Những kẻ thù của Phanxicô
Kẻ thù của giáo hoàng Phanxicô bàn bạc và hành động ở phía hậu trường. Họ hòa trộn vào bầu khí chấp thuận cách chung chung, tỏ ra khúm núm trước giáo hoàng và không chấp nhận bị coi là phe chống đối. Họ chủ trương muốn giúp giáo hoàng tránh khỏi những sai lầm. Nhưng chỗ riêng tư, miệng lưỡi họ như dao sắc. Giống như hồng y Siri, tổng giám mục Gênes từ cuối cuộc chiến tranh cho tới năm 1987, từng coi giáo hoàng Gioan XXIII như một người không có khả năng và coi công đồng Vatican II là một “thảm hoạ”.
Một vài nơi trong giáo triều, người ta có mốt chế nhạo các lời nói đơn sơ của giáo hoàng Phanxicô và ít đồng ý với giáo hoàng về mặt đạo lý. Một hồng y nói với Andrea Riccardi rằng “giáo hoàng phát biểu như một ông cha xứ miền quê”. Bề trên cộng đoàn Sant’Egidio phản bác “nếu tất cả các cha xứ nhà quê mà nói được như thế, lịch sử Giáo hội đã khác rồi. Ngay cả ở nước ngoài, một số hồng y cũng đưa ra những lời châm chọc kiểu như “cần phải giúp giáo hoàng về mặt thần học”, rõ ràng họ ca tụng đức Bênêđictô XVI.
Ngay buổi tối hôm bầu giáo hoàng, đã có sự bất bình trong các hành lang giáo triều. Cùng với đoàn người ca tụng tính đơn giản trong buổi ra mắt, thì cũng có những chỉ trích xảo quyệt vì ngài không mang giây Stola, không đi giầy đỏ, chỗ công khai mà ngài tránh dùng từ “giáo hoàng”. Bergoglio đã phá vỡ quá nhiều khuôn phép. Hồng y Murphy- O’Connor, độ tuổi bát tuần, trước đây là tổng giám mục Westminster, đã bình luận theo kiểu trào phúng: “Người ta muốn có một sự thay đổi, một kiểu mẫu mới, nhưng các hồng y không nghĩ đến một làn khí trong lành đến như thế !” “Một người như thế quả là đáng ngạc nhiên.”
Một sự ngạc nhiên không mấy thích thú đối với những người hoài cổ về thời của Ratzinger, theo nghĩa muốn bảo vệ hết sức căn tính và truyền thống được chuyển tải bằng môi trường thần học, triết học và văn hóa tinh tế. Một vị đứng đầu thánh bộ tại Roma nói: “Giáo hoàng Phanxicô quan tâm đến mục vụ hơn là giáo lý. Điều này đi ngược lại với trước đây.” Khi giáo hoàng tuyên bố với tờ La Civiltà Cattolica rằng người ta không thể để mình cứ liên lỉ bị ám ảnh bởi vấn đề phá thai, ngừa thai, hôn nhân đồng tính, thì trên mạng nhan nhản thái độ không vừa lòng của phe bảo thủ. Họ thúc dục giáo hoàng phải “giải thích rõ hơn” bài diễn văn của mình. Họ còn nói rằng thật là “trò đùa” bởi vì giáo hoàng không chống đối luật về đồng tính đang được tranh luận tại Quốc hội Ý, cũng không chống đối những hướng dẫn của Liên Hiệp Quốc về việc giáo dục giới tính cho giới trẻ, mà một số người cáo buộc rằng việc giáo dục đó đưa đến sự lẫn lộn giữa cái theo trật tự tự nhiên và cái “không theo trật tự tự nhiên”.
Ngôn ngữ của giáo hoàng Phanxicô làm các nhóm bảo thủ nhất tại giáo triều nổi giận và hoảng sợ. Ngài làm người ta sợ khi nói tới “những con quỉ nhỏ” mà nền giáo dục không tốt trong các chủng viện sẽ đào tạo nên. Ngài làm người ta nổi giận khi chỉ trích các “linh mục béo tốt” thích chạy theo những xa hoa phù phiếm, những linh mục có “thái độ và ngôn ngữ giả hình. [...] những linh mục bay bướm, sùng bái thần Narcisse”. Ngài làm người ta bực tức vì không chỉ đưa ra những lời khuyên bảo đạo đức nhưng còn nói rõ những sự băng hoại bằng kiểu nói thẳng thắn.
Trong một cuộc tiếp kiến chung, chính giáo hoàng đã cúi xuống nhặt chiếc túi của một bà làm rơi xuống đất, việc đó đã làm cho người ta ghê gớm bởi vì họ muốn hết lòng bảo vệ cho tính thánh thiêng của giáo hoàng. “Cách sống rất đơn sơ của ngài không làm hài lòng những người vốn tưởng tượng giáo hoàng phải thường xuyên ngự trên ngai, đội mũ cao”, hồng y Giovanni Battista Re, phó niên trưởng hồng y đoàn nhận xét.
Tại giáo triều có những nhóm chỉ trích và giận giữ. Giáo hoàng muốn đơn giản hóa nghi lễ, điều đó khiến các người nhiệt thành bảo vệ các nghi lễ ngoại giao đâm ra hoang mang. Nguyên việc thay đổi địa điểm cử hành nghi thức rửa chân thứ Năm tuần Thánh – nhà tù Casal di Marmo thay vì vương cung thánh đường Lateranô – đã làm họ khó chịu.
Nhiều hồng y không chấp nhận việc giáo hoàng Phanxicô quyết định không ở trong căn phòng giáo hoàng. Một hồng y giáo triều nói: “Người đứng đầu thì phải ở căn phòng đó chứ, phải ở trong căn phòng của mình chứ. Thật là không hay nếu người này người nọ có thể tình cờ gặp ngài, còn người khác thì lại không được như vậy.” Một hồng y lớn tuổi còn phụ hoạ: “Bỏ nơi trước đây nhiều vị giáo hoàng đã ở đồng nghĩa với việc chỉ trích quyết định của các ngài [...]. Thật là sai lầm nếu giáo hoàng ở một nơi nào đó rồi chỉ đến tòa thánh giải quyết những công việc chính thức.” Trong nhiều tháng trời, người ta đã đưa ra những lời lẽ tinh tế nhưng cũng độc địa giải thích việc “tắt đèn” trong căn phòng của giáo hoàng, từ nay giáo hữu hành hương đền thờ thánh Phêrô không còn dấu hiệu nào để nhận ra giáo hoàng vẫn còn đang làm việc vào buổi tối.
Điều mà các hồng y và các đức ông vốn dè dặt trước trật tự mới và không dám trình bày công khai, thì giới bảo thủ lại rao giảng trên mái nhà. Trong giai đoạn có nhiều thay đổi này, các trang mạng và blogs của nhóm thiểu số không dừng lại ở việc giới thiệu nhóm riêng của mình, mà còn được sử dụng như cái loa phóng thanh để chống đối và chỉ trích, điều đó lan ra trong các phe nhóm thân cận với hàng giáo phẩm và các cơ quan giáo quyền, tại Roma cũng như những nơi khác. Một người thân cận với giáo triều, Guzmán Carriquiry, thư ký uỷ ban giáo hoàng về Châu Mỹ Latinh, nói: “Tôi cảm thấy chung quanh tôi có những tư tưởng hoài cổ vô bổ về thời Ratzinger, được sử dụng để chê bai vị kế nhiệm ngài1”.
Những lời chỉ trích không ngừng giáng xuống. Trong các cuộc tiếp kiến, khi giáo hoàng bỏ chiếc mũ nhỏ trên đỉnh đầu xuống, và tặng cho dân chúng rồi nhận lại từ họ chiếc mũ khác, kiểu như một “ông nội vui đùa với con cháu […] như vậy là báng bổ các biểu tượng của giáo hoàng vì đã lăng mạ và bãi bỏ những biểu tượng đó2”. Ngay từ đầu, trang mạng Pontifex đã tố cáo đức Phanxicô là người “theo chủ nghĩa dân tuý, dân nghèo, và mỵ dân”. Trang blog có tên “Lễ Misa bằng tiếng Latinh” gọi ngài là “giáo hoàng quyến rũ dân chúng”, họ tố cáo ngài có kiểu sống “muốn công khai phê bình triều đại giáo hoàng Bênêđictô XVI”.
Tại Hoa Kỳ, Trang mạng Tradition in Action, dưới tiêu đề “Bergoglio và sự tàn phá các biểu tượng giáo hoàng” đã kể ra 48 tội của giáo hoàng Phanxicô chống lại các nghi thức truyền thống. Cách viết của trang mạng này cũng giống như kiểu của các phong trào vận động tranh cử tại Hoa Kỳ, là nhằm tiêu diệt đối thủ. Danh mục các lỗi của giáo hoàng có đủ mọi thứ: đặt nến trên bàn thờ, không sử dụng xe Mercedes của giáo hoàng, không mặc áo viền ren, phó tế không quì trước giáo hoàng khi nhận phép lành. Người ta liên tục tố cáo giáo hoàng. Cách ngài cho rước lễ cũng “không hợp lệ”, việc ngài từ chối không ngồi trên ngai giáo hoàng là điều không phù hợp. Ngai giáo hoàng là một biểu tượng ám ảnh phe bảo thủ. Trang Tradition in Action phổ biến tấm hình hai vị giáo hoàng Phanxicô và Bênêđictô XVI trong vương cung thánh đường Latêranô để cho thấy rằng giáo hoàng người Achentina đã ném chiếc ngai tòa to lớn thiếp vàng của đức Ratzinger vào kho, để sử dụng một chiếc ghế trắng đơn giản. Các tác giả không ngừng kêu gọi đừng thần tượng hóa giáo hoàng Phanxicô. Có nghĩa là nên tránh xa ngài.
Người ta cũng tố cáo ngài là “không muốn mặc chiếc áo choàng biểu tượng quyền bính của đức Kitô […], ngài dường như tin rằng giáo lý Công giáo phải thích nghi với con người chứ không phải ngược lại1”. Trận bão tấn công chuyển sang cười nhạo. “Thế giới vỗ tay tung hô Bergoglio người theo chủ nghĩa người nghèo [...] vì ngài nói với cái bụng của người ta [...] ngài nói điều mà họ thích nghe: Thiên Chúa tha thứ cho tất cả mọi người [...], tình yêu là muôn năm [...] chúng ta hãy yêu thương nhau [...], liên đới, chủ nghĩa phò người nghèo khổ, chủ nghĩa phò thế giới thứ ba, một chút về môi trường và một chút về nữ quyền để không bỏ sót thứ gì.2”
Trong một số phòng khách tại Vatican, người ta có thể nghe được những ý tưởng tương tự, cho dù được trình bày một cách tinh tế hơn, khôn ngoan và bóng gió hơn. Còn giáo hoàng Phanxicô, ngài đích thân đến uống cà phê tại máy bán cà phê và nói chuyện thân mật với các tiếp viên nhà khách thánh Matta, điều đó càng chọc tức những người vốn tôn sùng tính thánh thiêng của giáo hoàng. Cạo bỏ biểu tượng của một quyền bính siêu nhiên là điều không thể chấp nhận đối với một phần trong giới giáo sỹ, đối với họ, một thái độ như thế là điều báo trước những thiệt hại lớn lao cho tương lai của Giáo hội Công giáo. Một bước tai hại tiến dần đến sai lạc của Tin lành.
Người ta có thể nói chuyện với một hồng y suốt một tiếng đồng hồ mà không có một lời chỉ trích nhỏ nhặt nào đối với đức giáo hoàng, nhưng cuối cùng ra đến cửa thì cả một trận tuyết lở: “Một giáo hoàng mà lại chấp nhận cho báo chí phỏng vấn mình thì không phải tí nào. [...] Ngài lập ra nhiều ban bệ quá. [...] Ngài phê bình các linh mục dữ quá: các linh mục cũng làm được nhiều việc tốt đấy chứ!”
Trong một cuộc phỏng vấn của tờ Tuần báo tiếng Đức Die Zeit, tổng giám mục Georg Ganswein đã nói đến một mối lo lắng đang lan rộng. Mặc dù không trích dẫn rõ ràng, nhưng tờ báo viết rằng vị thư ký của giáo hoàng Bênêđictô XVI coi quyết định của giáo hoàng Phanxicô không ở trong căn phòng giáo hoàng là một “điều sỉ nhục”. Tổng giám mục Ganswein buồn phiền kêu lên: “Mỗi ngày tôi lại mong rằng thực tế không phải như thế1.” Trước những phản ứng do sự việc này gây ra, vị thư ký giáo hoàng đã khẳng định chưa bao giờ có cuộc phỏng vấn với tờ tuần báo này...
Các nhóm bảo thủ trong hàng giám mục Hoa Kỳ cũng chính thức bày tỏ dấu hiệu bất hòa. Giám mục Thomas Joseph Tobin, giáo phận Providence (Rhode Island) tuyên bố trên tờ báo của giáo phận rằng mình “thất vọng” vì, trong cuộc phỏng vấn của tờ La Civiltà Cattolica, giáo hoàng đã không giải quyết một cách đầy đủ về vấn đề phá thai và “những đứa trẻ không được sinh ra”. Ngài còn thêm rằng giáo hoàng phải khuyến khích hơn nữa các phong trào phò sự sống. Tại Philadelphia, giám mục Charles Chaput, vị giám mục gốc thổ dân đầu tiên trong Lịch sử người Mỹ, đã cảnh báo trên trang mạng của giáo phận rằng “mọi sự tấn công trực tiếp chống lại sự sống người vô tội, chẳng hạn phá thai và an tử, đều đụng chạm tới nền tảng của ngôi nhà Thiên Chúa”.
Tại Ý, các nhóm chống thay đổi – đặc biệt là chống mẫu hình Giáo hội có sự tham gia mà giáo hoàng Phanxicô chủ trương – đều tìm được trong tờ Il Foglio của Giuliano Ferrara một kênh ưa thích. Những gì mà nhóm bảo thủ của Ruini và Ratzinger không dám tự nhận thì đều được ký bằng tên của những người giáo dân làm việc cho tờ báo.
Trên tờ Il Foglio, sử gia Roberto de Mattei, người chủ trương theo thuyết sáng tạo và chống công đồng Vatican II một cách điên cuồng, đã thách thức giả thuyết về một cuộc cải tổ nền quân chủ giáo hoàng. Được một số vị trong hàng giáo phẩm ủng hộ, Mattei không chấp nhận việc người ta coi vai trò của vị giám mục Roma như người đứng đầu danh dự hay trong tình yêu mà thôi, công thức mà giáo hoàng Phanxicô đã sử dụng buổi tối ngày ngài được bầu.
Ông nhấn mạnh rằng đặc tính của giáo hoàng Roma là quyền tài phán tối cao, “trọn vẹn và tuyệt đối”, do đó ngài khác với các giám mục khác. Ông còn lưu ý “mọi thay đổi không chỉ đụng chạm tới hình thức lịch sử, nhưng còn đụng chạm tới bản chất siêu nhiên của chức vị giáo hoàng”.
Những tín hiệu đó được gián tiếp gởi tới giáo hoàng như nhằm dập tắt ngay từ trong trứng nước dự án đề cao “tính tông đoàn” trong cơ cấu Giáo hội Công giáo.
Lời cảnh báo đến từ những phe nhóm trên cũng được Sandro Magister ghi nhận, ông là một quan sát viên rất chăm chú đến các sinh hoạt của Giáo hội. Ngay từ những bước đầu tiên của giáo hoàng Phanxicô, ông ghi nhận rằng có một số động thái “đã thành cơ hội cho những mưu toan xấu trong dư luận, trong nội bộ Giáo hội cũng như bên ngoài: thí dụ việc giải thể cấp lãnh đạo trung ương của Giáo hội, loại bỏ danh hiệu giáo hoàng, sự ra đời của một “Giáo hội mới” mang đặc tính thiêng liêng, coi thường […] biểu tượng trong các nghi thức, phẩm phục, xe cộ, nhà cửa thánh thiêng”.
Theo dòng thời gian, những đối kháng chống đức Bergoglio càng lộ rõ. Vẫn trong tờ Il Foglio, hai đại biểu của nhóm chủ trương truyền thống, nhà báo Alessandro Gnocchi và nhà giáo luật kiêm giáo sư luân lý Sinh học Mario Palmaro, cả hai đều là cộng tác viên của Radio Maria, ký tên vào một bài báo có giọng điệu rõ ràng: “Chúng tôi không hài lòng về giáo hoàng này.” Bài báo đưa ra một phê phán độc địa về “sự khó nghèo khoe khoang” của giáo hoàng Phanxicô, kết án ngài là không cỗ võ việc cải đạo, tố cáo ngài chủ trương luân lý chủ quan – vì ngài đã tuyên bố với Scalfari rằng “mỗi người có quan niệm riêng về điều Thiện và điều Ác, và phải lựa chọn theo điều Thiện, chống lại cái Ác theo như họ quan niệm” -, theo họ, không ai chấp nhận quan niệm một Giáo hội như “bệnh viện dã chiến”.
Hai tác giả Gnocchi và Palmaro kết luận rằng khía cạnh đáng lo nhất trong tư tưởng của Bergoglio nằm ở “tính đối lập không thể khắc phục giữa đạo lý nghiêm khắc và lòng thương xót: không có cái này thì không thể có cái kia. […] người ta đang chứng kiến hiện tượng một vị lãnh đạo nói với đám đông điều mà họ đang muốn nghe”. Cả hai tác giả này phò một cách kín đáo nhưng rất mạnh mẽ phe chống đối giáo hoàng, họ thách thức giáo hoàng Phanxicô. Họ khẳng định có “những luật không thể thay đổi, ngay cả đối với vị đại diện Đức Kitô. Đức Kitô không phải là một lựa chọn trong số nhiều khả năng. Ít là đối với vị đại diện ngài”. Một ngày sau khi đăng bài báo trên, Radio Maria đã sa thải hai nhân viên này, nhưng đức Phanxicô đã điện thoại cho ông Palmaro, kẻo cái bóng của kiểm duyệt lại bị phát tán ra ngoài.
Ngay tại Mỹ châu, đại diện giáo dân Công giáo đã nỗ lực mở chiến dịch chống đối giáo hoàng. Michael Novak, bình luận viên thuộc phe bảo thủ, ném hòn đá đầu tiên, ông nói: “Một người bạn hỏi tôi rằng liệu giáo hoàng có biết đến những thiệt hại ngài gây ra qua những ý kiến không hợp thời của ngài không nhỉ. Giáo hoàng sử dụng từ “ám ảnh” để nói về những người đang hoạt động cho phong trào phục vụ sự sống, điều đó làm tổn thương họ.” Đồng ý với phe Công giáo truyền thống, ông Novak – người ủng hộ các giáo hoàng Gioan Phaolô II và Ratzinger – khẳng định rằng các can thiệp của giáo hoàng Phanxicô là “cổ võ những phê phán chống đối Giáo hội từ những đối thủ công khai. Họ chỉ chờ có thế”.
Theo sử gia Kitô giáo Massimo Faffioli, tại Hoa Kỳ có cả một hệ thống chặt chẽ gồm các đại học, trường trung học và các kênh trao đổi trong giới công giáo, họ theo gương các nhóm bảo thủ Tin Lành, nhìn nhận quan điểm truyền thống về đức tin như là điều cốt yếu cho nền luân lý tại châu Mỹ. Nhóm này nghi ngờ, thậm chí thẳng thừng tỏ ra chống lại những đổi mới về mục vụ của giáo hoàng Phanxicô.
Các đối thủ thuộc mọi khuynh hướng đó đều có một dấu hiệu chung, đó là không muốn tham gia dàn hợp xướng đang vỗ tay hoan hô giáo hoàng. Một khuynh hướng khác lại muốn che đậy những lời chỉ trích của mình dưới hình thức lời khuyên. Ông Pietro De Marco, triết gia và là nhà xã hội học tôn giáo viết: “Những người uy tín, khôn ngoan, trí thức và là người Ý đã không kiểm soát cẩn thận các bản văn [của giáo hoàng] trước khi được phổ biến”, đó không phải là một điều hay. Giáo hoàng Phanxicô tỏ ra có “khuynh hướng độc tài […] điển hình của những “nhà cách mạng” dân chủ, làm như thế có nguy cơ đụng chạm một cách thiếu khôn ngoan tới những truyền thống ngàn đời”. Triết gia này kết án rất nặng nề đức Bergoglio: giáo hoàng Phanxicô bám vào giới truyền thông vì dường như ngài “sợ không biết phải làm gì khi ở một mình, với tư cách là giáo hoàng trong căn phòng giáo hoàng”.
Phản kháng tiêu cực là cách thức của người đời khi họ muốn đưa ra những chỉ trích mà không muốn xuất đầu lộ diện. “Cứ để mặc cho ngài nói”, đó là kiểu phản đối thầm lặng, kiểu này tỏ ra kiên quyết hơn, xác tín hơn vào sự kiện giáo hoàng thì thay đổi, còn giáo triều mới tồn tại.
Giáo triều là một thế giới phức tạp, một nơi có nhiều quốc tịch khác nhau, một bức tranh khắc hoạ nhiều nhân vật lớn nhỏ khác nhau, chủ yếu họ được thúc đẩy bởi ý thức sứ vụ cách sâu sắc và hết lòng gắn bó với tổ chức. Những người này thường được thúc đẩy – không phải lúc nào cũng thế - bởi niềm hãnh diện vì được làm việc tại một trung tâm quyền lực cấp toàn cầu. Tâm trạng của những nhân vật cấp cao này cũng phức tạp, không thể xếp thành loại. Có thể gặp những đấng bậc sẵn sàng trao mình thánh cho những người ly dị tái hôn nhưng lại chống đối việc chấp thuận phụ nữ vào những vai trò lãnh đạo. Một số không kết án người đồng tính nhưng lại dứt khoát đòi giáo hoàng phải tôn trọng các nghi lễ. Người khác cởi mở với chương trình xã hội nhưng lại phản đối việc dân chủ hóa thể chế giáo sỹ. Chiến dịch của nhóm truyền thống và nhóm cải tổ cũng mang nhiều nét tinh tế khác nhau, mỗi phe có lý lẽ riêng nhưng cũng có những lãnh vực họ gặp nhau.
“Chúng tôi có tầm ảnh hưởng lớn do chúng tôi có sự khác biệt”, đó là chủ trương của những người bảo thủ giác ngộ, họ nhiều lần lặp đi lặp lại rằng các cơ quan cấp cao của các chính phủ đã phải ấn tượng vì sự bền vững cổ kính của thể chế Roma. “Chúng tôi có tầm ảnh hưởng lớn vì chúng tôi tiến bước với thời đại” đó lại là lập trường của phe cải tổ dung hoà, họ ca tụng tính uyển chuyển của Tòa Thánh trong suốt lịch sử hàng nghìn năm. Sự nhanh chóng đến lạ lùng của các cuộc họp mật nghị gần đây cho thấy khả năng đối thoại và lắng nghe nhau giữa những phe nhóm có quan điểm khác nhau trong hồng y đoàn: tất cả vì vinh danh lớn nhất cho Giáo hội Roma.
Vatican không phải là một khối nguyên tuyền. Có một điểm tập trung gồm các giám mục hài lòng với hướng đi mới và cám ơn mật nghị đã lựa chọn đúng người. Nhưng trước mật nghị, giáo triều đã từng chia thành nhiều khuynh hướng khác nhau. Có những người ủng hộ hồng y Scola, có người ủng hộ hồng y Scherer người Braxin, đã có và vẫn còn những người ủng hộ vị giáo hoàng người Achentina.
Đức Bergoglio không phải lúc nào cũng hài lòng với Vatican. Khi còn là hồng y ở Buenos Aires, ngài không có quan hệ tốt với sứ thần Adriano Bernardini, người rất gần gũi với hồng y Sodano, quốc vụ khanh thời đó. Các giám mục bảo thủ của Achentina đã sang Roma tố cáo ngài là không đủ cứng rắn về những vấn đề luân lý. Với tư cách chủ tịch HĐGM Achentina, đức Bergoglio đã không đồng ý với một số bổ nhiệm giám mục do Vatican thực hiện. Roma cũng đã từng tỏ ra không thiện cảm với ngài.
Năm 2009, hồng y Bergoglio bổ nhiệm nhà văn và là nhà kinh thánh Victor Manuel Fernández, nguyên chủ tịch Hội thần học Achentina làm viện trưởng đại học Công giáo Buenos Aires. Ngài đã gặp phải chiến thuật trì hoãn từ Vatican, vì Vatican tuyên bố đang điều tra về tính chính thống của nhà thần học này. Mãi đến tháng 05/2011, sau những khó chịu trong các văn phòng của Vatican, thì Fernández mới có thể tuyên thệ để đảm nhận chức viện trưởng viện đại học.
Bergoglio luôn gặp những khó chịu trước những thư tố cáo gởi sang Vatican về những cáo buộc cho rằng ngài sai lạc đạo lý. Cũng như ngài không bao giờ đồng ý với ý kiến khăng khăng bảo vệ những nguyên tắc được cho là không thể thương lượng. Tại Roma, người ta muốn “đóng cả thế giới vào trong chiếc bao cao xu”, đó là kiểu nói người ta gán cho ngài khi còn là hồng y.
Tại Buenos Aires, ngài tỏ ra càng ngày càng lo lắng về tình hình đang xấu đi của hàng giáo phẩm. Ngài tâm sự với một linh mục bạn: “Nếu các bà mẹ của tôi và của cha sống lại ngày hôm nay, có lẽ các ngài sẽ cầu nguyện xin Chúa cho các ngài lại được chôn xuống đất để khỏi phải chứng kiến sự xuống cấp của Giáo hội hôm nay.” Gianni Valente, một người bạn ký giả người Roma mà Bergoglio hay đến dùng bữa tối với ông, nhớ lại rằng ngài chỉ đến Vatican ở mức tối thiểu. “Ngài không thích bầu khí ở giáo triều và việc giáo triều thiếu quan tâm đến nhu cầu của các Giáo hội địa phương.” Việc các giám mục lo lắng chuyển từ giáo phận này sang giáo phận khác, luôn đi tìm một giáo phận lớn hơn, xem như đó là những bước tiến thành công, điều đó luôn làm cho Bergoglio khó chịu. Giáo hoàng Phanxicô chưa bao giờ cảm thấy thoải mái với việc giáo triều tự tham chiếu chính mình, cũng như bầu khí thích tìm kiếm sự nghiệp đến điên cuồng đang diễn ra chung quanh ngài.
Những quanh co tại giáo triều đặt ra nhiều chiếc bẫy cho đức giáo hoàng Phanxicô. Tháng 07/2013, khi ngài thành lập uỷ ban cải tổ kinh tế trong việc quản trị tại Vatican, các quan sát viên ghi nhận rằng trong số 8 thành viên – tất cả đều là giáo dân ngoại trừ giám mục Vallejo Balda, thư ký của APSA – có một phụ nữ: bà Francesca Immacolata Chaouqui, mang hai giòng máu Ý và Ai Cập. Sự kiện này có vẻ như thêm một bằng chứng cho thấy ý định của giáo hoàng Phanxicô là bổ nhiệm nữ giới tham gia vào dự án canh tân, như ngài đã cho thấy vài tuần trước đó, khi bổ nhiệm nữ giáo sư Ann Glendon vào uỷ ban điều tra Viện giáo vụ IOR.
Thực sự đây là viên kẹo tẩm độc. Chaouqui, 31 tuổi, cựu thành viên của Ernst & Young, tuyên bố mình là tín đồ của thánh Escrivá, vị sáng lập tổ chức Opus Dei, và là người rất sùng mộ giáo hoàng Phanxicô. Tích cực trong lãnh vực quan hệ công chúng, một twitter kỳ cựu. Các bài viết của bà đôi khi rất táo bạo. Tháng 02/2012, bà viết: “Giáo hoàng Bênêđictô XVI bị bệnh bạch cầu từ hơn một năm nay”. Bà còn viết mạnh hơn: “tôi tin Giáo hội duy nhất, thánh thiện, Công giáo và tông truyền. Có lẽ cần có ai đó nhắc lại câu này cho hồng y Bertone”; “Bertone đã bị hủ hóa. Các hồ sơ mật và một công ty ở Venise có thể đã có liên hệ vào đó”; “[đức giáo hoàng Bênêđictô XVI] đã bị bỏ rơi. Là một giáo dân, tôi hoàn toàn thất vọng”. Bà cũng không tha cho nguyên bộ trưởng kinh tế của chính quyền Berlusconi: “ông Tremonti có một tài khoản tại ngân hàng Vatican. Khi công luận biết ông là người đồng tính, thì ngân hàng này đã đóng tài khoản đó của ông.”
Bị xì căng đan theo đuổi, bị các cuộc cãi vã đe dọa, Chaouqui đóng tài khoản twitter của bà và tuyên bố mình bị tin tặc phá, các bài đăng trên twitter không phải là của mình. Người phụ nữ này vốn thân thiết với giới truyền thông và rất thành thạo trong lãnh vực thăng tiến xã hội. Trong sổ danh bạ của bà có nguyên thủ tướng Giulio Andreotti, bà bá tước Marisa Pinto Olori del Poggio, luật sư Patrizio Messina, người mà bà đã làm việc khi nghiên cứu Orrick, Stefano Lucchini của công ty dầu hoả ENI, Gianluca Comin d’Enel (công ty điện lực Ý). Nhưng điều kỳ cục nhất đó là bà không có một khả năng cần thiết nào để tham gia vào một uỷ ban quan trọng như thế.
So với các thành viên khác – ông Joseph Zahra, chủ tịch, nguyên giám đốc ngân hàng trung ương Malta, ông Jean-Baptiste de Franssu, người Pháp, nguyên giám đốc điều hành công ty đầu tư Invesco Europe; ông Enrique Llnano, người Tây Ban Nha, nhân viên tài chính đã từng làm việc cho công ty kiểm toán quốc tế Deloitte và KPMG; ông Jochen Messemer, người Đức, giám đốc công ty đầu tư Ergo International; ông Jean Videlain-Sevestre nhà kinh doanh người Pháp; và ông George Yeo, nguyên bộ trưởng bộ ngoại giao Singapore -, thì bà Francesca Immacolata Chaouqui dường như được vào uỷ ban này do tình cờ.
Ngay hôm sau khi bà được bổ nhiệm, ở Vatican, người ta đã tự hỏi ai đã đưa tên bà vào danh sách đệ trình giáo hoàng. Một số dấu chỉ cho thấy người đó là linh mục Valejo Balda, thư ký của uỷ ban, một thành viên Opus Dei, cha Valejo đã chuẩn bị cho bà một hồ sơ lý lịch thuận lợi1. Việc cho phép một người được tiếp cận với những tài liệu hết sức nhạy cảm trong lãnh vực tài chánh của tòa thánh, mà người đó lại được coi như người cung cấp thông tin cho nữ ký giả Gianluigi Buzzi và cho trang mạng đầy tai tiếng Dagospia khiến giáo hoàng Phanxicô nổi giận, vì ngài không biết tí gì về lý lịch thực của bà. Một vị thân cận với giáo hoàng đã bình luận khi cuộc tranh cãi lên cao điểm: “Đây là một sự lựa chọn đáng tiếc. Ai đã giới thiệu bà ấy thì phải trả lời cho sự việc này.” Tuy nhiên, giáo hoàng biết chờ đợi. Tám tháng sau, khi thành lập một uỷ ban mới phụ trách vấn đề kinh tế, Valejo Balda không có tên trong đó. Khi hoạt động của uỷ ban trên kết thúc, Francesca Immacolata Chaouqui không được giao trách vụ nào hết.
Giáo hoàng Phanxicô cũng không biết rõ thông tin khi quyết định bổ nhiệm đức ông Battista Rica phụ trách ngân hàng Vatican. Tại tòa thánh, có những cáo buộc chống lại Ricca, vị này đã có thời gian công tác trong ngành ngoại giao tòa thánh. Khi ở Montevideo, nơi ông đến từ năm 1999, người ta đã trách ông về tình bạn với đại uý Patrick Haari, một nhân viên trong đội quân Thuỵ Sĩ. Sau những sự cố lập đi lập lại, sứ thần Janusz Bolonek được lệnh từ văn phòng quốc vụ khanh phải loại trừ Ricca.
Khi bổ nhiệm ông này, văn phòng Quốc vụ khanh, lúc đó vẫn đặt dưới tay hồng y Bertone, đã chuyển tới giáo hoàng một hồ sơ trắng tinh. Mãi về sau, các vụ xì căng đan mới nổ ra. Giáo hoàng Phanxicô biết được điều đó và đã giải thích cho các ký giả: “Những gì liên hệ đến đức ông Ricca, tôi đã làm những gì Giáo luật yêu cầu làm: chúng tôi đã tổ chức một cuộc điều tra sơ bộ. Qua cuộc điều tra này, không có điều gì như người ta đã tố cáo; chúng tôi đã không tìm thấy gì hết.”
Vụ việc này cho thấy giáo hoàng Achentina không được cung cấp thông tin đầy đủ. Trong khi đó, ngài tế nhị đưa ra một bài học cho các cơ quan truyền thông và cho nhân viên ở Vatican, những người sử dụng các thông tin một cách có lựa chọn để buộc tội: “Tôi thấy thường thường trong Giáo hội, đằng sau trường hợp này và ngay cả trong trường hợp này, người ta tìm những “tội thời trẻ” của người bị buộc tội, và người ta phanh phui những tội đó ra. Không phải là lỗi lầm, phải không? Lỗi lầm là chuyện khác: lạm dụng tình dục trẻ em là một lỗi lầm. Không, đó là tội. Nhưng nêu một người nào đó, dù là giáo dân hay linh mục hay nữ tu, đã phạm tội, và họ sám hối, thì Thiên Chúa sẽ tha thứ, và khi Thiên Chúa tha thứ, thì ngài quên hết […]; và chúng ta, chúng ta không có quyền để không quên những tội đó.”
So với thời gian khi còn ở Buenos Aires, giáo hoàng Phanxicô có một bất lợi. Khi ở trong nước, ngài biết từng người trong số 800 linh mục thuộc giáo phận mình. Còn tại Roma, ngài không biết rõ được như thế về bộ máy Vatican và khi không nắm được tình hình một đội hình khá phân mảnh thì ngài sẽ còn gặp những sự cố như đã xảy ra.
Thế giới giáo triều cũng sống trong bầu khí bất an, không biết rõ ràng cuộc cách mạng của giáo hoàng Phanxicô sẽ đi đến đâu. “Những mô hình cũ đã biến mất”, theo ghi nhận của hồng y Renato Martino, người uy tín vì có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực ngoại giao.
Phe đối thủ và phe ủng hộ đều chia sẻ chung một cảm giác là không biết chắc chắn mùa gió mới này sẽ đưa đến đâu. Hồng y Roger Etchegaray, độ tuổi 80, và là đại sứ lưu động của giáo hoàng Gioan Phaolô II trong những vùng sôi động, người ủng hộ các thay đổi của giáo hoàng Phanxicô, thở dài: “Tôi cầu nguyện cho đức giáo hoàng, vì một ngày kia, khi thời trăng mật đã kết thúc, và khi phải đưa ra những quyết định, thì họ chờ đợi ngài khi ngài bị dồn vào chân tường”. “Việc thay đổi nhân sự ở các vị trí công tác thì dễ dàng, nhưng rất khó để thay đổi được cách suy nghĩ và thói quen của những người Kitô hữu vốn có cái nhìn tiêu cực”, ngài kết luận.
Một giáo hoàng mà mỗi ngày lại đề ra một cái gì mới mẻ, thì sẽ làm người khác chưng hửng và mất phương hướng. Kẻ thù lợi hại nhất đối với chính sách cải tổ của giáo hoàng là những người sống tại Vatican, những người có thói quen sử dụng mưu mẹo với tất cả mọi người. Về mặt kinh tế, Vatican làm thoả mãn một số nhu cầu sống thoải mái của những người mà, theo kiểu đức Phanxicô quen nói, sống xa Chúa Kitô và chạy theo tinh thần thế tục. Một chánh văn phòng thu nhập 2.800 euros có thể kiếm thêm 2.000 euros với vai trò chưởng nghi. Nếu họ lại được hưởng lương kinh sĩ đoàn đền thờ thánh Phêrô, thì sẽ có thu nhập thêm 1.500 euros nữa. Các thành viên thuộc các uỷ ban cấp thấp thì thu nhập từ 600 đến 800 euros. Tất cả đều được miễn thuế, chưa tính những căn hộ với giá ưu đãi.
Nhưng vẫn còn có những kẻ muốn thu nhập nhiều hơn. Tuy là thiểu số, nhưng đó là loài chim ăn thịt thực sự. Những xì căng đan thường xuyên nổ ra trên các phương tiện truyền thông đang gây ra những thiệt hại khôn lường cho Tòa thánh. Một nhân viên ngoại giao theo sát Vatican kể lại: “Từ những năm cuối của triều đại đức Gioan Phaolô II, tình trạng vắng bóng một giáo hoàng điều hành đã làm nảy sinh những lối thực hành tệ hại. Đã hình thành một hệ thống quyền hành không lành mạnh cần phải bị loại trừ.” Một mạng lưới các mối liên hệ cá nhân và lợi lộc giữa những con người không biết xấu hổ cả phía Giáo hội cũng như phía chính quyền nước Ý. Các vụ xì căng đan cứ theo chu kỳ bị phanh phui ra trong lãnh vực tài chánh là một bằng chứng. Luật im lặng là rất ghê gớm. Một hồng y ở Bắc Âu thú nhận mình đã từng được gợi ý tiếp xúc với họ, qua trung gian một giám mục có rất nhiều giao dịch đáng ngờ trong một bộ của Vatican. Đó là một vụ trao đổi lên đến nhiều triệu euros. Vị hồng y đó đã viết thư cho Quốc vụ khanh tòa thánh, nại tới “một trường hợp lương tâm”. Nhưng ngài chưa bao giờ nhận được câu trả lời và cũng không dám công bố câu hỏi đó.
Có một thế giới dàn xếp công việc mà nếu giáo hoàng “muốn làm trong sạch” thì sẽ làm họ rất bực mình. Theo lời cáo buộc của Nicola Gratteri, phụ tá công tố viên của Reggio Calabria, nếu “một giáo hoàng muốn tấn công vào lối sống xa hoa một cách quyết liệt và đáng tin cậy” thì sẽ làm xáo trộn những đường dây buôn bán của mafia tài chánh. Gratteri giải thích rằng giáo hoàng Phanxicô đã tức khắc đưa ra những dấu hiệu quan trọng, và “những ai cho tới bây giờ đang được nuôi bằng quyền lực và sự giàu có mà lại lạc xa khỏi Giáo hội, thì sẽ phải bực mình, lo lắng. Giáo hoàng Bergoglio đang loại trừ những trung tâm quyền lực kinh tế tại Vatican. Nếu các ông trùm có thể hất cẳng ngài thì họ cũng không ngần ngại”. Được hỏi liệu giáo hoàng có gặp nguy hiểm không, vị thẩm phán trả lời: “Tôi không biết liệu tội ác có tổ chức hiện có khả năng hành động hay không, nhưng chắc chắn là họ đang tính toán. Điều đó có thể trở thành nguy hiểm.”
Giáo hoàng Phanxicô hành động với một sự quyết đoán cao chống lại mafia. Ngày 21/06/2014, khi cử hành thánh lễ tại Calabre, Sibari, ngài đã đưa ra lời phạt tuyệt thông đối với nhóm mafia và ’Ndrangheta, tội ác có tổ chức xuất phất từ vùng Calabre. Theo ngài, ’Ndrangheta “thờ cái ác”: “cái xấu này phải bị dẹp tan, phải xa lánh nó! Phải nói không với nó! […] những ai mà trong cuộc sống của mình đi theo con đường xấu xa này, như những bọn mafia, thì không hiệp thông với Thiên Chúa: họ đã bị tuyệt thông!”
Chưa bao giờ một vị lãnh đạo Giáo hội đã nói những lời lẽ dứt khoát như thế. Trước đây 21 năm, tại thung lũng các đền thờ Agrigente, đức Gioan Phaolô II đã nói với những kẻ ám sát thuộc nhóm Mafia: “Các ngươi hãy sám hối! sẽ đến ngày Thiên Chúa phán xét!” Trong một lần đến thăm Napoli, đức Bênêđictô XVI cũng đã kết án các tội của nhóm Camorra. Nhưng chỉ có giáo hoàng Phanxicô đã tuyên bố những lời phạt vạ tuyệt thông một cách long trọng của Giáo hội dành cho những tội ác có tổ chức, cho dù mang danh hiệu nào : mafia, ’Ndrangheta, Camorra. Chỉ có ngài mới tuyên bố rằng không được ban các bí tích cho những người đó bao lâu họ chưa hoán cải từ bỏ tội ác của họ.
Khi phạt tuyệt thông những mafia, giáo hoàng Phanxicô buộc các giám mục, giáo sỹ, các dòng tu và các tín hữu hành đạo, phải cắt đứt liên lạc với thế giới ngầm này. Thực vậy, giáo hoàng biết rằng không phải mọi nơi trong Giáo hội, người ta sẵn sàng dấn thân bảo vệ cho điều hợp pháp. Không phải mọi người đều là anh hùng như linh mục Pino Puglisi, tại Palermo, người đã bị ám sát trước nhà mình do bọn mafia năm 1993 và đã được giáo hoàng Phanxicô phong chân phước.
Giáo hoàng rất ý thức rằng có một vùng rộng lớn xám xịt gồm các giáo sỹ sợ hãi, những người quay mặt làm ngơ. Một giáo sỹ không đề cập tới các hành động của nhóm mafia sẽ biện minh rằng mình không có vai trò phán xét. Kiểu mập mờ này là để xin ơn huệ hay đón nhận ơn huệ, do đó họ nhắm mắt trước những đe dọa tinh vi, lẫn lộn giữa việc chăm sóc mục vụ các linh hồn lầm lạc và sự im lặng đồng lõa.
Các bố già mafia phản ứng ngay lập tức. Ở miền Nam nước Ý, theo truyền thống, các cuộc rước kiệu Đức Mẹ hay thánh bổn mạng đều dừng lại trước nhà của những kẻ quyền thế, thường là các bố già mafia. Người ta gọi là “để tỏ lòng tôn kính”. Ngày 02/07/2014, trong thành phố Oppido Mamertina, ở Calabre, nơi giáo hoàng mới phát biểu, người ta tổ chức cuộc rước kiệu Đức Mẹ Ban Ơn và dừng lại trước nhà ông Giuseppe Mazzagatti, 82 tuổi. Ông này bị kết án chung thân vì tội giết người và tổ chức tội ác, được coi như một trong những người chịu trách nhiệm chính trong làn sóng bạo lực giữa những giòng họ nắm quyền ở vùng này trong những năm 1990. Viên chỉ huy cảnh sát địa phương đã rời đoàn rước, cảm thấy ghê tởm, trong khi vị linh mục và ông thị trưởng vẫn làm như không có gì xảy ra.
Hai năm trước đó, cũng trong vùng này, Francesco Raccosta, một ông chủ khác của nhóm ’Ndrangheta, kẻ thù của nhóm các gia đình thế giới ngầm Polimeni, Mazzagatti và Bonarrigo, đã bị tấn công bằng gậy sắt rồi ném dở sống dở chết ngoài đồng làm mồi cho heo. Kẻ thủ sát, bị cảnh sát nghe trộm điện thoại, kể lại câu chuyện đó cho một người bạn của hắn: “nó kêu… nó la… tôi nói… con heo ấy nó ăn cái gì vậy!”
Lập tức giám mục có câu trả lời: ngưng tất cả các cuộc rước trong giáo phận. Tòa giám mục Calabre, Salvatore Nunnari, giải thích rằng các giáo sĩ cũng phải ngay lập tức rời khỏi những nghi lễ như thế. Đức cha Nunzio Galantino, thư ký HĐGM Ý, kêu gọi “diệt trừ tận gốc những cội rễ văn hoá” của hành vi tồi tệ nơi các người có trách nhiệm chính trị và tôn giáo: “Rước như thế không phải là tôn kính tượng ảnh, nhưng là một cuộc đấu thầu” ngài khẳng định, vẻ tức giận.
Tuy nhiên, mafia vẫn tiếp tục gây sức ép để làm giảm bớt hiệu lực vạ tuyệt thông của giáo hoàng Phanxicô. Vài ngày sau vụ xì căng đan Oppido Mamertina, tại khu vực an ninh cao của nhà tù Larino, trong vùng Molis, hai trăm tù nhân bị án vì những tội ác có dính líu đến mafia, đe dọa đình công không đi xem lễ. Một ban đại diện khoảng ba chục tù nhân đến gặp cha tuyên uý nhà tù Marco Colonna yêu cầu “làm sáng tỏ”, theo kiểu nói đạo đức của mafia. Họ hăm dọa “nếu chúng tôi không được nhận các bí tích, thì chúng tôi không đi xem lễ nữa”. Cha tuyên uý phải nhượng bộ. “Sau những ngày suy nghĩ, tôi đã bảo đảm cho họ dù sao họ vẫn được nhận các bí tích.”
Cuối tháng Bảy 2014, mafia gởi tín hiệu lần thứ ba đến giáo hoàng Phanxicô. Tại Palermo, nhân cuộc rước kiệu kính Đức Trinh nữ Maria núi Cát Minh, trong khu phố cổ Ballarò, một người đàn ông trung niên, mặc áo tu sĩ, lớn tiếng ra lệnh: “Tất cả dừng lại.” Những người khiêng tượng Đức Mẹ theo lệnh và đứng yên trước một cơ sở dịch vụ mai táng, nơi mà tên chủ tịch mafia Alessandro D’Ambrogio đã từng tổ chức các cuộc hội nghị kín. D’Ambrogio đã bị kết án ngồi tù tại Novara, nhưng cơ sở dịch vụ trên thuộc về gia đình hắn và vẫn là hình ảnh quyền lực của hắn. Hai đứa trẻ từ trong nhà chạy ra và được phép trèo lên kiệu để ôm tượng Đức Mẹ.
Đó là một thách đố công khai gởi đến Giáo hội của giáo hoàng Phanxicô. Cuộc biểu tình tại nhà tù Larino là một cuộc tấn công trực tiếp chống lại ngài. Mafia “muốn tiếp tục chém giết, ăn cắp, buôn bán ma tuý mà không bị kết án là phạm tội. Bọn họ coi giáo hoàng Phanxicô là một kẻ thù và thách thức ngài”, đó là nhận định của ông Gian Carlo Caselli, nguyên thống đốc đảo Palermo, người đã có những thành công quan trọng trong cuộc chiến chống lại tội ác có tổ chức vào những năm 1993 đến 1999.
Giáo triều là một điểm gặp gỡ của những cuộc sống chạy song song nhau. Đây là một nơi của những suy tư tinh tế và cũng là một vũng lầy chết người. Đằng sau những căng thẳng, những đối kháng và xung đột, có một chất xi măng nối kết tất cả lại, đó chính là ý tưởng về quyền bính giáo hoàng như một quyền lực tuyệt đối. Quyền lực này được tóm lại trong một vài hình ảnh: dãy cột lớn ở vòng cung Bernin như đang ôm trọn thế giới, tháp tròn đền thờ thánh Phêrô của nghệ sĩ Michel Ange, phản ánh cấu trúc hoàn hảo của Giáo hội, với một thánh giá trên đỉnh tháp gợi lại rằng Đức Kitô và vị đại diện của ngài, là ở trên các vua chúa và trên các vị nguyên thủ khắp trái đất này.
Chính trong khung cảnh đó mà giáo hoàng Phanxicô đang thiết lập một sự phân chia. Một mặt, những ai không muốn tách rời khỏi hình ảnh cổ xưa và cách hành xử quyền bính theo kiểu cũ; phía kia, gồm những người sẵn sàng ném mình vào cuộc mạo hiểm là sửa lại khuôn mẫu Giáo hội để làm cho Giáo hội có khả năng gặp gỡ con người nam cũng như nữ của thiên niên kỷ thứ ba.
Giáo triều cũng là một thế giới thu nhỏ, trong đó đầy dẫy những tham sân si, nhưng cũng có những hy sinh quên mình, có những sát thủ bằng lời nói, những người tham vọng thăng tiến nghề nghiệp, nhưng cũng có những người tận tâm. Nhiều lần giáo hoàng đã xác nhận là “ở trong giáo triều có những vị thánh”, ngài muốn nói tới những vị gương mẫu, họ thi hành trách vụ cách chuyên nghiệp nhưng đồng thời cũng là một con người cầu nguyện và dành hết thời gian tự do cho những công việc bác ái. Nhưng giáo hoàng Phanxicô không phải là không biết đến những vấn đề khó khăn. “Tôi nghĩ rằng giáo triều đã đánh mất ít nhiều mức độ đã có xưa kia” ngài tuyên bố như thế ít tháng sau khi đến đây, ngài lấy làm tiếc “vì thiếu những khuôn mặt của các nhân vật lớn tuổi làm việc ở giáo triều, trung thành, làm công việc của mình”. Việc giáo triều giảm phẩm chất có thể được giải thích theo kiểu xã hội học: do việc giảm thiểu ơn gọi. Trước đây, ơn gọi còn phong phú, nên khi giám mục gởi những linh mục tốt nhất đến Vatican thì ngài vẫn còn những nhân sự tuyệt vời cho giáo phận của mình. Trong thời đại khan hiếm ơn gọi như hiện nay, nếu giám mục thấy có một linh mục tốt trong số các linh mục trẻ, thì ngài sẽ muốn giữ linh mục ấy bên mình như là một cộng sự viên.
Thật không phải tình cờ nếu trong bài diễn từ dịp lễ Noel đầu tiên của ngài tại giáo triều, giáo hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh đến tính chuyên nghiệp: “khả năng, nghiên cứu, cập nhật… Đó là đức tính căn bản.” Ngài nêu lên yêu cầu thứ hai là phải chống lại tính xấu ngồi lê đôi mách: “vì tính bép xép làm hư hỏng phẩm giá con người, làm hư hỏng chất lượng công việc và môi trường”. Từ ngữ “bép xép” là một kiểu nói bóng gió.
Sử gia Giáo hội, ông Alberto Melloni sử dụng những từ nghiêm khắc hơn để diễn tả những ý tưởng mà giáo hoàng Phanxicô đã nói tới. Một giáo triều có những nhân viên “thừa hưởng ý tưởng cho rằng mình vừa là trung tâm vừa là tất cả”. Một nơi đầy dẫy tham vọng thăng tiến nghề nghiệp mang màu sắc bợ đỡ và nói hành nói xấu người khác, sở dĩ như vậy là vì “người ta quá đề cao cái tôi và coi thường chiều kích thể chế mà họ đang sử dụng”. Theo Melloni, tình trạng suy thoái đó càng trầm trọng từ những năm 70 thế kỷ trước, từ khi bầu giáo hoàng Wojtyla đến khi giáo hoàng Bênêđictô XVI từ nhiệm.
Giáo hoàng Phanxicô biết mình vẫn còn bị khá cô lập trong cơ cấu giáo triều, và tại Roma cũng như nơi khác có nhiều chức sắc trong Giáo hội vỗ tay hoan hô ngài nhưng lại dè dặt trong việc đi theo bước chân của ngài. Giám mục Giancarlo Reganntini nhận xét: “Có nguy cơ giáo hoàng ít được người ta theo”. Hơn nữa, “còn có nguy cơ là mặc dù mọi người đều nói đức giáo hoàng “thánh thiện, tốt lành và can đảm”, nhưng cuối cùng ngài vẫn cô đơn”. Nhưng các bạn bè của ngài tại Achentina còn nhớ ngài rất cứng đầu.