nhà… Cái ngon, cái ích lợi không phải là giả, nhưng chỉ là cái thực tế nghèo nàn. Cái ngon và ích lợi ấy làm sao toát lộ ra được giá trị thẩm mỹ, giá trị thiện hảo và giá trị chân thực, những giá trị phổ quát mà chỉ có con người mới thấy được. Bám lấy thực tại thô là rơi và đẳng cấp kinh nghiệm thực nghiệm thuần tuý của con vật, và xếp loại thế giới nhân linh vào đẳng cấp vũ trụ vô hồn. Thái độ thực dụng làm cho cuộc đời trở thành thô. Đấy chỉ là cái thực tế chứ không phải là chân thực. Giản lược thực tại vào giá trị thực dụng là chưa làm cho thực tại được chân-thực. Bám vào thái độ thực dụng cũng là một cách sống “giả”. Thái độ này nghiêng ngả về hướng duy vật.

2.3 Khi cái “ảo” làm biến chất cái “thực”

Trong trường hợp khác, thực tại có khi bị khoác cho một ý nghĩa giả tạo, hoặc bị lèo lái vào một mục tiêu ảo (giả). Cái giả của ý nghĩa và của mục tiêu làm cho thực tại trở thành cái “ảo”. Thái độ của AQ trong truyện của Lỗ Tấn có lẽ là thí dụ rõ ràng nhất của thái độ lấy ý nghĩa giả bao che cho thực tại. Cũng như khi người ta ca tụng cái chết thuần tuý, hoặc coi sự sống nhẹ tựa lông hồng; hoặc khi người ta thích bị hành hạ, hoặc mặc cho cái nghèo một ý nghĩa lãng mạn… đó là những thứ ý nghĩa ít nhiều khiên cưỡng với bản chất của sự vật; những ý nghĩa ấy cưỡng bức thực tại. Một số triết gia phê bình thái độ cam chịu và có tính cách “khổ dâm” của người Kito hữu, những phê bình ấy không phải là không có lý… Bịnh thành tích làm cho thực tại trở nên giả; não trạng danh giá cũng là những lớp vỏ ảo làm biến chất thực tại. Một cách nào đó, lập trường này lại nghiêng ngả về hướng duy tâm.

2.4 Thực tại trở nên chân-thực

Đối với con người, sống là phải ước mơ. Nhưng mơ ước khác với mơ mộng. Mơ ước làm nhà bác học thì bắt đầu bằng việc học lấy một vài từ tiếng Anh ngay lúc này. Mơ làm nhà bác học, nhưng bây giờ đi chơi đã, đó chỉ là mơ mộng …

Mơ ước làm nên ý nghĩa cứu cánh của thực tại. Có cái “mơ” lại là điều kiện của cái “thực”; và cũng có cái mơ chỉ là thứ trang trí bên ngoài thực tại.

Trong vận hành của cuộc sống, mỗi thực tại đều có thể và cần phải tìm thấy ý nghĩa chân thực; và mỗi thực tại có thể có vô cùng ý nghĩa. Có những thực tại trở thành “thô” khi người ta chỉ thấy ý nghĩa thực dụng; có những thực tại trở thành giả khi người ta gán cho chúng những ý nghĩa lệch lạc; và có những thực tại trở nên chân thực, phong phú trong dòng sự sống. Mọi thực tại của đời sống con người đều có thể sinh hoa trái khác nhau như hạt giống được gieo vào nhưng mảnh đất khác nhau.

Vấn đề chân-giả chính là một khía cạnh của vận mạng con người; nên cũng có thể nói, vận mạng con người không là gì khác hơn khả năng tìm được thái độ sáng tạo ý nghĩa đúng đắn để đưa thực tại vào vận hành chân thực. Bị đánh đòn là một thực tại. Bị đánh đòn thì đau, đó cũng là điều thật. Nhưng khi các tông đồ vui mừng được chịu khổ vì danh Chúa Kitô, thì đó là một cách đọc ý nghĩa vượt quá thái độ thực dụng và đưa thực tại vào vận hành chân thực. Một đứa con nhiều lần bị bố đánh đau, nó vẫn không khóc; rồi một lần kia, nó cũng bị bố đánh, nhưng bố đánh không đau nữa, nó lại khóc vì thấy rằng bố đã yếu sức rồi. Thứ lập trường chỉ thấy thực tại thô sẽ không bao giờ cắt nghĩa được tình huống ấy. Ai dám bảo rằng đứa con đã bao che thực tại bị đánh đòn bằng một ý nghĩa giả ? Chính sức sống năng động và phong phú của tinh thần hiếu thảo đã sáng tạo khả năng đọc nghĩa chân thật của thực tại bị đánh đòn.

Trong thái độ tin của truyền thống Do Thái Kito giáo, khả năng đọc dấu chỉ là một tác động cụ thể của sự sống đức Tin. Tin là khám phá ra “ý nghĩa khách thể” của thế giới và tìm được “ý nghĩa chủ thể” trong mối tương quan với Đấng làm ra ý nghĩa của vũ trụ.

Như thế, vấn đề “chân” và “giả”, trong vận mạng của con người cũng hé lộ ra góc cạnh tinh tế của thách đố sinh-tử trong vận mạng của con người.

3. Bùng phát cái “ảo” và “giả”

Việc phân tích mối tương tác giữa “thực” và “ảo”; nhất là mối tương tác giữa “chân” và “giả” có thể soi sáng phần nào những hiện tượng bùng phát lối sống ảo và sống giả hiện nay. Hiện tượng sống ảo nơi giới trẻ trong xã hội hiện đại gắn liền và tương tác với hiện tượng sống giả nơi các tu sĩ trẻ; và thật ra, cả nơi những người lớn tuổi.

Sơ đồ của cuộc sống con người, từ thời cận đại, là sự tương tác giữa “tâm hồn – thể xác – thế giới”. Nay, với không gian mạng, cái thế giới như thể thụ động trước con người lại được nhân bản lên thành một bản sao với nhiều tính năng không khác bản gốc. Không gian mạng có thể gồm chứa hầu hết những thực tại trong đời thường. Ta thấy như có hai thế giới sóng đôi với nhau, tương tác lẫn nhau và biến hoá khôn lường. Thế giới đời thường đã là muôn hình muôn dạng. Nay, với thế giới mạng, khả năng biến hoá của nguyên lý âm-dương trong trời đất lại tương tác với thế giới tích-tè, mạch đứt – mạch liền, và cuộc biến hoá của thực tại như được nhân luỹ thừa lên nhiều lần. Với đà tiến này, rồi sẽ chẳng có điều gì quỉ quái, hoặc tinh tế đến đâu mà không thể xuất hiện…

Ngược lại, dù những hiện tượng quỉ quái hoặc tinh tế đến đâu, ta vẫn có thể tìm thấy căn nguyên của chúng trong những cơ cấu căn bản. Có thể tạm lý giải nhiều hiện tượng bùng phát của cái “ảo” và cái “giả” trong mối tương quan biện chứng giữa : Tinh thần – thể xác – vũ trụ - và Thiên Chúa; trong đó nền tảng của chân thật vẫn luôn là thực tại, và thực tại ấy được trao cho con người như tinh thần hoặc con người như thể xác; tất cả vận hành ấy chỉ có thể được qui chiếu vào một chuẩn mực chân thực nhất là Thiên Chúa.

3.1 Thách đố của thời đại

3.1.1 Thế giới tiến bộ quá nhanh

Thế giới hiện đại tiến bộ quá mau. Sống trong thế giới chạy đua ấy, con người bắt buộc phải trang bị khả năng thích ứng. Thích ứng là thái độ dễ đánh mất sự trung thành. Thái độ thích ứng đưa tầm nhìn của con người vào kết quả của diễn tiến lịch sử, và dễ làm quên đi giá trị thân thương, giá trị “thiêng liêng” trong tâm hồn. Hơn nữa, trong một xã hội tiến bộ quá mau, thế “thăng bằng” nơi bản thân mỗi người khó lòng không bị chao đảo. Trong một xã hội mà các kỷ lục không ngừng bị vượt qua, đòi hỏi của xã hội đối với mỗi cá nhân sẽ nhiều hơn mãi, cao hơn nữa… Do đó, vị thế của mỗi cá nhân trong xã hội càng ngày càng bấp bênh, tạo nên tình trạng bất an trong tâm hồn.

3.1.2 Bầu khí đối phó của xã hội Việt Nam

Cuộc sống con người chắc chắn là đầy những khó khăn. Khổng Tử đã từng nói “vi nhân nan” (làm người khó lắm). Tuy nhiên, trên từng bước chân vào đời, nếu yếu tố được chấp nhận, được nâng đỡ, cảm thông đủ để con người đặt “đôi chân” của mình, người ta sẽ đối diện với những thách đố với một thứ “bản lãnh sáng tạo”. Khi đó, thách đố mang dáng dấp của một cuộc chơi. Trong cuộc chơi, đối thủ là “giả”, và sự vượt thắng, thăng tiến chính mình là “thật”. Ngược lại, khi áp lực của thế giới bên ngoài trở thành mối đe doạ sống-còn và yếu tố được chấp nhận, như ân huệ tặng-không, lại bị bỏ quên, thì con người sẽ phải phát triển “bản lĩnh đối phó”. Cuộc sống sẽ trở thành một cuộc chiến, đối thủ sẽ là “thật”. Trong cuộc chiến ấy, người ta buộc phải chối từ những thứ giá trị căn bản như một thứ xa xỉ phẩm, để thay vào đó là tiểu xảo, là những kỹ năng, là biện pháp nhất thời. Như vậy mưu đồ bất chính có được một mảnh đất phì nhiêu để phát triển.

Chúng ta có thể thấy bầu không khí XHCN, và ngay cả đời sống Giáo hội Việt Nam, đã nuôi dưỡng và làm phát triển bản lãnh đối phó quá mức. Người trẻ ở đất nước chúng ta, để đạt được ước mơ của mình, hình như đã không còn được lựa chọn con đường nào khác hơn phát triển bản lãnh đối phó.

3.1.3 “Con cá” hay “cần câu” ?

“Con cá” là một thực tại rõ ràng và hiển nhiên, còn “cần câu” thì còn phải hồi hộp chờ đợi kết quả với những con cá trong “mơ”. Người ta nói quá nhiều về việc trợ giúp người khác bằng cách trao cần câu chứ không phải con cá, nhưng trong việc đào tạo, người ta hình như lại vẫn cứ muốn thấy ngay con cá chứ không chấp nhận bước chờ đợi và hy vọng khi trao cần câu.

Đối với việc đào tạo, “cần câu” chính là một thái độ đủ tôn trọng để tạo nên thế chủ động nơi người thụ huấn; đồng thời cung cấp một cảm thức chung, một cảm thức liên đới, liên luỵ với Giáo hội và xã hội, với vận mạng của con người. “Con cá” là sự chứng nhận kho kiến thức và những phong cách chuẩn mực của một tu sĩ. Trong không khí của xã hội Việt Nam và Giáo hội Việt Nam hiện nay, hình như mọi người đều thích thấy ngay những con cá. Người trẻ ít được “trao cần câu” là sự tôn trọng như một chủ thể để có thể tự hình thành dáng đứng của mình. Đồng thời, những con “con cá” mà người ta muốn nhìn thấy phải thật to, to hơn những con cá của người khác, của những dòng tu khác… Điều đó khiến cho tâm thức cạnh tranh, so sánh thay thế cho một cảm thức có trách nhiệm với đời.

Bầu không khí ấy làm con người bị “trưởng thành muộn”. Cuộc sống hiện đại đòi hỏi qúa nhiều điều, khiến cho con người rơi vào tình trạng phải hụt hơi để rượt đuổi… Rồi chuẩn mực để được đảm nhận trách nhiệm như một thành phần trưởng thành lại không phải là “khả năng câu cá”, mà là bằng chứng sở hữu được những con cá to. Cuộc rượt đuổi để có những con cá to khiến cho khả năng sáng tạo và tổng hợp được đời sống của mình bị trì hoãn và tê liệt dần theo độ tuổi.

3.2 Thách đố từ bên trong

3.2.1 Thiếu tính chủ thể

Bầu khí đối phó, thái độ thích nghi và thái độ mong muốn có “con cá” của nhưng người đào tạo khiến cho người thụ huấn khó hình thành được một cái tôi đích thực, cái tôi đứng giữa cuộc đời như một chủ thể. Con người là chủ thể, nghĩa là con người không phải một cục đất sét bị nhào nặn từ bên ngoài, nhưng là con người thoát khỏi nỗi sợ là mình, vượt qua được thái độ dựa dẫm, dám dám nhận định và dám chọn lựa bằng chính tự do của mình, dám tự quyết định cuộc đời mình.

Không có được tính chủ thể, nghĩa là không tìm thấy “lý do hiện hữu” ở bên trong, người ta chỉ còn biết khẳng định mình bằng tiêu chuẩn so sánh. So sánh là đưa lý do hiện hữu của mình ra bên ngoài mình, tôi chỉ là tôi trong sự so sánh và cái tôi ấy bấp bênh trôi nổi theo những tiêu chuẩn giả tạo bên ngoài. Thái độ này biến khả năng sáng tạo cuộc đời, vốn như một nghệ thuật, trở thành năng lực cạnh tranh, vốn đầy những kỷ xảo. Cạnh tranh là bầu khí chung của thế giới con người khi mà người ta không còn đối chiếu với Thiên Chúa như cội nguồn ý nghĩa. Ngày nay, ý thức cạnh tranh trở thành động lực căn bản.

Nỗi sợ bên trong và bầu khí cạnh tranh bên ngoài làm bộc lộ mạnh mẽ triệu chứng xầm xì, xầm xì về những chuyện của người khác; và triệu chứng giả hình, giả hình về những gì liên quan đến bản thân mình. Không phải chỉ trong thời đức Giêsu mới có những người Biệt phái giả hình, nhưng đó là vấn đề muôn thuở của con người, bộc lộ ra, khi mạnh khi nhẹ, khi thì ở khía cạnh này, khi thì trong lãnh vực khác…

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này có thể tìm thấy trong lối giáo dục gia đình của các bậc làm cha làm mẹ. Gia đình Châu Á nói chung, và gia đình Việt Nam, thường ít để cho trẻ em, tương ứng theo độ trưởng thành, được quyền và có điều kiện tự suy nghĩ, tự lựa chọn. Lối giáo dục áp đặt từ gia đình Việt Nam ấy lại được củng cố mạnh mẽ hơn trong lối giáo dục nhà trường XHCN; và lại được chuẩn nhận trong lối giáo dục của các dòng tu.

Thiếu tính chủ thể cũng khiến người ta không chịu nổi sự “cô đơn”. “Cô đơn nguyên thuỷ” chính là bước đầu để hình thành ý thức về bản ngã.

Thiếu tính chủ thể, theo cách nói trong nhà đạo, cũng chính là thiếu “đời sống nội tâm”, thiếu khả năng chiêm niệm, thiếu khả năng thinh lặng, thiếu khả năng sáng tạo ý nghĩa, không đủ sức mạnh tâm hồn để làm chủ thực tại.

3.2.2 Thiếu nền móng giá trị chân thực

Trong việc đào tạo một con người đích thực, việc xây dựng móng nền luôn là việc của chính người thụ huấn; không ai có thể làm thay. Giáo dục giống như người ta mang một sản phẩm đến trước phòng người khác và gõ cửa, mời người ấy ra để họ tự xem xét, tự mang vào phòng và tự sắp xếp sản phẩm ấy trong căn phòng của mình. Đường lối đạp cửa phòng, tống món đồ vào phòng, bắt người khác phải sử dụng…, chỉ có thể làm nên một căn phòng bừa bộn, rối rắm, lỏng chỏng.

Ở Việt Nam, trong suốt thời gian học phổ thông, và cả ở bậc đại học mà có người cho đó chỉ là một thứ “trung học cấp 4”, việc giáo dục, đặc biệt là với các bộ môn văn học, lịch sử, triết học… đã không gầy dựng được móng nền giá trị trong tâm hồn học viên. Bởi vì mọi giá trị được điều khiển do định hướng chính trị, một thứ định hướng mà mỗi bước đi lệch đều phải trả giá đắt. Trên con đường độc đạo của tư tưởng chính trị, tất cả những giá trị nhân bản được chuyển tải khó lòng được xây trên móng nền chủ thể tính. Tất cả kiến thức sẽ chỉ là những vũ khí đối phó chứ không phải là một sự sống có căn để và phát triển. Nhưng giá trị nhân bản chân thật, qua cách diễn giảng những bộ môn ấy, không được thâu hoá qua tính chủ thể, không trở thành phẩm tính của nhân cách một cách bền vững, không trở thành một đòi hỏi nhất quyết của mình với chính mình.

Sự nghèo nàn trong nền móng giá trị chân thực làm nên một nhân cách nhão nhoét, một nhân cách không hình hài.

3.2.3 Thiếu cái nhìn toàn thể

Vào khoảng đầu thế kỷ XX, người ta khám phá ra được rằng việc cộng các thành phần lại sẽ không làm nên cái toàn thể, nhưng chỉ đạt được cái tổng số. Cái tổng số thuộc về lãnh vực lượng tính và có thể cân đong đo đếm được. Trong khi cái toàn thể thuộc lãnh vực phẩm tính, điều không thể đo đếm hoặc so sánh, nhưng chỉ có thể mô tả để chiêm ngắm. Cái toàn thể có một thứ “hồn” của nó, có “dáng” của nó, có “thần” của nó, có “duyên” của nó. Một khi không có được tính chủ thể, người ta không thể lấy gì để làm “trụ cột” cho các giá trị, và không thể nào “thổi hồn” vào những hành động của mình.

Không có cái nhìn toàn thể, dù người ta làm bất cứ nghề nào và làm biết bao công việc, cái “nghiệp” của cuộc đời cũng đều mang dáng dấp người tổ chức sự kiện. Cuộc sống được giản lược vào chiều kích lượng tính và không hàm chứa được một đường nét tinh thần siêu việt nào.

Cuộc sống trở thành hời hợt khi ta vui như mọi người vui, cười như mọi người cười, khóc như mọi người khóc, thích nhưng điều như mọi người thích…. Người ta vui với sự thành công như một nhà tổ chức sự kiện, vui với một lần chiến thắng trong một cuộc đấu, vui với khả năng vượt qua một tình huống khó khăn bằng một kỹ năng mềm… tất cả những điều ấy không khác gì những người trẻ vui với việc được like hoặc dislike trên thế giới mạng.

Trí tưởng tượng đóng góp một phần quan trọng trong khả năng làm người. Tưởng tượng có thể được coi như điều không thật. Nhưng thật ra, cần hiểu tượng tượng như khả năng “mường tượng” trước, khả năng phác thảo cái toàn thể, cái mục tiêu … có khả năng cung cấp ý nghĩa thật cho thực tại và làm cho cuộc sống trở một một sự tổng hoà có nét duyên dáng riêng. Sáng tạo và tưởng tượng liên hệ với nhau và đều dính dáng tới thái độ làm chủ của con người trước thực tại.

xem tiếp Phần 2 (Phần cuối)