Một triều đại giáo hoàng có thời hạn (p1)
Ở Vatican có hai giáo hoàng. Phía chân trời xa là hình ảnh một triều đại giáo hoàng có thời hạn. Năm 2013 diễn ra một cuộc đảo lộn không ngờ của Giáo hội Công giáo. Mẫu hình triều đại giáo hoàng đã có nhiều biến đổi, đức Phanxicô lại thay đổi cả mẫu hình về Giáo hội. Vị kế nhiệm đức Phanxicô có thể sẽ trở về sống trong những căn phòng giáo hoàng, nhưng ngài sẽ không thể xuất hiện với chiếc áo choàng giáo hoàng như trong quá khứ được nữa. Nhất là ngài sẽ không thể áp dụng một quyền bính độc đoán vô hạn nữa. Đức Phanxicô đã tự giới thiệu với thế giới như một người môn đệ của Chúa Giêsu: do đó thật khó xử nếu vị kế nhiệm ngài mà lại ngự trên ngai tòa cao, cho mình là vị toàn quyền của Đức Kitô.
Giáo hoàng Phanxicô không có nhiều thời gian để điều hành cuộc cách mạng của ngài. Tại Achentina, nơi mà nhiều người nói chuyện với ngài cách thân mật, và việc tôn kính ngài cũng không tỏ vẻ sợ hãi, nhiều nhà chức trách tôn giáo cho rằng năm tháng ngày giờ của ngài đã được đếm rồi. Giáo hội là một thân thể đang chết dần nhưng việc biến đổi còn chậm rãi hơn nữa. Bergoglio chỉ có một thời gian ngắn ngủi để thực hiện chương trình của ngài.
Cha Ignacio Pérez del Viso, cựu giáo sư của ngài, khẳng định rằng giáo hoàng “biết mình không có một triều đại dài 20 năm phía trước. Ngài cảm thấy việc cải tổ là gấp rút, mà phải thực hiện trong vòng ba hay bốn năm”. Ngài không được chậm trễ, và “phải hành động bao lâu ngài cảm thấy được dân chúng nâng đỡ”. Ý kiến này rất phổ biến trong giới công giáo tại Buenos Aires. Cha Marco, trước đây là phát ngôn viên của ngài, công khai điều đó trên đài truyền thanh: “Sau việc từ chức của đức Bênêđictô XVI, thì sẽ không lạ nếu đức Phanxicô từ chức sau khi đã hoàn tất những gì mà ngài nghĩ là có nghĩa vụ phải làm, và nếu ngài cảm thấy không đủ sức khoẻ nữa”.
Việc đức Bênêđictô XVI từ nhiệm đã thay đổi hoàn toàn hình ảnh về giáo hoàng. Không còn giáo hoàng suốt đời. Một giáo hoàng chỉ lãnh đạo bao lâu ngài biết rằng còn điều khiển được bộ máy lãnh đạo. Vào mùa hè trước khi đức Bênêđictô XVI từ chức, ông Seewald, người viết lịch sử về ngài, đã hỏi ngài rằng liệu giáo dân còn có thể chờ đợi những gì từ vai trò giáo hoàng của ngài. Đức Bênêđictô XVI trả lời: “Chẳng có gì lớn lao. Tôi đã già, sức khỏe đang yếu dần1.”
Hôm sau ngày ngài từ nhiệm, nguyên bộ trưởng ngoại giao Vatican, hồng y Giovanni Lajolo, ghi nhận: “Quyết định của giáo hoàng Bênêđictô XVI tạo ra một tiền lệ cho các vị kế nhiệm.” Vị hồng y người Nigeria, John Olorunfemi Onaiyekan, cho rằng không nên có một giáo hoàng tại chức sau 90 tuổi, và không loại trừ việc giáo hoàng tương lai sẽ “ấn định độ tuổi2” cho các giáo hoàng. Đức Bênêđictô XVI từ nhiệm trước khi bước sang tuổi 86 và dân chúng đã chấp nhận một cách nhanh chóng khác thường việc kết thúc thời giáo hoàng suốt đời.
Ở Vatican có tiếng đồn rằng giáo hoàng Phanxicô tâm sự với một giám mục là ngài sẵn sàng từ chức. Thật vậy, khó mà tưởng tượng được ngài vẫn muốn làm giáo hoàng khi không còn kiểm soát trọn vẹn các khả năng của mình. Sống đời thực vật trên ngai giáo hoàng khi tuổi đã cao không phải là thái độ trí thức của một giáo hoàng dòng Tên, vốn chú trọng đến việc “phân định” hoàn cảnh. Việc ngài muốn giữ nguyên hộ chiếu và vẫn đổi mới hộ chiếu cùng thẻ căn cước Achentina cho thấy cuộc sống tương lai của ngài không nhất thiết phải ở trong những bức tường Vatican. Có thể việc chọn nơi hưu dưỡng như thế cũng là một sự can đảm cho ngài, như ngài đã nhấn mạnh trong bài phỏng vấn của tờ Corriere della Sera, rằng cần phải làm quen với sự hiện diện của một giáo hoàng hưu, và điều này phải trở thành một “thể chế” thường xuyên giống như trường hợp giám mục hưu theo cải tổ của Công đồng. “Vị giáo hoàng hưu không phải là một bức tượng trong nhà bảo tàng”, ngài không cần rút lui vào một đan viện xa Vatican, tốt hơn, ngài ở lại với dân chúng và tham gia đời sống Giáo hội.
Trong một cuộc họp báo, đức Phanxicô thẳng thắn đối diện với vấn đề này. Đoán ý câu hỏi của một ký giả, ngài nói: “Có lẽ anh muốn hỏi tôi rằng: “Thưa giáo hoàng, nếu một ngày nào đó ngài cảm thấy không đủ sức khỏe nữa, thì ngài có tiếp tục làm giáo hoàng không?” Tôi sẽ làm như đức Bênêđictô XVI, tôi cũng sẽ làm như thế!”.
Đức Bergoglio làm tất cả để giúp người tín hữu quen với thực tế có một giáo hoàng hưu, và cho công luận hiểu rằng phải chấp nhận việc sống chung của hai giáo hoàng – một vị hưu và một vị đang tại chức. Ngay cả hình thức bên ngoài.
Thứ Bảy 22/02/2014, tín hữu tập trung tại đền thờ thánh Phêrô tham dự lễ tấn phong các tân hồng y, họ đã chứng kiến một cảnh tượng không ngờ. Tại bàn thờ tuyên xưng đức tin, chung quanh là hồng y đoàn phẩm phục đỏ, hai vị giáo hoàng Phanxicô và Ratzinger gặp nhau và ôm hôn. Vị giáo hoàng người Achentina đã công khai mời vị tiền nhiệm tham dự nghi lễ long trọng diễn ra trong vương cung thánh đường vốn là biểu tượng của Công giáo, và để thế giới nhìn thấy một giáo hoàng tại vị - mặc phẩm phục giáo hoàng, với mũ gậy giáo hoàng – đứng trước một người khác cũng mặc phẩm phục trắng nhưng không đội mũ giáo hoàng. Sau khi được bầu làm giáo hoàng, đức Phanxicô đến thăm nguyên giáo hoàng Ratzinger tại nhà nghỉ Castel Gandolfo, ngài đã mời vị nguyên giáo hoàng đến quì gối cùng với mình trong nhà nguyện. Hình ảnh một tình huynh đệ thân mật, không có xung khắc nhau.
Để tránh mọi đối kháng, đức Phanxicô đã quyết định một cách rất tinh tế có tính chính trị là công bố thông điệp Lumen fidei mà đức Bênêđictô XVI chưa hoàn tất. Đón nhận một cách biểu tượng bản văn mà ngài giới thiệu là được viết bằng bốn bàn tay, vị giáo hoàng người Achentina loại bỏ câu chuyện mới nổi lên cho rằng huấn quyền bị chia sẻ: những suy tư của vị cựu giáo hoàng đối ngược với tư tưởng của giáo hoàng tại chức. Người ta nhận định rằng cuốn sách có 80 trang thì chỉ có 8 trang là do đức Bergoglio soạn. Các đoạn hiếm hoi mà ngài thêm vào chỉ mang ý nghĩa lập trình, nhất là khi khẳng định rằng “người tín hữu không kiêu căng ngạo mạn […] [nhưng là] người đối thoại với tất cả mọi người”.
Đức Bênêđictô XVI đã làm dịu bớt tình huống chưa hề có đối với giáo hội Công giáo. Ngày rời chức, khi chào hồng y đoàn lần cuối, ngài đã hứa sẽ “tôn trọng và vâng phục vô điều kiện” đối với vị kế nhiệm. Sau đó ngài rút về nhà nghỉ hưu tại Vatican, ít ra ngoài – chỉ ra khỏi nhà để về Castel Gandolfo hay đi thăm người anh là cha Gemelli tại bệnh viện đa khoa – và chỉ tiếp đón bạn bè một cách rất âm thầm. Một lá thư phê phán cách lịch sự gởi cho nhà khoa học Odifreddi vì những nhận định của ông về Đức Giêsu là lời bày tỏ công khai đầu tiên của ngài. Hồng y Ravasi, “vị phụ trách văn hoá” thỉnh thoảng đến thăm nguyên giáo hoàng Ratzinger.
Đức Bergoglio coi đức Ratzinger như một “ông già tuyệt vời”. Ngài tâm sự với một người bạn ở Achentina: “Anh không thể tưởng tượng được đức Bênêđictô XVI khiêm tốn và khôn ngoan như thế nào đâu.” Ngài kể cho các phóng viên rằng “giống như có ông nội thông thái ở trong nhà vậy.” Đức Bênêđictô XVI cũng tỏ ra thiện cảm với giáo hoàng Phanxicô: “Tôi rất biết ơn vì được nối kết với đức giáo hoàng Phanxicô bằng một cái nhìn rất giống nhau và một tình bạn thân thiết”, ngài đã viết như vậy trong lá thư gởi cho nhà thần học Hans Kung. “Hôm nay, tôi coi như trách nhiệm cuối cùng của tôi là nâng đỡ vai trò giáo hoàng của ngài bằng lời cầu nguyện”.
Hai vị giáo hoàng nói chuyện với nhau, điện thoại cho nhau, gặp gỡ, dùng bữa với nhau một cách hết sức tự nhiên. Giáo hoàng Phanxicô gọi vị tiền nhiệm của mình bằng tước hiệu giáo hoàng theo truyền thống, ngài cũng gởi cho nguyên giáo hoàng Ratzinger bản photô cuộc nói chuyện của mình với tờ La Civiltà Cattolica để xin ngài góp ý (và ngài đã nhận được 4 trang góp ý). Đức giáo hoàng Achentina đã nhiều lần khích lệ vị tiền nhiệm của mình: “Thưa đức thánh cha, xin chào mừng, xin ngài giữ sức khoẻ.”
Đồng hồ của triều đại giáo hoàng Phanxicô đang chạy. Các hồng y ủng hộ ngài biết rõ điều đó. Một hồng y giải thích: “Thực sự thì năm năm cũng đủ để đức Gioan XXIII làm thay đổi Giáo hội một cách dứt khoát”. Thí dụ đó khiến chúng ta nghĩ đến những điều kiện cần thiết để một sự cải tổ bắt đầu mang lại kết quả. Dự án của đức Gioan XXIII – công đồng Vatican II – vẫn được giữ nguyên vì sau ngài, là cả mười lăm năm của triều giáo hoàng Phaolô VI, trong những năm đó, đức Phaolô VI đã giúp cho sứ điệp của công đồng được thấm nhập vào Giáo hội Công giáo. Thời đó, đa số các giám mục chung quanh ngài là những người đã bỏ phiếu một cách xác tín chấp thuận bản văn công đồng, và có cả một phong trào vững chắc gồm những nhà thần học cải tổ, cũng như có một sự chuyển biến say sưa trong hàng ngũ giáo dân.
Hai năm sau khi được bầu, giáo hoàng Phanxicô vẫn còn hơi cô đơn giữa lòng giáo hội cơ cấu. Điều đó giải thích lý do tại sao ngài quyết tâm một cách đặc biệt. Ngài nhận được một sự đồng thuận lớn lao từ phía giáo dân và trong công luận của những người theo thuyết bất khả tri cũng như những người không tin, nhưng tại giáo triều, hiện nay vẫn chưa có được một nhóm phò Bergoglio mạnh mẽ. Ngược lại một số còn hy vọng rằng giáo hoàng người Achentina chỉ là một chuyển tiếp ngoại lệ.
Khắp nơi trong Giáo hội, không có một tổ chức những người ủng hộ cuộc cách mạng của ngài. Mặc dù khắp nơi người ta nồng nhiệt vỗ tay hoan hô ngài, vẫn có một sự trì trệ kinh khủng trong cơ cấu Giáo hội. Cho tới nay, các tổ chức công giáo vẫn án binh bất động – dường như dưới cú sốc của sự thay đổi, họ đang bận rộn để hồi phục – trong khi vào thời của đức Gioan Phaolô II, các phong trào như Opus Dei, Hiệp thông và Giải phóng, đã tích cực ủng hộ các chương trình của vị giáo hoàng Ba Lan. Vì những lý do dễ hiểu, các tu sĩ dòng Tên cũng hủng hộ giáo hoàng, nhưng một cách thận trọng, không có cái vẻ chiến đấu hào hùng của dòng Tên khi lao lên bênh vực giáo lý về tính bất khả ngộ và về quyền bính tuyệt đối của đức Piô IX và sau đó khi chống Duy Tân thuyết.
Những nhà trào phúng thường đoán ý nghĩa ẩn sau một tình huống. Nhà viết hài kịch người Ý Maurizio Crozza phổ biến trên YouTube một màn ngoạn mục tả cảnh giáo hoàng Phanxicô, 7g sáng, chậm rãi bước lên đường Salaria, vác trên vai một chiếc tủ lạnh mà ngài muốn tặng cho một quả phụ. “Mình đã làm được điều tốt khi thức dậy lúc sáng sớm, thật là một công việc tốt đẹp. […] Phải giao hàng ở cửa nhà nào nhỉ?” vị giáo hoàng hỏi, còng mình dưới sức nặng 70 ký. “Số nhà 1321 thưa đức thánh cha”, một trong hai vị thư ký ăn mặc chỉn chu trả lời, không cần đưa ngón tay lên. “Chúng ta tới chỗ nào rồi?” “Thưa đức thánh cha, số nhà 23 ạ.” Ngài gặp những người xin chụp hình và xin phép lành, đó là một cô gái điếm, rồi những thành viên tổ chức Hiệp thông và Giải phóng, những cổ động viên bóng đá, hai vị hồng y. Nhưng tuyệt nhiên chẳng có một ai ghé vai đỡ cho ngài. Bà quả phụ từ chối món quà vì màu tủ lạnh không hợp với bà. “Có lẽ như thế là tệ thật”, giáo hoàng nghĩ thầm trên con đường trở về.
Chuyển động được một cơ cấu phân mảnh và hùng vĩ như Giáo hội Công giáo, quả là một công việc hết sức phức tạp. Giáo hoàng sẽ nhận được sự vâng lời hầu như tuyệt đối nếu ngài hoạt động trong khung cảnh truyền thống. Ngược lại, nếu ngài muốn thay đổi, cải tổ, thì vô số cách thức để người ta đặt ra cho ngài những trở ngại lớn nhỏ. Đức Gioan XXIII đã gặp chống đối công khai cũng như kín đáo trước chương trình canh tân của ngài. Vị đan sĩ thần học gia Enzo Bianchi nhận định triều giáo hoàng Phanxicô giống như “mùa Xuân thứ hai”, nhưng ông cũng không che đậy nỗi sợ hãi rằng sự năng động này có thể sẽ bị cản trở: “Xin Thiên Chúa giữ tôi khỏi phải nhìn thấy mùa sương giá đến sớm.”
Giới bảo thủ thì nghĩ rằng vị giáo hoàng Achentina sẽ bị suy sụp, người ta sẽ mệt mỏi do những huấn từ lặp đi lặp lại của ngài. Họ loan tin về nỗi sợ hãi rằng giáo hoàng Phanxicô đang xây dựng một “Giáo hội khác” vì đi ra khỏi đường lối của truyền thống, của giáo lý và của cách giải thích lời Chúa. Lucrecia Rego de Planas, cựu biên tập viên tiếng Tây Ban Nha của trang Catholic.net tại Mehicô viết cho ngài: “Ngài làm chúng tôi rối lên và chúng tôi không còn biết khu phố của mình ở đâu nữa, đâu là đường ranh với kẻ thù nữa”. Ông còn nói thêm như để kích khích cuộc tấn công của phe bảo thủ “Tôi không muốn có những mục tử mang lấy mùi chiên, chúng tôi muốn có những con chiên không bốc mùi phân thối, vì chúng được vị mục tử chăm sóc và giữ cho chúng luôn sạch sẽ.”
Tại giáo triều, người ta chỉ trích giáo hoàng Phanxicô đã lập ra quá nhiều ban bệ, hành động một cách đơn độc, không biết tập trung vào một số mục đích nhất định, không trình bày thần học một cách có hệ thống, nói quá nhiều, chạy theo ý thích của đám đông bằng cách để người ta quay phim với một con két được huấn luyện hay với một đứa trẻ mặc trang phục giáo hoàng như lễ hội hóa trang. Một số khác nổi loạn vì cho rằng giáo hoàng Phanxicô làm giảm nhẹ “tính thiêng thánh của vai trò giáo hoàng”, một hồng y giáo triều nói. Một trận mưa những lời công kích liên tục. Khi giáo hoàng nghiêm khắc chỉ trích những chuyện tầm phào cũng như những lời phỉ báng râm ran trong giáo triều, là ngài nghĩ tới những kẻ phá hoại đang thầm thì nhỏ to, những kẻ chỉ mong cho triều đại giáo hoàng này qua mau. Một đức ông chống cải tổ, phát biểu nặc danh với vẻ nhút nhát nhưng bực tức: “tôi muốn chết như một người công giáo và tôi mong rằng giáo hoàng Bergoglio sẽ để lại cho vị kế nhiệm ngài khả năng là một giáo hoàng!” Một số hồng y thì chộp lấy cơ hội gặp đức Bênêđictô XVI để than phiền về cảnh “hỗn độn hiện đang ngự trị tại Vatican”.
Cũng đừng coi thường tình hình chống đối do sự trì trệ của nhân viên trong giáo triều vốn không chắc chắn về tương lai của họ, về vai trò của họ. Họ cảm thấy luật lệ truyền thống đang bị lung lay giao động. Nhóm chống đối thầm lặng cũng rất đông. Ngoài những linh mục và các đấng bậc vốn quí mến giáo hoàng Phanxicô, thì có một số lại thất vọng, không đón nhận các phát biểu của ngài, đặc biệt những gì liên hệ đến sự khó nghèo. Một linh mục ở Roma làm việc cho HĐGM Ý nhìn nhận: “Trong thời đại khủng hoảng kinh tế, chúng ta thực sự đang trở thành một giai cấp được ưu đãi, điều đó đặt ra một câu hỏi cụ thể cho hàng giáo sỹ: mỗi linh mục đã sẵn sàng tới đâu để sống phù hợp và làm gương cho sự khó nghèo, và sẵn sàng đi đến các vùng ngoại biên?”
Câu hỏi này cũng được gởi đến các giám mục trên thế giới: họ đã sẵn sàng đến đâu để có thể thay đổi hình ảnh của mình khi mà hình ảnh vị giáo hoàng Roma đã thay đổi? Vatican là nơi chịu những rung chuyển trước tiên. Định lại mẫu hình và làm cho giáo triều trở nên thanh thoát cũng đồng nghĩa với viễn ảnh sẽ mất đi quyền lực, ảnh hưởng, nghề nghiệp, và ngay cả tiền bạc đối với giới giáo sỹ bàn giấy vốn sống như thế từ nhiều thế kỷ. Không phải tình cờ mà việc cải tổ hoàn toàn tại giáo triều lại đòi hỏi rất nhiều thời gian. Ngay cả những hồng y chủ trương cải tổ cũng lo sợ sự bất ổn ảnh hưởng đến bộ máy “nhà nước” do giáo hoàng Phaolô VI thiết lập và được đức Gioan Phaolô II ban hành.
Phe bảo thủ muốn né tránh không biết đến sự kiện là việc chuyển hướng trong mật nghị 2013 phát sinh do khủng hoảng sâu xa về tính khả tín mà Giáo hội công giáo đang trải qua. Khủng hoảng trong việc tiếp xúc với xã hội, khủng hoảng ơn gọi linh mục kéo dài, và những năm gần đây, khủng hoảng ơn gọi cả trong các dòng nữ, khủng hoảng mối tương quan với nữ giới và giới trẻ. Bế tắc. Thế rồi giáo hoàng Phanxicô xuất hiện, sau giai đoạn căng thẳng của một Giáo hội khép kín, “đậm nét giáo triều Roma, ít tính phổ quát [...] được điều hành bởi hàng giáo sỹ khép kín, trơ lì với nhiệt độ thời đại1”, theo kiểu nhận định lạnh lùng của nhà phân tích chính trị địa lý Lucio Caracciolo. Điều đó giải thích những gì mà giáo sư Guzmán Carriquiry, thư ký uỷ ban giáo hoàng về Châu Mỹ Latinh, gọi là “sự bùng nổ niềm mong đợi, niềm vui, hy vọng” mà triều đại giáo hoàng Bergoglio đem lại.
Giáo hoàng Phanxicô ý thức rằng mặt đất chung quanh mình đã bị suy yếu. “Tại giáo triều, sự chống đối đang mạnh lên”, một trong những người thân cận ngài nhìn nhận. Thái độ thù nghịch với quan niệm của ngài về Giáo hội cũng thế. Một nhà thần học nổi tiếng tại Vatican cho biết: “Thỉnh thoảng người ta có những thái độ coi thường các phát biểu và tư tưởng của ngài trong tông huấn Niềm vui Tin Mừng”. Với thời gian, những con diều hâu truyền thống càng ngày càng tỏ ra hung hăng hơn và chắt lọc nọc độc nhằm chống lại những phát biểu của giáo hoàng mà họ coi là “không thể hiểu được, là không phù hợp, là sai lầm”. Theo họ, các phát biểu của giáo hoàng đã làm giảm thiểu tính “thánh thiêng, quyền bính, và lòng tôn kính” đối với vai trò của Vị đại diện Chúa Kitô, chỉ còn là vai trò “tổng thống của một tổ chức tôn giáo đa quốc gia”. Phản ứng của giáo hoàng Achentina đôi khi mang vẻ bông đùa, đôi khi lo lắng. Có lần người ta sắp xếp cho ngài một cuộc hẹn mà không chắc chắn lắm, ngài nói: “Người ta ghi bàn vào khung thành của tôi từ giữa sân”. Trước những căng thẳng ngấm ngầm, ngài vẫn bình thản: “con quỷ đang hoảng loạn […] như thế là chúng ta đi đúng đường rồi đó.”
Giáo hoàng không nhắm mắt trước sự kiện là, trong số những người vỗ tay hoan hô ngài, có những người tuyệt đối không chấp nhận một số hay phần lớn các lập trường của ngài, họ chỉ tỏ vẻ bề ngoài đi từ các luận đề của Ratzinger sang các luận đề của Phanxicô. Trong một thánh lễ cử hành với các tân hồng y được phong dịp tháng Hai 2014, ngài nói rằng Vatican không phải là một triều đình: “Chúng ta hãy giúp nhau tránh thói quen và lối sống triều đình: âm mưu, bép xép, bè phái, thiên vị, phe nhóm theo ý thích.” Chống lại thái độ khúm núm, giáo hoàng mời gọi hãy áp dụng kiểu nói của Tin Mừng, “có nói có, không nói không”. Sau thánh lễ, ngỏ lời với đám đông trên quảng trường thánh Phêrô, ngài mời gọi mọi người hành động cho sự “hiệp nhất” của Giáo hội, ngài lập đi lập lại từ hiệp nhất. Đó quả là một dấu hiệu báo động.
Sự phức tạp trong tính cách cũng khiến ngài hơi “cô đơn”. Tuy giáo hoàng Phanxicô khuyến khích người ta tham gia vào Giáo hội, nhưng chỗ riêng tư, để tránh cô đơn, ngài lại rất gần gũi với các linh mục tại Buenos Aires, tỏ ra đáng mến đối với giáo dân. Một nhân vật tại Vatican quen biết ngài từ nhiều năm nhận xét về ngài như sau: “Người ta kể lại rằng thánh Inhaxiô giữ một “khoảng cách tình cảm” đối với người khác. Jorge Mario Bergoglio cũng làm như thế theo cách của ngài. Điều đó khiến ngài khó có được một nhóm chung quanh mình.”
Tuy vậy, trong thế giới công giáo mênh mông này, vẫn có một nguồn nhân lực thích hợp cho công cuộc cải tổ lớn lao của Bergoglio: đó là những giám mục mà trong thời gian cuối triều giáo hoàng Bênêđictô XVI, đã nóng lòng chờ đợi một sự thay đổi hoàn toàn về tầm nhìn. Người ta đã thấy một vài dấu hiệu ngay trong những cuộc tranh luận tại thượng HĐGM tháng Mười 2012 về chủ đề tân phúc âm hóa. Trong cuộc họp đó, đã có những tiếng nói can đảm kêu gọi Giáo hội tiến hành “tự vấn lương tâm một cách hết sức trung thực về cách sống đức tin của mình”, như phát biểu của tổng giám mục Carlos Aguiar Retes, chủ tịch HĐGM Mỹ Latinh. Tổng giám mục José Palma, chủ tịch HĐGM Philippines, thì mời gọi chiếu ánh sáng vào “những bóng tối và những thất bại”, trong khi người đồng hương của ngài, đức Villegas đòi hỏi hàng giáo sỹ phải tránh “thói kiêu căng, giả hình, bè phái” bằng cách thôi che đậy những lỗi lầm của mình và cần có hình phạt cho những ai phạm lỗi.
Trong tất cả các vùng địa lý và văn hoá, đều có những đòi hỏi phải thay đổi hướng nhìn. Đức cha Diarmuid Martin, giáo phận Dublin, khuyến cáo Giáo hội không được nói với xã hội hiện đại bằng thứ ngôn ngữ “mang tính hung hăng ý thức hệ”; Còn hồng y Ravasi, chủ tịch Hội đồng giáo hoàng về Văn hoá, ước mong có một “cuộc đối thoại không kiêu căng” với khoa học. Đức giám mục người Pháp Dominique Rey kêu gọi một cuộc tân phúc âm hóa mà không bị “dập tắt bởi tính ù lì, thói bàn giấy hay chủ nghĩa giáo sỹ”. Tổng giám mục Manila, Luis Antonio Tagle, khẳng định phải làm chứng cho con người thời này về khuôn mặt Đức Giêsu qua “sự khiêm tốn, tôn trọng, và thinh lặng của Giáo hội”. Những vị khác cũng nhấn mạnh phải tăng cường tính khả tín của Giáo hội.
Dưới triều giáo hoàng Ratzinger, một số giám mục dự đoán về thái độ tiếp cận mà sau này trở thành cung cách của vị tân giáo hoàng. Trước tiên là cách sống “mang tính mục vụ” hơn đối với các linh mục và giám mục, và một cách thức mới trong việc gặp gỡ. Giám mục Badejo người Nigeria lưu ý rằng thế giới ngày nay, đặc biệt là giới trẻ, không còn chấp nhận cách thức gặp gỡ một chiều và Giáo hội phải loại trừ “kiểu mẫu cổ điển của tương quan thầy-trò hay diễn giả-thính giả”.
Các phát biểu mạnh mẽ về chủ đề công lý đã cho thấy sứ vụ đầu tiên của Giáo hội là chiến đấu bảo vệ phẩm giá con người và dấn thân chống lại “những bất bình đẳng xã hội, bạo lực, bất công”. Tại thượng HĐGM 2012, các vị đi đầu trong phong trào này đã nêu lên vai trò của phụ nữ trong Giáo hội. Một giám mục Canada yêu cầu Giáo hội phải “một cách có chủ ý và có hệ thống, đặt phụ nữ vào những vị trí điều hành ở mọi cấp độ trong Giáo hội”, còn đức cha Bode, chủ tịch HĐGM Đức, tiến thêm một bước khi đề nghị truyền chức phó tế cho phụ nữ.
Đó là những đồng minh của giáo hoàng, rải rác trong các giáo phận trên khắp thế giới. Công việc mà ngài đang tiến hành, đòi hỏi phải đánh thức và cổ võ tất cả những lực lượng trên. Bước vào năm thứ hai sứ vụ giáo hoàng, đức Phanxicô bắt đầu tổ chức một nhóm quản trị. Tại giáo triều, ngài dựa chính yếu vào lãnh vực ngoại giao của tòa thánh Vatican.
Parolin, quốc vụ khanh, Stella, bộ trưởng thánh bộ giáo sỹ, Baldisseri, tổng thư ký thượng hội đồng giám mục (cả ba vị này đều được ngài đặt làm hồng y); hồng y Abril y Castelló, được đưa vào uỷ ban hồng y kiểm soát Viện giáo vụ, và hồng y Tauran, nguyên bộ trưởng bộ ngoại giao tòa thánh, thành viên của hai uỷ ban là uỷ ban hồng y kiểm soát và uỷ ban điều tra Viện giáo vụ, tất cả đều là những nhà ngoại giao.
Đó là những người được đào tạo theo trường phái Phaolô VI và bộ trưởng ngoại giao Agostino Cassaroli, người mà sau này trở thành hồng y và là quốc vụ khanh dưới thời Gioan Phaolô II. Nhóm này cổ võ một thái độ tôn giáo không bè phái, kiên chắc về những điểm đạo lý cốt yếu, nhưng mềm dẻo trong cách thức giải quyết vấn đề vì họ ý thức về chủ nghĩa đa phức trong thế giới hiện nay. Đức Phanxicô coi nhóm này như những người tốt nhất có thể ủng hộ cho chương trình cải tổ tại giáo triều.
Trước khi kết thúc năm 2013, giáo hoàng tái bổ nhiệm nhân sự của thánh bộ quan trọng, tức thánh bộ các giám mục. Bộ này có nhiệm vụ tuyển chọn các ứng viên giám mục, theo dõi hoạt động của các HĐGM và có thẩm quyền cao nhất trong việc kiểm soát những người điều hành Giáo hội Công giáo trên toàn thế giới1. Một số nhân sự đã bị loại ra khỏi thánh bộ các giám mục, khiến dư luận lời ra tiếng vào. Đó là trường hợp hồng y Bagnasco, chủ tịch HĐGM Ý, và ba hồng y rất bảo thủ khác: Piacenza, nguyên tổng trưởng thánh bộ Giáo sỹ, hồng y người Mỹ Burke và hồng y người Tây Ban Nha Rouco Varela, nguyên chủ tịch HĐGM Tây Ban Nha, người đã hô hào quần chúng chống lại luật gia đình của Thủ tướng Tây Ban Nha thời đó, ông José Luis Zapatero, một người theo đảng xã hội. Lần đầu tiên, bộ trưởng thánh bộ Giáo lý Đức tin bị loại khỏi phiên họp khoáng đại của Thánh bộ các giám mục.
Ngược lại, giáo hoàng cất nhắc vào giáo triều bộ ba gồm những vị vừa được đặt làm hồng y (Parolin, Stella, Baldisseri) cũng như các nhân vật cởi mở đối với việc cải tổ, chẳng hạn hồng y người Braxin João Braz de Aviz, một trong những người chỉ trích mạnh nhất của giáo triều tại các cuộc họp tiền mật nghị, hồng y Bassetti, phó chủ tịch HĐGM Ý, cũng như hồng y người Anh Nichols và hồng y người Columbia Salazar Gómez, hai vị này nổi tiếng về những tuyên bố ủng hộ việc nhìn nhận hôn nhân dân sự của các cặp đồng tính.
Giáo hoàng Phanxicô đặt cược vào một thế hệ các giám mục mới, những vị được chọn không chỉ do sự khúm núm của họ hay để làm quân bình các khuynh hướng, nhưng theo tiêu chuẩn họ có phát biểu cách tự do hay không và có khả năng đối thoại với một nhân loại “mất định hướng” hay không. Ngài yêu cầu thánh bộ giám mục phải lựa chọn những ứng viên có uy tín và “tầm nhìn rộng lớn”. Giáo hội, theo như ngài khẳng định trong cuộc họp khoáng đại của thánh bộ giám mục tháng Hai 2014, “không cần những nhà biện hộ cho vấn đề của mình, cũng không cần những thập tự quân để tham chiến, nhưng là cần những người khiêm tốn gieo hạt giống và xác tín vào chân lý”.
Như thế, giáo hoàng Phanxicô cứ dần dần sắp xếp quân trên bàn cờ của mình. Nhân dịp phiên họp đầu tiên công nghị hồng y (20-21/02/2014) xoay quanh một chương trình làm việc rõ ràng – vấn đề gia đình, với hệ luận là việc có cho phép những người tái hôn được rước lễ hay không, điều mà cho tới bây giờ vẫn còn bị từ chối -, giáo hoàng đã chọn hồng y Kasper làm báo cáo viên. Lập trường của ngài – “mọi tội lỗi đều có thể được tha thứ. […] Không thể tưởng tượng được một người nào đó có thể rơi vào lỗ đen mà Thiên Chúa không thể kéo họ ra khỏi đó” – cho thấy mục đích của giáo hoàng là muốn giải thoát Giáo hội khỏi ám ảnh của tòa điều tra về vấn đề tính dục và tình cảm. Hướng đến thượng HĐGM về gia đình, giáo hoàng tuyên bố “đồng hành chứ không phải kết án đối với những người gặp thất bại trong tình yêu của họ”.
Khi đặt thêm 16 tân hồng y dịp tháng Hai 2014, (ngoài ba vị quá 80 tuổi, trong đó có hồng y Loris Capovilla, thư ký của giáo hoàng Gioan XXIII), đức Phanxicô đã tăng cường tiến trình toàn cầu hóa Giáo hội. Một vị gốc Haiti, bốn thuộc châu Mỹ Latinh, hai thuộc châu Phi, hai thuộc châu Á và một từ Canada. Người ta ước tính rằng trong năm hay sáu năm sắp tới, giáo hoàng Phanxicô sẽ đổi mới một nửa số thành viên tham dự mật nghị và để lại một nhóm hồng y bầu giáo hoàng có tính hoàn cầu hơn, trong đó sức nặng của châu Âu và Ý sẽ bị giảm bớt. Từ nay, tương lai của giáo hội Công giáo không còn thuộc về cựu lục địa, nhưng thuộc về thế giới thứ ba. Giáo hoàng đặc biệt tăng cường vị thế của châu Mỹ Latinh, nơi chiếm gần một nửa số người công giáo toàn thế giới. Các tổng giám mục của các giáo phận Buenos Aires, Rio de Janeiro, Santiago ở Chilê, và Managua đều được đặt làm hồng y.
Sự kiện một số vị không được bổ nhiệm hồng y cũng cho thấy nhiều điều. Tổng giám mục Rino Fisichella, chủ tịch hội đồng giáo hoàng về Tân phúc âm hoá, do đức Bênêđictô XVI thành lập, không được nhận mũ đỏ. Việc sắp xếp như thế đụng chạm đến nhóm theo giáo lý và chủ trương của Ratzinger, vốn khác với tầm nhìn của giáo hoàng Phanxicô và quan niệm của ngài về Giáo hội “như một bệnh viện dã chiến”, nơi đón nhận những người bị thương của thời đại hôm nay. Trong khung cảnh cuộc cải tổ giáo triều, tương lai của hội đồng do hồng y Fischella đứng đầu sẽ bị lung lay. Tân phúc âm hoá, hiện nay chính đức Phanxicô sẽ đích thân đảm nhận công việc này qua các bài phát biểu mỗi ngày. Chẳng hạn qua việc rửa tội tại nhà nguyện Sixtine – là trái tim của biểu tượng giáo hoàng - cho một em bé con của một cặp người công giáo chỉ kết hôn dân sự.
Việc tổng giám mục Turin, Cesare Nosiglia, và thượng phụ Venise, Francesco Moraglia, là những người lần lượt được các hồng y Ruini và Bertone ủng hộ, không được đặt làm hồng y cũng làm người ta ngạc nhiên. Đó là chỉ dấu cho một sự thay đổi đường hướng. Turin và Venise là những tòa hồng y nổi tiếng, nhưng đối với giáo hoàng Phanxicô, một số giáo phận nổi tiếng không đương nhiên bảo đảm cho một bước tiến nghề nghiệp. Đức Bergoglio “nhắm tới việc giải toả những nhóm quyền lực, những nhóm đặt đại diện của họ” tại các giáo phận quan trọng để bảo đảm được làm hồng y, như nhận định của Luigi Accattoli, một người hiểu biết tinh tế về giới giáo sỹ.
Giáo hoàng gởi một lá thư cho các tân hồng y, nhắc nhở chức tước của các ngài không phải là một sự thăng cấp, không phải là một danh dự, cũng không phải là một sự trang trí, mà là một sự phục vụ, và ngài mời gọi họ phải tránh mọi “thứ lễ lạc xa lạ với tinh thần Tin Mừng về kham khổ, đơn sơ và khó nghèo”. Những người hâm mộ tân hồng y Muller tại vùng Bavaria, đã nghe theo lời giáo hoàng. Trong khuôn viên giản dị và đáng kính của thánh bộ Giáo lý Đức tin, họ đã mua bia từ Ratisbonne và tổ chức một bữa ăn đơn sơ bình dân, loại bỏ đi cái bóng ma của Tòa điều tra với hương vị món xúc xích nướng.
Tháng Hai 2014, giáo hoàng nhận được một cảnh báo không ngờ của Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em. Sau khi gặp gỡ phái đoàn Vatican, hội đồng LHQ đã phổ biến một bản báo cáo yêu cầu Vatican phải làm rõ những tội ác trong quá khứ do việc những linh mục phạm tội được chuyển từ giáo xứ này sang giáo xứ khác. Tài liệu trên cũng đề nghị thành lập ở mọi cấp độ trong cơ cấu giáo hội Công giáo, các cơ quan có vai trò bảo vệ trẻ vị thành niên và thu thập các đơn khiếu nại, nhằm cách ly tất cả những người bị tố cáo lạm dụng tình dục trẻ em, không trừ ai. LHQ ủng hộ việc buộc phải tố cáo các tội phạm, và đây là lần đầu tiên, đề nghị thực hiện một bản điều tra về con cái của các linh mục, những đứa trẻ hầu như không bao giờ được biết bố nó là ai.
Tòa thánh phản đối vì bản báo cáo này đồng thời cũng nêu lên vấn đề phá thai, ngừa thai, phân biệt đối xử những người đồng tính, bản báo cáo cũng không lưu ý đủ đến lời xin lỗi của giáo hoàng Bênêđictô XVI vào năm 2012, những biện pháp được đề ra cho hàng giáo sỹ trong một số quốc gia, việc tăng hình phạt theo giáo luật theo ý các giáo hoàng Bênêđictô XVI và Phanxicô. Tòa thánh Vatican cũng lấy làm tiếc vì tài liệu trên đã được soạn thảo dưới áp lực của các tổ chức Phi chính phủ vốn thù nghịch với Giáo hội, và tố cáo tổ chức LHQ là vượt quá thẩm quyền của mình khi can thiệp vào những “lập trường giáo lý và luân lý của Giáo hội Công giáo”.
Tuy nhiên, ngoài trừ các tuyên bố còn gây tranh cãi, cha Lombardi, phát ngôn viên Tòa thánh, đã bảo đảm rằng Tòa thánh không loại bỏ các cuộc gặp gỡ với LHQ và vẫn “sẵn sàng đón nhận những phê bình chính đáng”. Sau đó, Uỷ ban LHQ về tra tấn đã cảnh báo Vatican rằng cần phải bảo đảm khoản bồi thường cho tất cả các nạn nhân bị lạm dụng tình dục. Giáo hoàng Phanxicô biết rằng vấn đề lạm dụng tình dục, đã từng gây đau khổ cho triều đại giáo hoàng Bênêđictô XVI, không được nổ ra một lần nữa dưới triều đại của ngài. Chính vì thế mà, ngay từ tháng 12/2013, ban tư vấn gồm tám hồng y đã dự tính thành lập một uỷ ban đặc biệt để bảo vệ trẻ vị thành niên, giúp đỡ các nạn nhân và hợp tác với các cơ quan chính quyền.
Hôm trước ngày bắt đầu mùa Chay 2014, tờ National Catholic Reporter – nhật báo công giáo đã theo dõi từ năm 1985 với tính chính xác và lương thiện những xì căng đan ấu dâm trong giới giáo sỹ tại Hoa Kỳ - gởi một lá thư mở cho giáo hoàng, xin ngài hãy rửa chân cho “những người mà cuộc sống của họ bị đảo lộn do bị các linh mục tấn công tình dục” vào dịp thứ Năm Tuần thánh tới. Giáo hội, lá thư đó nhắc lại, có thể là đã dấn thân mạnh mẽ hơn bất cứ tổ chức nào trong việc công bố các quy định và các tiến trình đề phòng lạm dụng tình dục trẻ em, nhưng không ai trong giới giáo sỹ, những người đã “chối bỏ và nói dối” trong quá khứ, và đấu tranh để chuyện này khỏi bị phơi bày, không ai trong họ “bị triệu để trả lời” về những hành động của họ. Thay cho câu trả lời, người ta thấy ngày 22/03/2014 giáo hoàng thành lập một uỷ ban tòa thánh chống lạm dụng tình dục trẻ em, đứng đầu là hồng y O’Malley của Boston và các thành viên gồm bốn nam và bốn nữ, trong số đó có một người từng là nạn nhân nổi tiếng và hiếu chiến nhất: Marie Collins, người Ailen, bị một linh mục hiếp khi cô mới 13 tuổi.
Tháng Bảy, tại Vatican, giáo hoàng Phanxicô tiếp sáu nạn nhân từ Đức, Ailen, và Anh, ngài gặp gỡ từng người trong vòng nửa giờ. Trong thánh lễ cử hành cho họ tại nhà khách thánh Matta, ngài lên tiếng mạnh mẽ về một nguyên tắc mà cho tới lúc đó Vatican không để ý, điều mà các quốc gia Anglosaxon gọi là accountability – tinh thần trách nhiệm. Khi hứa rằng không thể có khoan dung trong lãnh vực này, giáo hoàng nhắc các giám mục phải có nhiệm vụ bảo vệ trẻ vị thành niên và “tường trình về trách nhiệm này”.
Trong nhiều tháng dài, thanh gươm Damoclès về vụ sứ thần Jósef Wesolowski, bị tố cáo lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên tại khu ổ chuột thủ đô Cộng hòa Dominicana, vẫn treo lơ lửng trên Vatican. Những cáo buộc thật bất ngờ, đến nỗi vào tháng Tám 2013, ít lâu sau khi được bầu làm giáo hoàng, đức Phanxicô đã triệu hồi vị khâm sứ này. Nhiều người cho rằng đó là một hình thức cứu nạn, nhưng đức Phanxicô đã cho thấy bàn tay sắt.
Tháng Sáu 2014, sau phiên tòa xét xử do thánh bộ Giáo lý Đức tin thực hiện, Wesolowski đã bị tước hết mọi trách vụ và buộc hồi tục. Nhưng giáo hoàng Phanxicô không dừng lại ở việc cách chức giáo sỹ. Hai tháng sau, ngày 23/09, vị khâm sứ người Ba Lan 69 tuổi, trước đó đang trọ trong một tu viện tại Roma và tự do đi lại trong thành phố, bị gọi đến Vatican và bị cảnh sát tòa thánh bắt giữ. Công tố viên phủ giáo hoàng giam lỏng ông tại tòa thánh Vatican trong khu tòa án. Cảnh sát Vatican cử cho ông một luật sư do tòa chỉ định và thông báo cho ông về phiên tòa xét xử hình sự vì tội lạm dụng tình dục, và chứa chấp phương tiện khiêu dâm trẻ em (trong máy vi tính của ông chứa một trăm nghìn vidéo và hình ảnh trẻ em).
Phát ngôn viên tòa thánh, cha Lombardi, thông báo rằng việc bắt giữ này được thực hiện “do ý định rõ ràng của giáo hoàng, để một vụ việc trầm trọng và tế nhị như thế sẽ phải được giải quyết cách khẩn cấp với sự nghiêm khắc chính đáng và cần thiết, và để cho các cấp điều hành của tòa thánh phải lãnh nhận hoàn toàn trách nhiệm của mình”.
Tại Vatican, cú sốc là rất lớn. Chưa bao giờ một vị tổng giám mục bị bắt tại Phủ giáo hoàng, hoặc bị xét xử hình sự vì tội danh lạm dụng tình dục trẻ em. Đức Ratzinger, trong triều đại của ngài đã buộc hồi tục 884 linh mục vì tội lạm dụng tình dục trẻ em, nhưng vẫn luôn muốn áp dụng một hình thức âm thầm trong trường hợp cách chức giám mục. Ngay cả trường hợp tội phạm của vị sáng lập Đạo binh Đức Kitô, Marcial Maciel, người đã lạm dụng tình dục nhiều chủng sinh và ngay cả đứa con ruột của mình, thì đức Bênêđictô XVI cũng đã quyết định không đưa ra xét xử theo giáo luật, “xét vì Maciel tuổi cao và sức khỏe kém”, theo thông cáo báo chí tòa thánh Vatican ngày 19/03/2006. Hình phạt duy nhất ngài đưa ra cho ông là buộc sống đời chuyên chăm cầu nguyện, cấm tất cả mọi hoạt động công khai, các nạn nhân phản đối quyết định này. Chi sau khi Maciel qua đời, đức Bênêđictô XVI mới cho phép công bố bản thông cáo về những tội ác của Maciel, hành động vô đạo đức của ông và “cách sống thiếu thận trọng và thiếu tình cảm tôn giáo chính đáng”.
Về phần mình, năm 2004, giáo hoàng Gioan Phaolô II đã triệu về Roma nguyên tổng giám mục Boston, hồng y Bernard Law, - người bị buộc từ nhiệm vì đã không tố cáo các linh mục ấu dâm trong giáo phận mình – và đã đặt ông làm tổng linh mục nhà thờ chính tòa Đức Bà Cả để giúp ngài tránh khỏi bị tòa án Hoa Kỳ kết án.
Quyết định của giáo hoàng Phanxicô mở một phiên tòa hình sự tại Vatican để xét xử vụ tổng giám mục khâm sứ là dấu ấn cho thấy rõ ràng một sự đoạn tuyệt với quá khứ. Năm 2013, ngài đã cho hồi tục và miễn nhiệm mọi chức vụ đối với giám mục phụ tá giáo phận Ayacucho, Gabino Miranda Melgarejo người Pêru. Một linh mục lạm dụng tình dục trẻ em là giống như cử hành một thánh lễ đen, giáo hoàng đã nói như thế sau khi từ Đất Thánh trở về vào tháng Năm 2014. Dịp này, ngài thông báo cho ký giả rằng “ba giám mục khác cũng đang bị điều tra”.
Theo dự đoán của cha Lombardi, vụ án xét xử Wesolowski sẽ diễn ra vào năm 2015; Nguyên khâm sứ tòa thánh chịu sáu năm tù giam. Vụ việc này đã làm dấy lên một sự khó chịu lớn lao tại giáo triều và trong giới giáo sỹ công giáo, vì từ nhiều thế kỷ, họ quen đấu tranh để bảo vệ bằng mọi giá cho tổ chức giáo hội. Nhà xã hội học Mauro Magatti, giáo sư đại học công giáo Milan và là giám đốc Trung tâm Nhân học Tôn giáo và Văn hóa Change, cho thấy ông rất lo lắng và sợ hãi cho sự cô đơn của giáo hoàng Phanxicô, ông khẳng định rằng “hy vọng hàng giáo sỹ và các phẩm trật giáo hội đứng về phía giáo hoàng” trong hành động không khoan dung này.
Nhưng ít người biết đến cõi lòng, nơi sâu thẳm nhất của một con người đang làm cách mạng trong Giáo hội. Trên các mạng xã hội, mỗi ngày ngài xuất hiện như một khuôn mặt uy quyền, ngay cả những người vô tín cũng một cách tự nhiên, nhìn ngài như một dấu chỉ của niềm hy vọng và nhân bản. Các phát biểu nổi tiếng nhất của ngài được mọi người biết đến. Khuôn mặt của ngài tươi cười nhưng cương quyết, bàn tay phải dơ lên như dấu hiệu của lời chào hỏi đang nhan nhản trên các màn hình tivi. Ở Borgo Pio, gần Vatican, một bức tranh tường vẽ ngài như một Siêu nhân đang bay với chiếc cặp đầy “những tài sản quý giá” (bức tranh này đã bị xoá). Ngay cả một tờ nhật báo của người đồng tính tại Hoa Kỳ The Advocate cũng đã bầu ngài là nhân vật của năm, và tạp chí nổi tiếng của giới âm nhạc và văn hóa pop Rolling Stone dành cả một trang bìa cho ngài, dựa theo một bài hát của Bob Dylan, “The Times they are a-changin’” – thời đại đang thay đổi. Vẫn tại Hoa Kỳ, tạp chí Fortune đã xếp đức Phanxicô đứng đầu trong số năm mươi nhân vật có ảnh hưởng nhất hành tinh. Người ta dành cho ngài cả một album hình ảnh, một tờ tuần báo, il mio papa, cũng như những cuốn sách dành cho trẻ em tựa đề “kể chuyện giáo hoàng Phanxicô cho trẻ em” và “Bạn Jorge của tôi”. Một nữ tu gốc người Salvador, sinh một đứa con tại Rieti, cũng đã hãnh diện đặt tên con mình là Phanxicô.
Nhưng chiều kích nội tâm của giáo hoàng thì nhiều người không biết gì hết. “Mario Bergoglio, linh mục” đó là tên gọi mà ngài thích nhất, trước khi trở thành giáo hoàng. Giáo hoàng Phanxicô có thể trải qua suốt đêm để giải tội, và lấy làm tiếc vì không thể tiếp tục làm như thế nữa. Ngài là một con người thiết tha cầu nguyện. Ngài thức dậy vào 4g rưỡi sáng, và suy niệm Kinh Thánh trước khi dâng thánh lễ. Buổi chiều, ngài lần hạt và buổi tối chầu Thánh Thể một giờ. Lời cầu nguyện của ngài thấm nhập vào các cuộc gặp gỡ, các bài diễn văn, và các dấu chỉ trong cuộc sống hằng ngày. Cha Victor Manuel Fernández, viện trưởng đại học Công giáo Buenos Aires cho biết “trong lời cầu nguyện của ngài, đầy dẫy những khuôn mặt, những tên gọi1”. Chỗ bạn bè thân tín, ngài thú thực là thường nhận được trong lúc cầu nguyện cách thức giải quyết cho những vấn đề phải quyết định. Tại nhà khách thánh Matta, có một căn phòng nhỏ, giáo hoàng Phanxicô thường vào đó để cầu nguyện trước tượng thánh Giuse đang ngủ, dưới chân bức tượng này, ngài đặt những miếng giấy ghi ý cầu nguyện mà tín hữu gởi đến cho ngài.
(còn tiếp)