Một triều đại giáo hoàng có thời hạn (p2)

Các thánh lễ sáng tại nhà khách thánh Matta, có sự tham dự của các nhóm giáo dân, - không phải là những khách mời được tuyển chọn như vào thời giáo hoàng Gioan Phaolô II – là do ngài có nhu cầu không thể đánh mất liên hệ trực tiếp của người linh mục với dân Chúa chung quanh bàn tiệc Thánh thể. Khi ngài bước vào nhà nguyện, phẩm phục giáo hoàng chỉ là chiếc mũ nhỏ màu trắng trên đầu, người ta nhìn thấy một cách cụ thể là đức Phanxicô thực thi vai trò giáo hoàng như một linh mục và là chứng nhân cho Tin Mừng hướng tới con người. Từ khi được bầu làm giáo hoàng, ngài không chỉ nói với người tín hữu công giáo mà thôi, nhưng là cho tất cả mọi người, nam cũng như nữ, trong thời đại chúng ta.

Thánh lễ tại nhà nguyện thánh Matta diễn ra một cách hết sức đơn giản, đặc biệt là dành nhiều thời gian cho chiêm niệm. Sau bài giảng, ngài ngồi thinh lặng thật lâu. Trong khi trao Mình Thánh, ngài cũng thinh lặng suy niệm. Sau khi rước lễ, ngài tiếp tục thinh lặng. Cuối thánh lễ, ngài đến ngồi trên ghế dài của giáo dân, tiếp tục chiêm niệm.

Trong khung cảnh nhà nguyện nhỏ bé, nổi bật lòng đạo đức của giáo hoàng Phanxicô, cho dù khuôn mặt ngài không nổi rõ nét đó. Trong lúc truyền phép, khi nâng Mình Thánh lên, đức Phanxicô nhìn thẳng vào Mình Thánh, với một ánh nhìn sâu thẳm khác thường. Quanh ngài không còn gì ngoài vòng sáng mà ngài dường như hoàn toàn hướng về đó. Tín hữu cũng được chia sẻ thứ tình cảm tuyệt đối đang bao trùm không gian. Trong lúc tập trung như thế, được lập lại khi ngài nâng chén thánh, giáo hoàng dường như ở khắp mọi nơi: đang cử hành thánh lễ giữa sa mạc như cha Teihard de Chardin hay trong trại tập trung của chế độ độc tài thế kỷ XX.

Bergoglio có một khía cạnh trang trọng và nghiêm túc ít ai biết, nhưng nó được tỏ lộ trên khuôn mặt ngài, trong những dịp cử hành nghi lễ long trọng, khi trong một khoảnh khắc nào đó ngài bỏ qua vai trò nơi công cộng, và khi ngài nhìn quanh với ánh mắt suy tư, đượm nét lo lắng. Dường như con mắt nội tâm của ngài đang nhìn thấy những thảm kịch trên thế giới. Friedrich Holderlin, thi sĩ người Đức mà ngài rất thân, đã tả nỗi buồn của con người “Như giòng nước từ tảng đá / một tảng đá bị ném vào vực thẳm bất định / nhiều năm qua1”. Không phải tình cờ mà khi ở tuổi 33, hôm trước ngày chịu chức linh mục, Bergoglio đã soạn một lời cầu nguyện như sau: “Con muốn tin vào Thiên Chúa là Cha, đấng yêu thương con như một người con…”

Trong nội tâm, mẫu hình của ngài có thể là tu sĩ dòng Tên Pierre Favre, một trong những anh em đầu tiên của thánh Inhaxio Loyola, gốc nông dân, vị được giáo hoàng Phanxicô phong thánh trong những tháng đầu tiên triều giáo hoàng của ngài. Giáo hoàng đã nhận xét về ngài như sau: “đối thoại với mọi người, ngay cả với những người ở xa và cả những người chống đối mình […]; một lòng đạo đức đơn sơ, có thể là chân thành đến ngây thơ, thái độ sẵn sàng cách nhanh chóng, phân định nội tâm cách cẩn thận, một người có những quyết định lớn và mạnh mẽ, nhưng cùng lúc đó lại có khả năng tỏ ra rất dịu dàng”…

Giáo hoàng Phanxicô không phải là một người hiền lành đến nhu nhược, cũng không phải là người lạc quan hời hợt. Ngài có một ý thức bén nhọn về những cái xấu và tội lỗi của thế gian, những thiếu sót, những sai lầm vẫn dằn vặt ngài như bao Kitô hữu khác. Ngay từ khi khởi sự làm giáo hoàng, ngài đã nhắc đến ma quỷ. Đối với ngài, cái Xấu không phải là một ý niệm trừu tượng, nhưng là một nguyên lý hoạt động đang bào mòn tình trạng chuẩn bị tích cực nơi con người. Có lần trong thánh lễ sáng tại nhà nguyện thánh Matta, ngài nói: “Khi Đức Giêsu chữa cho một người bị quỷ ám, nếu nói đó là chữa trị tâm lý, như một số linh mục thường nói, thì không đủ. “Chúng ta không có quyền đơn giản hóa vấn đề.” Đoạn Tin Mừng đó thúc đẩy ngài xin các tín hữu phải xét mình thật cẩn thận. “Tôi có lưu ý đến chính mình không? đến con tim của mình không? đến tình cảm của mình không? đến tư tưởng của mình không? Tôi có giữ gìn sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong tôi không?” trong cuộc gặp gỡ lần đầu tiên với các hồng y sau khi được bầu, ngài đã nói rằng ma quỷ đang gieo “tư tưởng bi quan, cay đắng, thất vọng”. Ngài hăm dọa những người theo Mafia: “hoả ngục đang chờ đợi quý vị, nếu quý vị cứ ở lỳ trên con đường đó.”

Trong những thập niên vừa qua, giáo hoàng Phanxicô không bao giờ nhắc tới tình trạng tu sĩ dòng Tên của mình, cho dù việc nhắc đến điều đáng buồn do ma quỷ gây ra là một đặc trưng của truyền thống Inhaxiô Loyola. Khía cạnh tiêu biểu nhất trong linh đạo dòng Tên là “phân định”: chú ý xác định và cân nhắc “điều lớn điều nhỏ” để nhận ra trong cuộc sống những dấu hiệu của Chúa và bước theo dấu vết của ngài.

Mặc dù đề ra một chương trình, nhưng giáo hoàng Phanxicô không biết chương trình đó sẽ dẫn tới đâu. Trong khi nỗ lực bao la để đổi mới Giáo hội Công giáo, ngài cũng không có ý xác định một mẫu hình cuối cùng mà công việc lớn lao này đưa tới. “Làm những điều nhỏ bé mỗi ngày với một trái tim vĩ đại mở ra cho Thiên Chúa và tha nhân […]với những tầm nhìn rộng lớn”, đó là hướng đi của ngài.

Giáo hoàng Phanxicô phản đối những ai nghĩ rằng việc thay đổi và cải tổ có thể diễn ra nhanh chóng, ngài cho rằng phải cần thời gian để chuẩn bị một sự thay đổi đích thực. Đó là chiều kích cần thiết để đọc được những “dấu chỉ thời đại” như kiểu nói của các nghị phụ Công đồng Vatican II. “Quan tâm đến những biến cố đang xảy ra, đến cảm thức của con người, đặc biệt là của người nghèo”, đức Bergoglio nói.

Chính từ quan điểm đó mà giáo hoàng vẫn bình an trong khi làm việc không mệt mỏi để đặt nền tảng cho một Giáo hội đổi mới, ngài làm việc không có kỳ hè, không có những kỳ nghỉ ở miền quê như giáo hoàng Wojtyla, hay những cuộc đi dạo trong vườn Vatican như giáo hoàng Ratzinger. Kết thúc năm thứ nhất triều giáo hoàng, khuôn mặt đức Phanxicô ghi dấu sự mệt mỏi. Có lúc đôi mắt ngài sưng do thiếu ngủ, có những lúc tỏ ra đuối sức. “Có rất nhiều công việc, nhưng tôi vẫn tập trung tinh thần” ngài chia sẻ như thế cho một người thân từ Achentina đến chào ngài. “Xin nhớ đến tôi nhé”, ngài thêm. Để giữ sức khoẻ, ngài đã giảm bớt việc dâng thánh lễ ban sáng với giáo hữu tại nhà nguyện thánh Matta. Ngài không dâng lễ ở đó vào các ngày thứ ba, thứ bảy và Chúa Nhật. Trước đây, khi còn ở Buenos Aires, các giám mục phụ tá ép ngài phải lấy kỳ nghỉ hai tuần lễ, ngài nghe với vẻ cau có, sau đó trả lời bằng kiểu nói khéo: “Bây giờ, tại sao các ngài không đi gặp ma quỷ đi?”

Đức Phanxicô không phải không biết đến chiếc đồng hồ cát vô hình được đặt bên cạnh ghế giáo hoàng, nhưng ngài làm việc mà không bị ám ảnh bởi ý tưởng phải có kết quả ngay lập tức. Giáo hội của thiên niên kỷ thứ ba theo như hình ảnh ngài có trong đầu, khác xa với một cơ cấu quân chủ, nhưng mang mẫu hình của sự tham gia. “Một sự hài hòa trong khác biệt”. Không còn nguyên tắc kim tự tháp, hay hình cầu nơi đó mọi người đều phải đồng bộ như nhau, không có sự khác biệt về điểm này điểm nọ. Khuôn mẫu của Giáo hội, ngài giải thích, là “một hình khối đa diện, phản ánh sự hợp lưu của tất cả các yếu tố riêng lẻ, những yếu tố này, trong Giáo hội vẫn giữ được tính cách riêng của mình”. Ngài thích nhấn mạnh đến một cấu hình nơi đó mỗi người giữ được nét cá biệt, “ngay cả những người có thể bị chỉ trích vì những sai lầm của họ, vẫn có điều gì để đóng góp và chúng ta không được bỏ qua điều đó”.

Người ta không thể một mình sửa đổi Giáo hội. Xét về sự đồng thuận, giáo hoàng Phanxicô không cô đơn: người giáo hữu rất nhiệt thành với ngài - ở cấp độ toàn cầu, ngài nhận được 87% ý kiến ủng hộ, ở châu Âu là 90% và ở Ý là 99% -, nhưng bộ máy đồ sộ của hàng giáo sỹ lúc này bỏ rơi ngài như một viên tướng tiến quá xa sang phía bên kia chiến tuyến, trong khi đoàn quân vẫn an binh bất động phía sau lưng ông.

Thượng hội đồng giám mục tháng Mười 2014 đã là một phép thử đầu tiên về triều giáo hoàng này, để dám chấp nhận đường hướng coi Giáo hội như một “bệnh viện dã chiến” điều trị các vết thương của đời sống con người trong thời đại hôm nay, khác hẳn một Giáo hội kết án nhân danh một đạo lý trừu tượng.

Trong giai đoạn liền ngay trước Thượng hội đồng giám mục, bầu khí là khá lạc quan. Giáo hoàng nhắc lại rằng “có biết bao người bị thương đang cầu xin chúng ta như đã cầu xin đức Giêsu: một người thân cận”, điều mà những kinh sư, tiến sĩ luật, biệt phái không thể cho được. Giáo hoàng Phanxicô đã cử hành bí tích hôn nhân và chúc lành cách long trọng cho hai mươi cặp trước đền thờ thánh Phêrô – trong số đó một số đã sống chung hay đã có con từ hôn nhân lần trước. Hồng y Lorenzo Baldisseri, thư ký Thượng hội đồng giám mục ghi nhận: “Một cánh cửa khép kín cho tới hôm nay, và giáo hoàng đang muốn mở ra.” Avvenire, tờ nhật báo của các giám mục Ý, tiên đoán rằng bản câu hỏi đã được gởi đi khắp thế giới để chuẩn bị cho thượng hội đồng giám mục (đề cập đến những vấn đề mà trong quá khứ không ai dám nói, chẳng hạn như việc trao mình thánh cho những người tái hôn, hôn nhân đồng tính, con cái của các cặp đồng tính), đã cũng cổ cho giả thuyết về “khả năng xem xét lại một số thực hành mục vụ”.

Trong thực tế, ngay phiên họp hồng y tháng Hai 2014, hồng y Kasper đã trình bày một tiến trình hoán cải dành cho người Kitô hữu tái hôn để họ được chấp nhận cho rước lễ. Trong phiên họp này đã bắt đầu hình thành một sự chống đối có tính chiến lược về lòng thương xót của vị giáo hoàng Achentina. Theo hồng y Camillo Ruini, nguyên chủ tịch HĐGM Ý, có 85% hồng y bày tỏ lập trường phủ quyết trong phiên họp này.

Hôm trước ngày khai mạc thượng hội đồng giám mục, lập trường phản đối xuất hiện công khai. Năm vị hồng y, trong đó bốn vị thuộc giáo triều, đã công khai cho biết mình phủ nhận, trong một tuyên bố tựa đề “Ở lại trong chân lý của Đức Kitô”, và khẳng định rằng “sẽ hiệp nhất với nhau để bảo vệ mạnh mẽ rằng Tin Mừng mà Đức Kitô trình bày cho chúng ta, rõ ràng đã cấm ly dị và tái hôn”.

Đó là một sự kiện nổi bật chưa từng thấy từ thời Công đồng Vatican II, đặc biệt vì vai trò của các tác giả của nó: hồng y Gerhard Ludwig Muller, bộ trưởng thánh bộ Giáo lý Đức tin, Raymond Burke, chủ tịch Tòa án Tối cao tòa thánh (một kiểu tòa giám đốc thẩm của Vatican), Carlo Caffarra, tổng giám mục Bologne, Velasio De Paolis, nguyên chủ tịch Ban quản trị tài sản Tòa thánh, và Walter Brandmuller, nguyên chủ tịch uỷ ban Khoa học lịch sử của Vatican. Hồng y George Pell người Úc, thành viên hội đồng các hồng y cố vấn của giáo hoàng Phanxicô, ngay lập tức gia nhập lập trường chống đối này. Các hồng y Angelo Scola của Milan, Thomas Collins của Toronto và Marc Ouellet, chủ tịch Thánh bộ các giám mục, cũng tham gia nhóm này.

Hai vị đã bầu cho Bergoglio tại mật nghị 2013 là hồng y người Mỹ Timothy Dolan và hồng y Sean O’Malley, chấp nhận một lập trường nhẹ nhàng hơn nhưng cũng dứt khoát chống đối. Hồng y Dolan nói: “Tôi không hiểu làm thế nào có thể có một thay đổi tận căn như thế [về việc những người ly dị tái hôn] mà không đi ngược lại với giáo huấn của Giáo hội”. Ngay sau phiên họp các hồng y, hồng y O’Malley giải thích rằng ngài không thấy “có lý do thần học nào để biện hộ” cho việc thay đổi. Sau đó, vị thư ký của đức Ratzinger, tổng giám mục Georg Ganswein, cũng nhắc lại rằng các Kitô hữu tái hôn là lựa chọn ngược lại với điều “Chúa Giêsu đã dạy”.

Thượng hội đồng giám mục khai mạc, giáo hoàng Phanxicô đưa ra hai dấu chỉ. Trong thánh lễ khai mạc ngày 5/10, ngài nói tới các “mục tử xấu chất lên vai người ta những gánh nặng không thể vác được, mà không đụng một ngón tay để đỡ gánh nặng cho họ”. Ngày hôm sau, khi bắt đầu công việc nhằm cải tổ thượng hội đồng giám mục thành một công cụ mang tính tông đoàn, ngài khuyến khích các giám mục trình bày rõ ràng, hoàn toàn tự do, “không sợ hãi” và không im lặng vì sợ rằng đức giáo hoàng có thể “suy nghĩ khác”.

Tuy nhiên, sự tự do của các nghị phụ thượng hội đồng giám mục bị một trở ngại không ngờ trước, do thông tin về các bài phát biểu của họ. Trong vòng bốn mươi năm, tại các thượng hội đồng giám mục, người ta cung cấp cho báo chí một tài liệu tổng hợp các phát biểu của các giám mục, điều đó cho phép theo dõi từng ngày thượng hội đồng đang đi theo hướng nào. Nhưng lần này, do quyết định của văn phòng thư ký thượng hội đồng, kiểu thông cáo báo chí như thế đã bị loại bỏ, thay vào đó, người ta chỉ tổ chức cuộc họp báo trong đó không nêu đích danh các diễn giả. Một nghịch lý là hồng y Muller, người chịu trách nhiệm của Tòa thánh, lại biến thành hiệp sỹ bênh vực cho sự tự do thông tin khi khẳng định rằng “mọi Kitô hữu đều có quyền được thông tin về các phát biểu của các giám mục”.

Tuần thứ nhất dành cho tranh luận chung, đến cuối tuần, một bản “tường trình sau các cuộc tranh luận” do vị báo cáo chung, hồng y Péter Erdõ người Hungari chịu trách nhiệm soạn thảo, nhưng phần cốt yếu là do giám mục Bruno Forte, thư ký đặc biệt của thượng hội đồng giám mục, làm người ta kêu trời. Lối văn, nội dung và từ ngữ sử dụng trong bản báo cáo dường như cho thấy rằng một trang hoàn toàn mới đang được mở ra trong Giáo hội, trước tình trạng các cặp hôn nhân và về đề tài tính dục.

Chưa bao giờ người ta đọc thấy trong một tài liệu do phẩm trật giáo hội ấn hành mà lại có một câu như sau: “Những người đồng tính có ơn riêng và những đức tính để cống hiến cho cộng đoàn Kitô hữu”, rồi một câu hỏi được đặt ra cho tất cả các giáo phận trên thế giới: “Chúng ta có sẵn sàng đón nhận những người đó, bảo đảm cho họ một không gian huynh đệ trong các cộng đoàn của chúng ta hay không?” Chưa bao giờ người ta thấy một sự nhìn nhận trực tiếp các cặp đồng tính như trong đoạn sau: “Không chối những vấn đề khó khăn về luân lý liên hệ đến các cặp đồng tính, người ta cần lưu ý rằng có những trường hợp người đồng tính nâng đỡ nhau đến hy sinh cho nhau, làm nên một sự trợ giúp quý báu cho cuộc sống của mỗi người phối ngẫu.”

Trong một cuộc họp báo, hồng y Luis Antonio Tagle, người Philippines (mà một số người coi như sẽ kế vị giáo hoàng Phanxicô) kể rằng, trong những cuộc tranh luận, hơn một nghị phụ có cảm tưởng rằng “tinh thần Công đồng” và Hiến chế Vui mừng và Hy vọng đang thoảng đâu đó. “Một lần nữa, người ta lại nhắc tới một Giáo hội không quay nhìn về chính mình, nhưng phải lắng nghe và đối thoại với thế giới hiện nay”, hồng y Tagle bình luận.

Bản tường trình sau tranh luận chứa đựng những điểm nhấn mới. Tập tài liệu được trình bày ngày 13/10/2014, mặc dù cũng lưu ý tới lập trường của những người không chấp nhận thay đổi, nhưng đã mở ra khả năng về một “lộ trình sám hối” dành cho những người ly dị tái hôn để họ có thể được rước lễ. Bản văn cũng mời gọi hãy nhìn nhận “những yếu tố cấu thành” vốn gắn liền với hôn nhân dân sự và các cặp sống chung không hôn nhân. Ngay cả trong những cặp này, “người ta có thể thấy những giá trị của gia đình đích thực”. Sau cùng, bản tường trình cũng dành một sự lưu ý đặc biệt tới những đứa trẻ sống với các cặp đồng tính – là kiểu hôn nhân mà bản tường trình trên không chỗ nào kết án cả. Đây là điểm hoàn toàn khác với lập trường của các giáo hoàng Wojtyla và Ratzinger, vì hoàn toàn không nhắc tới những “nguyên tắc không thể thương lượng”.

Hơn nữa cũng không nhắc đến khái niệm “luật tự nhiên”. Ngược lại, bản văn mời gọi Giáo hội đối diện với đề tài tính dục trong cái nhìn toàn diện, như cách đây một phần tư thế kỷ, hồng y Carlo Maria Martini đã đề nghị. Bản tường trình sử dụng những từ rất rõ ràng: “vấn đề đồng tính mời gọi chúng ta suy tư một cách cẩn thận khi đề ra những con đường thực tế giúp người ta phát triển tình cảm, trưởng thành nhân bản và Tin Mừng trong việc đón nhận chiều kích tính dục”.

Hai mươi bốn giờ sau, bản văn này trở thành ảo mộng. Cánh bảo thủ tấn công vào các điểm chính yếu, còn phe đổi mới dường như không có được một đa số đáng kể. Thực vậy, những ai đã tiếp cận các bài phát biểu bằng văn bản do các giám mục gởi về Roma trước thượng hội đồng, thì giải thích rằng chỉ có bốn mươi lăm phát biểu đề cập đến đề tài về các cặp đồng tính, như vậy vấn đề không có được tầm quan trọng trong các cuộc tranh luận. Vậy là bản Tường trình đã làm một cuộc đảo chính. “Thực là ngạc nhiên”, một vị từng tham dự thượng hội đồng giám mục nhớ lại. Về việc những người tái hôn được rước lễ, ý kiến chung là rất phân tán, điều mà bản Tường trình muốn làm nhẹ bớt đi.

Phản ứng của phe bảo thủ là rất cứng rắn. Trong một bản thông cáo báo chí lạnh lùng, hồng y Muller loại trừ mọi cánh cửa: “Tôi không tham gia buổi biểu diễn này nữa.” Còn chủ tịch HĐGM Ba Lan, tổng giám mục Stanislaw Gadecki, khẳng định: “Người ta đang rời xa giáo huấn của đức Gioan Phaolô II. Trong bản văn này có những dấu vết của một ý thức hệ chống hôn nhân.” Hồng y Burke cũng phản kháng, cho rằng nhằm phục vụ cho giới báo chí của Vatican, nên “thông tin đã bị xào nấu theo hướng thuận lợi cho một luận đề duy nhất, thay vì báo cáo một cách trung thực các lập trường khác nhau. Một số khá đông các giám mục không chấp nhận ý tưởng mở cửa, nhưng ít người được biết điều đó”. Hồng y Fox Napier Nam Phi cũng tỏ ra phản đối và yêu cầu sửa đổi bản văn. Mọi gợi ý nâng giá trị cho hôn nhân đồng tính đều gặp phải một sự phản kháng hết sức mạnh mẽ trong số các giám mục Phi châu. Các vị này còn phàn nàn rằng các nước Tây phương thường đặt điều kiện cho việc giúp đỡ kinh tế bằng việc phải chấp nhận hợp thức hóa phong trào phò đồng tính.

Hồng y Robert Sarah, gốc Ghinê, thuộc giáo triều và là chủ tịch uỷ ban Cor Unum, nhận định rằng các hôn nhân đồng tính là “một lệch lạc trầm trọng về vấn đề tính dục” và tố cáo âm mưu bẻ cong giáo lý của Giáo hội.

Cũng trong thời gian đó, hồng y Ruini phổ biến một tài liệu nhắc lại tông huấn Familiaris consortio của đức Gioan Phaolô II, trong đó giáo hoàng tái khẳng định rằng “không được trao Mình Thánh Chúa cho những người ly dị tái hôn, kỷ luật đó được xây dựng trên nền tảng Kinh Thánh”. Để được rước lễ, họ phải hứa “hoàn toàn tiết chế”. Đây là một nỗ lực sử dụng quân bài đức Gioan Phaolô II để chống lại hướng đi của giáo hoàng Phanxicô.

Hồng y Fernando Filoni, trước đây phục vụ trong ngành ngoại giao tòa thánh, và là chủ tịch thánh bộ Truyền giáo cho các dân tộc, cũng tuyên bố rằng bản Tường trình đó “phải được sửa lại, cho quân bình hơn về một số khía cạnh”. Nhật báo Il Foglio, tờ báo trở thành mũi nhọn của phong trào cực bảo thủ tại Ý từ khi đức Phanxicô được bầu làm giáo hoàng, khích động phải “chống lại khuynh hướng lạc giáo”, họ lấy làm tiếc vì bản Tường trình đi ngược lại với Tin Mừng và giáo lý, vì loại bỏ giá trị của “trật tự tự nhiên và do Thiên Chúa thiết lập”.

Trước tình hình bất ổn này, văn phòng báo chí tòa thánh buộc lòng phải tuyên bố rằng bản Tường trình về các tranh luận chung không phải là một tài liệu làm việc. Một phiên bản mới về đoạn liên hệ đến việc đón nhận những người đồng tính đã được phổ biến bằng Anh ngữ. Ở đâu bản văn tiếng Ý (ngôn ngữ chính thức của thượng hội đồng giám mục) nói về việc “đón nhận” thì bản tiếng Anh dùng kiểu nói “chăm sóc” cho những người đồng tính.

Trong số những người công khai chống lại cuộc tấn công này, người ta thấy có hồng y Christoph Schönborn. Ngài nêu trường hợp hai người đồng tính mà ngài biết tại Vienna, về cách thức “tuyệt vời, nhân bản và đầy tính Kitô” họ dành cho nhau trong cơn bệnh nặng của một trong hai người. Theo hồng y Reinhard Marx, chủ tịch HĐGM Đức, không được nói với ai rằng: “Bạn là người đồng tính, nên bạn không thể sống Tin Mừng. Đối với tôi, điều đó là không thể tưởng.” Ngay cả trước khi khai mạc thượng hội đồng giám mục, hồng y Kasper đã tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn rằng, mặc dù một cách tuyệt đối không thể so sánh với hôn nhân, nhưng “các cặp đồng tính, nếu được sống một cách vững bền và có trách nhiệm, là đáng tôn trọng”.

Trong tuần thứ hai của kỳ họp thượng hội đồng giám mục, mười nhóm làm việc theo ngôn ngữ đã loại bỏ những công thức quá cấp tiến trong bản Tường trình, đó là những công thức đã khiến dư luận quan tâm. Bản văn cuối cùng của thượng hội đồng giám mục – được giáo hoàng công bố ngay lập tức cùng với số phiếu bầu cho mỗi đoạn – trình bày nhiều ý kiến đa chiều.

Giáo hoàng Phanxicô đã mở ra một ô cửa khi cho phép tranh luận tự do về những chủ đề mà trước đây vẫn bị cấm. Thượng hội đồng giám mục nhìn nhận “những yếu tố có giá trị” trong những mối quan hệ khác với hôn nhân Kitô giáo. Các giám mục khẳng định rằng Giáo hội với lòng yêu mến, ngỏ lời với những ai “ký kết một hôn nhân dân sự, những ai đã ly dị và tái hôn, hay những người sống chung không hôn nhân”, vì – đây là một điểm quan trọng về mặt thần học – “ân sủng Thiên Chúa cũng hoạt động cả trong đời sống của họ”, khi mà những cặp phối ngẫu đó quan tâm đến nhau bằng tình yêu và chăm sóc con cái của họ với tình cảm và ý thức trách nhiệm. Ngoài ra, các giám mục còn mời gọi phải hết sức tôn trọng những người ly dị tái hôn, họ phải được hội nhập vào sinh hoạt giáo xứ “tránh mọi kiểu nói hay cử chỉ khiến họ cảm thấy mình bị kỳ thị”. Song song, người ta cũng mở ra con đường dẫn đến việc đổi mới nhằm giúp tiến hành nhanh hơn và miễn phí nếu có thể, về những trường hợp tuyên bố hôn nhân vô hiệu về mặt tôn giáo. Một cải tổ mà giáo hoàng Phanxicô đã khởi sự khi ngài thành lập một uỷ ban dành cho vấn đề này trước kỳ thượng hội đồng giám mục.

Trong phiên họp chung, từng đoạn của bản văn chung kết đã được mọi người chấp nhận với quá hai phần ba số phiếu. Chỉ có ba đoạn – liên hệ đến việc người tái hôn được rước lễ và đồng tính – là chưa đạt được số phiếu cần thiết. Vấn đề nhận được ít phiếu bầu nhất, chỉ có 104 có ý kiến trên 183 phiếu, liên hệ đến lộ trình sám hối dành cho những người tái hôn để được rước lễ. Đa số đồng ý rằng vấn đề này “cần được nghiên cứu sâu hơn”. So với bản Tường trình, thì các giám mục đi lùi lại trong vấn đề nhìn nhận những giá trị trong các cặp đồng tính. Phe bảo thủ áp đặt một công thức giới hạn dựa trên khẳng định của hồng y Ratzinger trước đây khi đứng đầu Thánh bộ Giáo lý đức tin: mặc dù tôn trọng và không kỳ thị đối với cá nhân, nhưng không nhìn nhận các cặp đồng tính sống chung với nhau và một cách mặc nhiên kết án tình dục đồng tính (coi như một “sự mất trật tự luân lý”, theo tuyên ngôn của Thánh bộ Giáo lý đức tin năm 1992). Nhiều giám mục theo nhóm cải tổ nằm trong số 62 người bỏ phiếu chống lại bản văn quá ngặt như thế về vấn đề tính dục đồng tính – bản văn này chỉ nhận được 118 phiếu thuận.

Kinh nghiệm của công đồng Vatican II, với đầy dẫy những đối kháng và tranh luận, được sử dụng để nhắc lại rằng trong Giáo hội cần phải có thời gian để một sự thay đổi đạt tới tầm mức chín mùi. Công đồng kéo dài ba năm, và sự nhẫn nại của giáo hoàng Phaolô VI là cần thiết để đưa các bản văn đến chỗ được đa số chấp thuận cuối cùng một cách rộng rãi, kể cả giám mục Marcel Lefebvre, người sau đó li khai khỏi Giáo hội. Ý kiến sau đây của chủ tịch HĐGM Hoa Kỳ, hồng y Joseph Kurtz về thượng hội đồng thật ý nghĩa: “Giáo hoàng Phanxicô đã khôn ngoan khi đề nghị kéo dài công việc trong hai năm. Vì hôm nay dường như chúng tôi không đủ khả năng đưa ra những đề nghị có ý nghĩa.”

Thượng hội đồng giám mục cũng đề cập đến nhiều cách tiếp cận khác nhau. Về đề tài gia đình, các giám mục Phi châu và Á châu ít quan tâm đến sự lựa chọn cá nhân trong việc ly dị và tái hôn cho bằng sự tồn tại của chế độ đa thê, hôn nhân do sắp đặt, bạo hành trong gia đình và tình trạng bất thường do hoàn cảnh quá nghèo túng đưa tới. Một số đông giáo sỹ lo sợ về việc làm đảo lộn một cách đột ngột thẩm quyền của các lập trường đạo lý từng được khẳng định từ nhiều thế kỷ, điều đó cũng góp phần làm giảm tốc độ của việc mở cửa. Bằng chứng là có lần đức Phaolô VI tâm sự với một triết gia người Pháp, Jean Guitton, về giáo lý về việc ngừa thai: “một sự giảm nhẹ luật lệ sẽ có thể đem đến hậu quả là đặt lại vấn đề luân lý, nhưng nhất là chứng tỏ tính có thể sai lầm của Giáo hội.”

Trong thời gian diễn ra thượng hội đồng giám mục, giáo hoàng Phanxicô cảm thấy bình tĩnh cho dù có những căng thẳng nổ ra như giữa ban ngày. Mỗi ngày ngài đến hội nghị không cần cận vệ, ngài chăm chú theo dõi các tranh luận, đi uống cà phê với các giám mục ở quày bán nước, thảo luận với mọi người, đôi khi người ta thấy ngài gởi những mẩu giấy ghi chú cho hồng y Lorenzo Baldisseri, tổng thư ký thượng hội đồng.

Giáo hoàng Phanxicô xác tín vào sự cần thiết phải đẩy mạnh việc thảo luận ở tất cả các cấp độ trong Giáo hội. Đối với ngài, điều cần thiết là phải thúc đẩy tiến trình tham gia của các giám mục vào các quyết định mang tính chiến lược của giáo hoàng. Khởi đầu kỳ họp thượng hội đồng giám mục, trong một cuộc phỏng vấn dành cho tờ báo Achentina La Nación, ngài đã thông báo: “Đây sẽ là một thượng hội đồng kéo dài, có lẽ phải mất một năm. Tôi chỉ là người tạo lực đẩy lúc đầu. Khi tôi là báo cáo viên của thượng hội đồng giám mục năm 2001, một vị hồng y đã nói với chúng tôi những gì chúng tôi phải tranh luận và những gì không cần. Thượng hội đồng lần này sẽ không có như vậy nữa.”

Lập trường trung lập tuyệt đối của đức Ratzinger cũng góp phần vào thái độ thanh thản của giáo hoàng Phanxicô, cho dù có tiếng đồn cho rằng phe bảo thủ hiếu chiến nhất đang âm mưu lôi kéo vị nguyên giáo hoàng vào phe chống lại đường lối của vị kế nhiệm. Với tư cách cá nhân, đức Phanxicô đã đi khá xa. Theo một chứng từ không bị phủ nhận, vào tháng Tư 2014, ngài đã gọi điện thoại khuyên một phụ nữ ở Buenos Aires, người đã kết hôn dân sự với một người đã ly dị, “cứ đi rước lễ ở nhà thờ một giáo xứ khác nếu cha xứ nhà không cho rước lễ”. Với tư cách tổng giám mục, ngài đã từng khuyến khích các cha xứ trong giáo phận của ngài hãy cho những người tái hôn hay sống chung không kết hôn rước lễ.

Nhìn lại trước kia, bảng tổng kết của thượng hội đồng giám mục lần đầu về gia đình, - với sự tham dự của chủ tịch 193 hội đồng giám mục, 23 đại diện các Giáo hội Đông phương và 25 vị điều hành các bộ tại giáo triều Roma, - cho thấy giáo hoàng thuộc nhóm thiểu số trong cấu trúc quyền lực của Vatican, và ít được nâng đỡ từ các hội đồng giám mục quốc gia. Nhưng thượng hội đồng giám mục lần đó, năm 1980 – gồm các giám mục được đức Phaolô VI lựa chọn, những vị còn thấm đẫm tinh thần hậu công đồng - đã can đảm hơn trong đề tài về ly dị và rước lễ khi bằng đa số phiếu, thỉnh nguyện đức Gioan Phaolô II, nghiên cứu cách thức đang được áp dụng trong các Giáo hội Chính thống (chấp nhận kết hôn lần thứ hai). Vị giáo hoàng người Ba Lan và Thánh bộ Giáo lý đức tin, do đức Ratzinger đứng đầu, đã bỏ qua đề nghị này.

Trong một vài khía cạnh, ngay trong hàng giáo phẩm, đức Phanxicô thực bị cô lập hơn so với dự kiến. Một câu nói của hồng y Muller cho thấy không thể loại bỏ những đối kháng nội bộ giữa các nhà lãnh đạo công giáo, ngài nói: hình ảnh bệnh viện dã chiến là rất đẹp, nhưng “Giáo hội tự nó không phải là một nhà dưỡng bệnh, nhưng là nhà của Chúa Cha” với những lề luật của Thiên Chúa.

Có thể vì thế mà ngày kết thúc thượng hội đồng giám mục, khi cử hành thánh lễ phong chân phước cho đức Phaolô VI, giáo hoàng Phanxicô đã gợi lên hình ảnh một Thiên Chúa “không sợ những điều mới lạ […], Thiên Chúa đó vẫn liên tục làm cho chúng ta ngạc nhiên […], ngài dẫn chúng ta qua những nẻo đường không ngờ”. Kết quả của sự bế tắc giữa những người bảo thủ và những người cải tổ được dành lại cho thượng hội đồng giám mục tháng Mười 2015.

Trong lúc đó, giáo hoàng hiểu là cần phải trẻ hóa hàng giáo phẩm trong các giáo phận và nhất là tại giáo triều Roma, để dành chỗ cho những nhân vật cởi mở hơn. Như đức Phaolô VI đã từng làm khi lần đầu tiên trong lịch sử Giáo hội, ngài ấn định các giám mục giáo phận đến 75 tuổi là phải xin từ chức như thế là để dần dần thay thế hàng giám mục được đức Piô XII chọn.

Qui định mới do đức Phanxicô đưa ra tháng 11/2014 lập lại lời mời gọi các giám mục hãy từ chức vào dịp sinh nhật 75 và buộc các hồng y đến tuổi đó cũng phải từ chức, cho dù là họ điều hành một bộ ở giáo triều hay thi hành một phận vụ do giáo hoàng bổ nhiệm. Trong một số trường hợp, giáo hoàng dành cho mình khả năng đề nghị một giám mục phải từ chức sớm hơn sau khi đã “chăm chú lắng nghe các lý do vị giám mục đưa ra, trong một cuộc đối thoại huynh đệ”. Trong thực tế, những qui định mới này chấm dứt chức vụ của Quốc vụ khanh thời đức Bênêđictô XVI, hồng y Tarcisio Bertone, người giữ vai trò điều hành Giáo hội Roma khi trống ngôi giáo hoàng.

Nhưng vị hồng y đầu tiên từ giã giáo triều sau thượng hội đồng giám mục 2014 là Raymond Burke, 76 tuổi, người làm bù nhìn của nhóm bảo thủ. Giáo hoàng Phanxicô miễn cho ngài chức vụ điều hành tòa án tối cao tòa thánh, và đặt ngài làm người bảo trợ cho Hội từ thiện Malta. Vài ngày sau khi bế mạc thượng hội đồng giám mục, hồng y Burke bình luận: “Đó là một thời điểm nguy kịch, người ta có cảm tưởng rằng Giáo hội giống như một con tàu không có bánh lái.”

Không có cuộc cách mạng nào mà không có đau đớn, mỗi cuộc cách mạng đều gặp một đối kháng trong chính hàng ngũ của mình. Mỗi ngày giáo hoàng Phanxicô có những mệt mỏi và dồn nén khó chịu, nhưng ngài vẫn tiếp tục như một “dòng suối không gì ngăn chặn được”, hồng y Sandri ghi nhận. Hồng y này ngạc nhiên về năng lực của giáo hoàng Phanxicô gia tăng so với thời ở Buenos Aires. Sự đồng lòng một cách tuyệt vời giữa vị giáo hoàng Achentina với các tín hữu là lá chắn bảo vệ cho ngài chống lại những cuộc tấn công và những sự phá hoại ngấm ngầm đối với công việc của ngài trong guồng máy Giáo hội. Hồng y Tauran, người công bố kết quả bầu giáo hoàng vào buổi tối 13 tháng Ba nổi tiếng, cũng tiên báo: “Triều giáo hoàng này dành cho chúng ta rất nhiều ngạc nhiên, đức Phanxicô rất can đảm và có cả một hành trang thiêng liêng lớn lao.”

Những đe dọa của nhóm khủng bố IS cũng không làm ngài hoảng sợ, nhóm này khẳng định muốn “chiếm Roma và đập vỡ thánh giá”. Đại sứ Irak tại Tòa thánh, ông Habib al Sadr, cho rằng “giáo hoàng là một mục tiêu nhóm khủng bố nhắm tới”. Mặc dù những biện pháp an toàn được tăng cường tại Vatican, nhưng giáo hoàng Phanxicô dường như không sợ nguy hiểm dù đi đến bất cứ nơi đâu. Linh mục Juan Carlos Molina, một người Achentina dấn thân trong phong trào chống buôn bán ma tuý, trong một lần đến thăm giáo hoàng tại nhà khách thánh Matta năm 2014, đã tâm sự với ngài: “Đức thánh cha đang sống trong một nơi nguy hiểm. Xin ngài hãy coi chừng, bọn chúng có thể giết ngài đó.” Giáo hoàng Phanxicô trả lời: “Đó là điều tốt nhất có thể xảy đến cho tôi, và cho cả cha nữa”.

Giáo hoàng Phanxicô biết rằng Giáo hội không thể cứ ngồi yên, cũng không được khép mình lại. Nếu không, ngài lặp lại, Giáo hội sẽ “bị bệnh”. Ngài công khai xác nhận rằng trong Giáo hội có những cơ cấu “cũ xưa và lỗi thời” cần phải được đổi mới. Chính vì thế mà ngài muốn đánh thức trong Giáo hội Công giáo tinh thần canh tân của công đồng Vatican II. Ngài cảnh báo rằng một số người muốn hạn chế ngọn gió thần linh đã từng thổi vào công đồng Vatican II, ngọn gió đó đang tiếp tục thổi. Giáo hoàng Phanxicô thường cầu xin sự nâng đỡ của ngọn gió từ trời thổi vào các công việc của ngài. Chúa Thánh Thần đang thổi Giáo hội tiến lên phía trước, nhưng “điều đó làm người ta phiền lòng”, ngài nói.

Đức Phanxicô khởi sự năm thứ hai triều giáo hoàng dưới dấu chỉ của Công đồng, khi ngài cử hành lễ phong thánh cho hai vị giáo hoàng, đức Gioan XXIII, người đã nghĩ tới một hội nghị nhằm thay đổi dung mạo của Giáo hội, và đức Gioan Phaolô II, người đã không sợ hãi bày tỏ lòng tin tưởng vào thời đại tục hóa. Như một chứng từ cho phong trào đại kết, ngài lên chương trình tổ chức một cuộc gặp gỡ với các vị lãnh đạo các Giáo hội Kitô, cao điểm cho chuyến viếng thăm Đất Thánh của ngài.

Đến từ mút cùng thế giới, đức giáo hoàng quyết định tiến lên phía trước, biến đổi thượng hội đồng giám mục thành một đại hội mở ra đón nhận các đề nghị, đề cao tính tông đoàn giữa giáo hoàng với các giám mục.

Trong một ngôi nhà thờ ở ngoại ô Roma, ngài nhắc đến cách thức điều hành trong tinh thần cộng đoàn. Điều ngài nói với linh mục hôm đó, cũng đúng với giáo hoàng. Cha xứ, ngài nhấn mạnh, có quyền quyết định, nhưng ngài phải quyết định trong sự lắng nghe, “ngài phải có cố vấn, phải lắng nghe, phải đối thoại”. Giáo hoàng Phanxicô tiếp tục coi việc hàng giáo sỹ lấy mình làm tiêu chuẩn quy chiếu là một trọng tội, bởi vì đó là thái độ của một kẻ “nhìn từ phía trên xuống và từ xa, họ phủ nhận các lời tiên tri của anh em mình, họ loại trừ những ai yêu cầu họ, họ liên tục đưa ra những sai lầm của người khác và bị ám ảnh bởi vẻ bên ngoài”.

Thách đố cho cuộc cách mạng của giáo hoàng Phanxicô còn tồn tại trong những năm sắp tới. Các đối thủ của ngài vẫn còn ngoan cố. Họ chống đối bằng cách xây một bức tường bằng cao su chung quanh ngài, và chỗ hậu trường thì tung ra những bình luận cay đắng. Chẳng hạn chúng ta có thể nêu lên ý kiến của một vị hồng y lớn tuổi nói với người điều hành hội Sant’Egidio, ông Andrea Riccardi, như sau: “giáo hoàng Phanxicô đã làm cho các quảng trường và các nhà thờ đầy người, ngài đã đóng vai trò của ngài. Giờ đây, ngài phải ra đi trước khi phá tan Giáo hội.” Vị giáo hoàng người Achentina ý thức chiến dịch chống tính hợp pháp của ngài. Cho dù ngược chiều gió, ngài đã nhìn nhận với các tu sĩ dòng Tên như vậy, nhưng “mọi người vẫn phải cùng nhau chèo chống” để phục vụ Giáo hội. Giáo hoàng Phanxicô đi hàng đầu.

Kết quả nhắm tới là Giáo hội có thể sẽ có một chính sách Kinh Tế mới (New Deal) của tổng thống Roosevelt ở Hoa Kỳ, hay một trận động đất Perestroika của Gorbatchev. Giáo hoàng Achentina hoàn toàn ý thức rằng ngài đang làm một cuộc thay đổi tận gốc. “Chúng ta hãy bắt đầu một giai đoạn mới của Giáo hội”, đó là công thức của ngài, do người bạn là nhà thần học Victor Manuel Fernández gợi ý. Giáo hoàng Phanxicô không ảo tưởng. Một Giáo hội mà không gần gũi con người hơn nữa, không tỏ lộ được khuôn mặt của Đức Kitô với tình yêu và ơn cứu độ, thì có “nguy cơ sẽ chết”.

Nếu ngài thành công trong việc biến thượng hội đồng giám mục thành một tổ chức thường trực tham gia vào việc điều hành của giáo hoàng, nếu ngài thành công trong việc biến thượng hội đồng giám mục thành những công đồng thu nhỏ, nơi đó người ta quyết định bờ bến Giáo hội sẽ đến trong hành trình trên đại dương của thời hiện đại – trong tương lai sẽ bao gồm cả người tín hữu, nam cũng như nữ bình đẳng như nhau – thì cuộc cách mạng của giáo hoàng Bergoglio sẽ trở thành không thể đảo ngược.

Giáo hoàng Phanxicô có tầm nhìn. Ngài trình bày tầm nhìn đó qua những lời gởi tới các giám mục vài ngày trước khi khai mạc thượng hội đồng giám mục: “Tôi có cảm tưởng rằng đức Giêsu đang bị giam trong lòng Giáo hội, và ngài đang gõ cửa để xin đi ra.”