Chương trình cách mạng
Tại Buenos Aires, người ta đồng thanh nhìn nhận những đức tính tốt trong việc điều hành của Bergoglio, cả nơi giới Công giáo cũng như không công giáo. Mọi người đều khẳng định rằng đây là một người của lệnh truyền, một “chính trị gia thuần khiết, có khả năng làm việc phi thường và khuynh hướng tập trung, một cái đầu rất tốt, có ý tưởng rõ ràng về quyền bính”.
Nhưng chính khía cạnh khác của ngài, khía cạnh lòng nhân ái, mới chinh phục con tim của hàng triệu tín đồ. Đức Phanxicô có lòng tốt của một vị mục tử, mà không nhu nhược. Ngài hoàn toàn ý thức về sự phản kháng và chống đối mà bất cứ công cuộc cải cách nào cũng gặp phải, những cuộc cải tổ mà ngài đang nhắm tới vì lợi ích của Giáo hội.
“Tôi hơi xảo quyệt một chút đấy1” ngài lưu ý các đối thủ như thế. Ngài biết rằng các cuộc đối đầu đều diễn ra đằng sau hậu trường, chỉ một số khác mới diễn ra công khai, như trường hợp thời của đức Gioan XXIII và Phaolô VI.
Ngay từ những tháng đầu tiên triều đại giáo hoàng, ngài đã đặt nền cho một chương trình đầy tham vọng. Nền tảng cho khởi điểm này đã được xác định từ trước mật nghị, dựa trên đề nghị của các hồng y, qua các kỳ đại hội diễn ra từ ngày 4 – 11/3/2013. Trong đó, ba đề nghị chính được đề ra: cải tổ giáo triều cho đơn giản và hiệu quả hơn, làm sạch ngân hàng Vatican và cổ võ tính “tập thể” bằng cách thường xuyên trao đổi ý kiến giữa giáo hoàng, hồng y đoàn và các Hội đồng Giám mục, nhằm cổ võ sự tham gia của các giám mục trên thế giới trong những quyết định có tính chiến lược của giáo hoàng.
Trong dự án và những lời tuyên bố của mình, đức Phanxicô còn đi xa hơn, và ngay cả, trong một số lãnh vực, đi xa hơn nhiều so với sự tưởng tượng của các hồng y cử tri. Ý thức điều đó nên ngài đã dành năm 2013 để xác định một loạt những sự kiện quan trọng trong chương trình canh tân. Tháng Bảy, ngài trình bày chương trình làm việc với HĐGM Mỹ-Latinh họp tại Braxin, rồi một cách thân mật hơn, sau kỳ hè, ngài trình bày trong cuộc phỏng vấn dành cho tờ La Civiltà Cattolica. Tháng Mười Một, ngài xác định chương trình hành động bằng một văn bản chính thức của quyền giáo huấn, tông huấn Niềm vui Tin Mừng.
Ngài đã công bố ý định cho toàn thể Giáo hội qua các kênh khác nhau, xác định mục đích rõ ràng để không bị dẫn đến kết cục theo thói quen của giáo triều và do quán tính của các guồng máy như thời đức Ratzinger. Đức Ratzinger quá thận trọng và không quen sử dụng quyền bính, nên đã không thực hiện được cuộc canh tân nào như ngài mong muốn.
Cuộc cách mạng của đức Phanxicô mang tên: “Cải tổ Giáo hội hướng đến sứ vụ”. Hiệu lệnh của ngài là “loại bỏ tiêu chuẩn mục vụ dễ chịu của kiểu suy nghĩ ‘người ta vẫn làm như thế’”. Bước đầu tiên là phải thúc đẩy hàng giáo sỹ tránh rơi vào chủ nghĩa bàn giấy, tránh lạm dụng những giải pháp kỷ luật, tránh “lấy lại những kiểu sống hay những hình thức lỗi thời, những hình thức không có khả năng trở thành dấu chỉ ngay cả về mặt văn hoá”. Các linh mục không được hài lòng với việc xác định những “lộ trình” giới hạn trong những số liệu thống kê và một bảng phân tích các kết quả. Giáo hoàng Phanxicô không muốn hàng giáo sỹ rơi vào cám dỗ biến sứ điệp Tin Mừng thành một ý thức hệ hay điều hành giáo xứ theo cách độc đoán2. Phát biểu trước HĐGM Mỹ-Latinh tại Rio de Janerio, giáo hoàng nhắc nhở “hiện tượng giáo sỹ trị cho thấy, phần lớn, tình trạng thiếu trưởng thành và thiếu tự do của người Kitô hữu nơi một số giáo dân Mỹ-Latinh”. Một nhận định không phải chỉ đúng cho lục địa nguyên quán của ngài, nhưng còn được áp dụng cho nhiều miền khác trong thế giới Công giáo. Tại Ý, HĐGM từ khoảng 10 năm trở lại đây đã ngăn chặn việc thiết lập một tổ chức đại diện các hiệp hội tín hữu công giáo, có thể tự do phát biểu và đối thoại với hàng giáo sỹ mà không cần diễn văn soạn trước. Giáo hoàng đặt câu hỏi: chúng ta, giám mục và linh mục, chúng ta có dành cho giáo dân một sự tự do chính đáng không, “chúng ta có giúp đỡ họ và đồng hành với họ, bỏ đi mọi cám dỗ can thiệp và bắt họ lệ thuộc quá đáng không”?
Thật là không hay, khi thay vì làm việc như nhà truyền giáo, phục vụ tín hữu và những người thiện chí, có khả năng gặp gỡ những người xa Giáo hội, thì Giáo hội lại muốn trở thành “trung tâm” và là “người kiểm soát”. Giáo hoàng Phanxicô muốn một Giáo hội mở rộng, một Giáo hội đến với thế giới. Ngài chỉ trích những cơ cấu Giáo hội ít có khả năng đón tiếp, và những giáo xứ co mình lại trong việc ban phát các bí tích. Ngài nhắc nhở các cha giải tội: “Tòa giải tội không phải là một phòng tra tấn nhưng là nơi của lòng Chúa thương xót, lòng thương xót thúc đẩy chúng ta thi hành những điều tốt đẹp có thể được”. Ngài nói, một bước nhỏ trên con đường tiến tới những giới hạn lớn của con người sẽ làm vui lòng Thiên Chúa hơn một cuộc sống bên ngoài có vẻ hoàn hảo của một người chẳng bao giờ gặp phải những khó khăn nặng nề.
Ngài có những nhận định cứng rắn chống lại chủ nghĩa hoàn hảo cực đoan. Khi là tổng giám mục, ngài đã từng cảnh giác: “Chúng ta đừng làm nô lệ cho sự bảo vệ chân lý của chúng ta một cách dường như hoang tưởng (nếu tôi có chân lý, thì họ không có; nếu họ có thể có chân lý thì tôi không thể). Chân lý là một món quà phong phú [...] làm cho chúng ta được lớn lên, được nâng cao.” Hơn bao giờ hết, giáo hoàng Phanxicô không muốn một Giáo hội báng bổ hiện tại nhân danh cái quá khứ: “Những than van tố cáo một thế giới “man rợ” hiện nay, sẽ dẫn tới việc làm nẩy sinh ngay trong Giáo hội ước mong thiết lập thứ trật tự hiểu như là việc chỉ lo bảo thủ mà thôi [...]. Không: Thiên Chúa để cho người ta gặp ngài trong cái hiện tại.”
Ngài hết sức kêu gọi hàng giáo phẩm phải hoán cải. Các giám mục phải hướng dẫn người ta chứ không phải chỉ lo làm luật. Phải gần gũi với con người, như là những người cha và những người anh, với lòng kiên nhẫn và từ tâm. Phải có một lối sống khó nghèo bên trong cũng như bên ngoài, tránh tham vọng, phải thực hành lối sống đơn sơ và khổ chế. Thay vì một giám mục truyền lệnh, giáo hoàng Phanxicô gợi lên hình ảnh một người mục tử biết đặt mình trước đoàn chiên để chỉ đường cho chúng, ở giữa đoàn chiên để giữ chúng được hiệp nhất, đi sau chúng để giữ khỏi có con chiên nào lạc mất, và “nhất là, để đoàn chiên vận dụng khả năng đánh mùi của chúng mà tìm ra những con đường mới”. Hình ảnh một giám mục biết học hỏi cách đánh mùi của tín hữu, điều đó chưa bao giờ có, càng chưa bao giờ được nói ra từ miệng một vị giáo hoàng.
Giáo hội mà giáo hoàng Phanxicô nhắm tới là một Giáo hội “không bị ám ảnh bởi việc chuyển giao vô số những giáo lý mà người ta đang cố gắng áp đặt và nhấn mạnh, nhưng sự chuyển giao này lại là trật khớp3”. Ngược lại, đó là một Giáo hội sẵn sàng chấp nhận nguy hiểm khi đối diện với con người thời đại như họ là, để đáp lại nỗi khát vọng Thiên Chúa nơi họ. Giáo hội này cần cải tổ các cấu trúc của mình. Giáo hoàng Phanxicô xác định những mục tiêu rõ ràng, liên hệ đến toàn bộ cơ cấu kim tự tháp của giáo quyền: giáo hoàng, giáo triều, công nghị, các hội đồng giám mục, ban tư vấn giáo phận, vai trò của người tín hữu và những trách nhiệm phải trao cho phụ nữ.
Đầu bảng danh sách, là việc cải tổ vai trò giáo hoàng. Đức Phanxicô muốn rằng mình “trung thành hơn với ý nghĩa mà Đức Giêsu Kitô muốn trao cho ngài”, thích nghi hơn với nhu cầu thời đại của việc loan báo Tin Mừng. Đức Phanxicô gọi đó là “sự hoán cải sứ vụ giáo hoàng”. Luật sư Guzman Carriquiry người Uruguay, thư ký uỷ ban giáo hoàng về châu Mỹ Latinh, tóm kết việc canh tân vai trò giáo hoàng bằng hình ảnh sau: “Bergoglio kế vị thánh Phêrô, chứ không phải kế vị vua Constantinô.”
Giáo hoàng Phanxicô lưu ý rằng một sự tập trung quyền bính quá đáng sẽ không giúp gì cho Giáo hội, nhưng lại làm phức tạp thêm cho sự hiện diện và sứ vụ truyền giáo sinh động của Giáo hội2. Vị giáo hoàng người Achentina qui chiếu vào hai bản văn quan trọng nhưng đã bị bỏ quên dưới triều đức Bênêđictô XVI. Trước tiên, thông điệp Ut unum sint của giáo hoàng Gioan Phaolô II, đề nghị phải nghiên cứu một mô hình mới về vai trò đứng đầu của giáo hoàng, với sự tham gia nhiều hơn nhằm hướng đến việc hiệp nhất trong tinh thần đại kết. Một mô hình phải nghiên cứu về những vị lãnh đạo của các Giáo hội Kitô khác. Thứ đến là bản văn được soạn thảo năm 2007 tại Ravena do một uỷ ban hỗn hợp Chính Thống giáo và Công giáo, trong đó có sự tham gia của hồng y Walter Kasper và đức Joannis Zizioulas, thuộc Tòa thượng phụ Đại kết Constantino. Trong văn kiện này, lần đầu tiên Chính Thống giáo nhìn nhận rõ ràng giám mục Roma là “người đứng đầu các thượng phụ” và Vatican là Giáo hội “đứng đầu trong đức ái” (giáo hoàng Phanxicô sử dụng công thức này khi phát biểu với dân chúng buổi tối ngày ngài được bầu làm giáo hoàng). Đồng thời, bản văn cũng nhấn mạnh rằng vai trò của giáo hoàng Roma cần phải được thực hiện trong khung cảnh một sự hợp tác thực sự với các giám mục của giới Kitô giáo, trong sự “đồng thuận” với họ. Đây là điều mà Chính Thống giáo gọi là tính ‘thượng hội đồng đoàn’ (synodalité). Giáo hoàng Phanxicô rõ ràng rất gần với kinh nghiệm của Chính Thống giáo, theo đó, vị thượng phụ, cho dù là người đứng đầu một Giáo hội, nhưng không thể điều hành Giáo hội đó nếu không có ý kiến của ban cố vấn của mình, tức là Thượng hội đồng. Ngài nói, từ những người Chính thống, “chúng ta có thể học hỏi được nhiều hơn nữa ý nghĩa của tính tông đoàn (collégialité) với các giám mục và ý nghĩa truyền thống về tính Thượng hội đồng đoàn”.
Lãnh vực thứ hai cần cải tổ là giáo triều Roma, nhưng không phải chỉ nhằm làm mới lại các cơ quan và tăng cường hiệu năng của nó. Tại Buenos Aires, một trong những cộng tác viên của tổng giám mục Bergoglio nhớ lại rằng từ lâu nhiều tòa giám mục đã yêu cầu giảm thiểu “quyền bính cảnh sát” của giáo triều. Thực vậy, vào những thời điểm khác nhau, các tòa giám mục tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức và một số nước tại Châu Mỹ Latinh (vào thời phong trào thần học giải phóng) đã phải đau khổ vì sự kiểm soát hoặc áp lực của Vatican. Từ nhiều thế kỷ nay, giáo triều Roma, một công cụ phục vụ cho triều đại giáo hoàng quân chủ, đã hành động và coi mình như là một thứ bộ tổng chỉ huy của Giáo hội.
Trong Tông huấn Niềm vui Tin Mừng, giáo hoàng Phanxicô chỉ nói rằng “các cơ cấu ở cấp trung ương của Giáo hội phổ quát cần lắng nghe tiếng kêu gọi phải thực hiện một cuộc hoán cải mang tính mục vụ”. Nhưng trong cuộc nói chuyện với Spadaro, ngài nói rõ hơn: “Các thánh bộ tại giáo triều Roma là để phục vụ giáo hoàng và các giám mục: các thánh bộ đó phải giúp các Giáo hội địa phương cũng như các Hội đồng Giám mục1.” Điều đó báo trước một cuộc cách mạng tương đương với cuộc cách mạng Copernic, bởi vì từ một công cụ hoàn toàn phục vụ cho giáo hoàng, giáo triều phải trở thành ‘một công cụ phục vụ’ cho sự liên kết giữa giáo hoàng và các giám mục trên thế giới. Trong cuộc phỏng vấn dành cho tờ La Civiltà Cattolica, cuộc phỏng vấn này có thể được coi là bản tuyên ngôn đầu tiên cho chương trình hành động của triều giáo hoàng, đức Phanxicô đã thẳng thắn chỉ trích quyền lực của giáo triều từ nhiều năm nay: “Khi các thánh bộ không hiểu đúng về chính mình, thì sẽ có nguy cơ trở thành những cơ quan kiểm tra. Thật ấn tượng khi xem những lá đơn gởi về Roma tố cáo một sinh hoạt nào đó là thiếu tính chính thống!” Đức Bergoglio từ chối ý tưởng quyền hành giáo triều và không chấp nhận việc các thánh bộ tại giáo triều Roma được coi mình như những người điều hành Giáo hội phổ quát. Đó là dự án của ngài, ít là như vậy.
Cả trong cuộc phỏng vấn cũng như trong Tông huấn trên, đức Phanxicô không dùng từ “giáo triều”, dường như ngài muốn loại bỏ tên gọi biểu tượng quyền lực này. Đức giáo hoàng thích sử dụng từ đúng kỹ thuật hơn để nói về các cấp thẩm quyền, ngài gọi là “cơ cấu trung ương” hay “các bộ tại Roma”. Trong truyền thống từ ngàn năm về từ ngữ được dùng trong Giáo hội Công giáo, gọi tên hay không gọi tên về một điều gì đó luôn mang theo một ý nghĩa rõ ràng.
Trong diễn văn ngày 21/12/2013 nhân dịp chúc mừng lễ Giáng Sinh các chức sắc và nhân viên thuộc các bộ tại Roma, lần duy nhất giáo hoàng gọi tên rõ ràng giáo triều Roma. Ngài khen ngợi sự tận tâm của họ, tính chuyên nghiệp và sự thánh thiện của nhiều thành viên trong họ, nhưng ngài cũng lặp lại lời cảnh báo: “Khi có những cách hành xử không nhằm phục vụ cho các Giáo hội địa phương và giám mục của họ, thì cơ cấu giáo triều sẽ phình lên như một trạm hải quan to lớn và mang tính bàn giấy, một cơ quan kiểm tra, điều tra, và như thế là không để cho Chúa Thánh Thần hoạt động cũng không để cho dân Thiên Chúa được thăng tiến1”. Những lời đó đã khiến người ta bực mình. Điều chỉnh lại hướng hoạt động của các bộ máy trung ương Giáo hội sẽ là một trong những công việc khó khăn nhất của giáo hoàng.
Uỷ ban cố vấn gồm 8 hồng y đã thực sự đối diện với những khó khăn. Bản văn qui chế mới về việc điều hành ở cấp trung ương đã đi theo quan điểm của giáo hoàng. Lần cải tổ cuối cùng là năm 1998, khi đức Gioan Phaolô II ban hành Tông hiến Pastor Bonus nhằm tái cấu trúc các thánh bộ, các văn phòng tại giáo triều, các tòa án Giáo hội, các uỷ ban giáo hoàng và trao vai trò điều phối quan trọng cho Quốc vụ khanh. Sau vài cuộc họp của Ban hồng y cố vấn, người ta thấy rằng không thể điều chỉnh tông hiến đó của đức Gioan Phaolô II. Sau nhiều thế kỷ áp dụng chính sách quyền lực siêu tập trung, giờ đây phải suy nghĩ lại hoàn toàn về kiểu điều hành của giáo triều.
Cũng trong thời gian đó, giáo hoàng Phanxicô muốn trao quyền độc lập nhiều hơn nữa cho các HĐGM quốc gia. Lập trường của giáo hoàng Ratzinger, từ khi còn là hồng y, là không chấp nhận việc các HĐGM quốc gia có quyền ra những quyết định có tính bắt buộc đối với các giám mục trong một quốc gia. Nhưng vị giáo hoàng Achentina lại có ý dành cho cơ cấu này một qui chế rõ ràng xác định đây là những “cơ quan có trách nhiệm cụ thể, kể cả một số thẩm quyền chính thức về đạo lý”.
Ngược lại, năm 1985, hồng y Ratzinger trong cuốn Bàn về đức tin (Entretien sur la foi) đã khẳng định: “Các HĐGM không có một nền tảng thần học nào hết, các cơ quan này không thuộc về cơ cấu không thể thay đổi của Giáo hội như Đức Kitô đã muốn, mà chỉ có chức năng thực tiễn.” Năm 1988, Ratzinger với tư cách Tổng trưởng thánh bộ Giáo lý Đức tin, lặp lại rằng các HĐGM “tự thân không phải là một thẩm cấp của đạo lý bó buộc hay có thẩm quyền cao hơn từng giám mục”.
Vấn nạn này không phải là cuộc tranh luận thần học trừu tượng. Một mặt, nó cho thấy ý kiến khác nhau giữa vị nguyên giáo hoàng và giáo hoàng đương nhiệm, mặt khác, nó cũng liên hệ một cách rất cụ thể đến mẫu hình Giáo hội cần phải chấp nhận cho thế kỷ XXI: một Giáo hội theo kiểu vương quyền hoàn toàn tập trung như từ nhiều thế kỷ nay, đặc biệt từ nửa thiên niên kỷ nay kể từ công đồng Trentô, hay một Giáo hội mang tính cộng đoàn hơn, trong đó vai trò ưu tiên của giáo hoàng sẽ được đối trọng bằng sự cộng tác tích cực của các giám mục trong việc điều hành tập trung của Giáo hội và bằng một quyền tự quyết nào đó ở cấp độ quốc gia?
Một cơ cấu tập trung không phải là không thể thay thế đối với một tôn giáo toàn cầu. Hồi giáo, Do Thái giáo, Phật giáo đã trải qua hằng nghìn năm mà không có một cơ cấu tương đương với tòa thánh Vatican. Thế giới Tin Lành hay của các phong trào phúc âm vẫn tồn tại và phát triển độc lập với những tổ chức trung ương. Đối với Giáo hội Công giáo, với một lịch sử và quan niệm của Giáo hội về chính mình, thì đề nghị của giáo hoàng Phanxicô về một mẫu hình có sự tham gia nhiều hơn quả là một thách đố thực sự. Thực vậy, vị kế nhiệm vai trò trước đây của đức hồng y Ratzinger, tổng giám mục Ludwig Muller, bộ trưởng thánh bộ Giáo lý Đức tin đã đưa ra một lời phê phán cay đắng. Theo ngài, cổ võ một khuynh hướng cho phép các Giáo hội địa phương đưa ra những quyết định khác với Roma “là điều không thể được. Cũng giống như chủ nghĩa tập trung, chủ nghĩa đa nguyên (particularisme) là một dị giáo”. Các chủ tịch HĐGM chỉ là những vị điều phối, ngài nhấn mạnh, và khốn cho ai coi các vị đó như là những phó giáo hoàng.
Đức Phanxicô muốn chấm dứt những tố cáo điên cuồng cho rằng thiếu chính thống từ khắp nơi gởi về Roma, những kiểu bóng gió về việc sai lầm đạo lý sẽ thường làm tổn hại cho sự nghiệp của người tố cáo. “Tôi tin rằng những trường hợp đó phải được nghiên cứu ở cấp HĐGM địa phương, mà Roma có thể cung cấp một sự trợ giúp phù hợp cho các thẩm quyền đó1”. Không cần mở rộng về đề tài này, giáo hoàng có ý điều chỉnh một cách sâu xa cách thức làm việc của Thánh bộ Giáo lý Đức tin, vốn là cơ quan giám sát từ lâu đời có vai trò chống lại những sai lạc về đạo lý. Trong cuộc gặp gỡ các thành viên của bộ này, đầu năm 2014, giáo hoàng đã nhấn mạnh rằng họ phải làm việc với sự hợp tác của các giám mục địa phương và các HĐGM quốc gia, họ phải có những “cuộc đối thoại trong tinh thần xây dựng, tôn trọng và kiên nhẫn2” với các nhà thần học liên hệ.
Trên hết, giáo hoàng Phanxicô xác tín rằng cần phải chấp nhận việc giáo hoàng không điều hành cách đơn độc, nhưng với sự trợ giúp của các cơ quan có chức năng tư vấn, trong đó phải có sự đối thoại thực sự. Vì thế ngài đã thiết lập ban cố vấn riêng của ngài, gồm 8 hồng y. Trong cái nhìn đó, ngài muốn sử dụng cả hồng y đoàn và thượng HĐGM để giúp cho “việc tư vấn được thực sự và tích cực3”. Cần có một chương trình làm việc về một vài điểm cụ thể nào đó, nhằm cân nhắc việc chấp thuận hay không chấp thuận.
Giáo hoàng Phanxicô không chấp nhận phó mặc cho Thượng hội đồng – tổ chức đại diện các giám mục trên toàn thế giới họp tại Roma ít là ba năm một lần – tranh luận về những vấn đề gai góc nhất: chẳng hạn việc người tái hôn được rước lễ, những vấn đề liên hệ đến tính dục và gia đình, vai trò của giáo dân trong Giáo hội, những vấn đề này hiện đang bị đặt dưới quyền của “chủ nghĩa giáo sỹ quá đáng, một chủ nghĩa không đếm xỉa đến những người liên hệ trong các quyết định”. Điều đó cũng bao hàm vấn nạn về những phận vụ nào có thể được trao cho phụ nữ. Thực vậy, giáo hoàng Phanxicô xác định phải đặt những vấn nạn đó vào những điểm chính yếu có tính quyết định của Giáo hội.
Đó là một chương trình cải tổ đầy tham vọng. Đã có những kháng cự lẻ tẻ. Một số phản đối cho rằng đề cao tính dân chủ quá đáng, có nguy cơ dẫn đến việc giảm thiểu vai trò ưu tiên của giáo hoàng, một số khác không chấp nhận việc cho phép phụ nữ giữ những vị trí cao cấp trong cơ cấu điều hành Giáo hội. “Trong Giáo hội, vốn đã có nhiều phụ nữ hơn đàn ông rồi. Không cần phải đưa ra hạn ngạch nữa.” Đó là đường ranh chia phần phẩm trật.
Khi mới được bầu làm giáo hoàng, một trong những câu hỏi đặt ra cho ngài là Tòa thánh có khả năng điều hành chính trị ở nước ngoài không. Các giáo hoàng Gioan XXIII, Phaolô VI, và đặc biệt là Gioan Phaolô II đã có một quan niệm chính trị địa lý rõ ràng. Còn đức Bênêđictô XVI, vốn là một nhà thần học, nên ngài có vẻ không dễ chịu trong vai trò lãnh đạo chính trị. Đối với đức Bergoglio, điều đó sẽ như thế nào, vì khi còn là hồng y, ngài đã ít đi lại các nơi, và khả năng tiếng Anh lại không tốt?
Chỉ cần vài tháng là đức Phanxicô bắt đầu giao lưu dễ dàng hơn trên sân khấu quốc tế. Ngài làm việc trước tiên do động lực mục vụ, nhưng với một tầm nhìn rõ ràng về các khủng hoảng trên thế giới cũng như về vai trò tôn giáo và chính trị của Giáo hội Công giáo. Định nghĩa của ngài về một trái đất đang đối diện với “thế chiến thứ ba [...] do tình trạng phân mảnh” là chính xác: ngài muốn các nhà lãnh đạo quốc gia phải ý thức rằng cần phải có một sáng kiến mang tính toàn cầu và tập thể để có thể dập tắt những lò lửa thường xuyên đang làm quay cuồng thế giới từ nhiều năm nay. Việc can thiệp của ngài vào cuộc khủng hoảng tại Syri đã đem lại nhiều kết quả, và đã đưa Tòa thánh trở lại sân khấu thế giới sau khoảng cách nhiều năm thời đức Bênêđictô
XVI. Cuối tháng Tám đầu tháng Chín 2013, khi có tin một cuộc tấn công vào Syri do Hoa Kỳ dẫn đầu, giáo hoàng đã đắn đo về quyền bính của mình, rồi lên tiếng chống lại cuộc chiến trong dư luận tại châu Âu, nhưng đồng thời với một số đông dân chúng Hoa Kỳ nữa.
Ngỏ lời trực tiếp với tổng thống Nga Vladimir Putin nhân cuộc họp G20 tại Matxcơva, giáo hoàng nhắc lại rằng xung đột vũ lực luôn gây ra “những chia sắt sâu xa, những vết thương bị rách toang đó cần nhiều năm mới có thể khép lại”. Với một tinh thần thực tế được đánh giá cao bởi nền ngoại giao có tầm nhìn dài hạn của Vatican, giáo hoàng Phanxicô tuyên bố rõ ràng rằng, ngay từ đầu cuộc chiến dân sự tại Syri, người ta quá tập trung vào lợi ích riêng khiến “không thể tìm ra được một giải pháp tránh cuộc tàn sát vô ích mà chúng ta đang chứng kiến”. Sự can thiệp của giáo hoàng khi ngài kiên quyết yêu cầu phải tìm ra một giải pháp hòa bình, rõ ràng là ủng hộ quyết định của Liên Hiệp Quốc, vì tổ chức này đã ngăn chặn cuộc xâm lược và mở ra con đường tháo bỏ dần dần các vũ khí hóa học mà chính quyền Assad đang sở hữu.
Lần đầu xuất hiện trên đấu trường chính trị thế giới, đức Bergoglio đã có một trang Twitter hàng ngày, thường xuyên xuất hiện trên các trang mạng, mặc dù khi ở Buenos Aires ngài nổi tiếng là mù mờ các công nghệ kỹ thuật. Ngày 4/09/2013 ngài viết: “Ước gì trên toàn trái đất vang lên một cách mạnh mẽ tiếng kêu gọi xây dựng hòa bình!” Ngày 5/09: “Bằng tất cả sức lực của tôi, tôi đề nghị các phe đang xung đột nhau, đừng khép lại trong lợi ích riêng của mình.” Ngày 6/09: “Hòa bình là một thiện hảo vượt lên trên mọi rào cản, bởi vì hòa bình là một thiện hảo của toàn thể nhân loại.” Ngài tiếp tục kêu gọi như thế trong nhiều ngày, tổ chức đêm canh thức cầu nguyện với sự tham dự của hàng trăm ngàn người, để ngăn chặn cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn tại Syri. Ngày hôm sau, mồng 08/09, trong buổi đọc kinh Truyền tin, vị giáo hoàng Achentina đã phát biểu bằng thứ ngôn ngữ đơn sơ và trực tiếp như thói quen của ngài: “Vẫn mãi mãi tồn tại một hồ nghi là: không biết liệu cuộc chiến ở chỗ này chỗ kia – vì đâu đâu cũng có chiến tranh – có thực sự là một cuộc chiến vì có những vấn đề, hay chỉ là một cuộc chiến thương mại nhằm buôn bán vũ khí, thứ thương mại bất hợp pháp?”
Giống như các chuyến tông du của các vị tiền nhiệm, chuyến viếng thăm Đất Thánh từ 24 - 26/05/2014 đã được ghi dấu bằng thái độ của ngài đồng cảm với những lý do của người Do Thái lẫn của người Palestin, nhưng cũng bằng một lời kêu gọi hết sức tha thiết hãy đối thoại và phải từ bỏ mọi bạo lực. Mặc dù vẫn mang màu sắc ít nhiều của truyền thống dòng Tên, nhưng mỗi sắc thái đều cho thấy một dấu hiệu tinh tế chính trị nào đó.
Giáo hoàng từ chối ý tưởng tổ chức một cuộc gặp thượng đỉnh liên tôn với chức sắc cấp cao Hồi giáo và hai giáo sỹ cấp cao của Do Thái, để tránh rơi vào tình huống khó xử giữa hai chủ nghĩa quốc gia đối đầu. Ngược lại, khi đi hành hương cùng hai người bạn từ Achentina – giáo sỹ Do Thái Abraham Skorka và Omar Abboud, Hồi giáo, giám đốc Viện đối thoại liên tôn tại Buenos Aires -, ngài đã muốn cho thấy rằng mối liên hệ của ngài với Hồi giáo và Do Thái giáo là có từ lâu rồi.
Hình ảnh vị giáo hoàng thinh lặng cầu nguyện, đầu gục vào bức tường xây trên mảnh đất của người Palestin, đã được truyền đi khắp thế giới. Hình ảnh đó có sức mạnh hơn cả một bài diễn văn. Một lời cảnh báo âm thầm cho chính quyền Itraen rằng bức tường này, mà dấu vết khác với tình trạng của biên giới năm 1967, không thể tồn tại vĩnh viễn.
Về vấn nạn Trung Đông, giáo hoàng Phanxicô lấy lại chính sách của đức Gioan Phaolô II vào ngày 16/11/2003 - hôm trước ngày tiếp Thủ tướng Itraen Ariel Sharon tại Roma -, đã cảnh báo rằng: “Đất Thánh không cần những bức tường, nhưng cần những chiếc cầu.” Đó là thời điểm xây dựng những công trình mà chính quyền Itraen gọi là “rào chắn”, nhưng Tòa thánh vẫn coi đó như là một bức tường.
Tinh tế hơn, ngày 08/06/2014, ngài mời tổng thống Itraen, ông Shimon Peres, và tổng thống Palestin, ông Mahmoud Abbas, cũng như giáo chủ Constantinô, đức Bartôlômêo I, cùng nhau đến cầu nguyện trong vườn Vatican. Khi mời hai vị tổng thống đến để thực hiện một cử chỉ dấn thân cho hòa bình, vị giáo hoàng Achentina đã đưa ra một sứ điệp kín đáo rằng, không phải chỉ có việc người Palestin nhìn nhận nước Itraen, mà cả Nhà nước Do Thái cũng phải nhìn nhận Nhà nước Palestin, vì việc định đoạt quyền hiện hữu của mình không còn thuộc về họ nữa. Đối lại, những người Ả Rập phải hiểu được “nỗi đau của người khác”, theo kiểu nói của vị chức sắc cấp cao Hồi giáo tại Giêrusalem.
Một buổi tối êm ả tại thành phố Roma, nửa vầng trăng treo sau tháp đền thờ thánh Phêrô, giữa vườn cỏ xanh, giáo hoàng đã thốt lên: “Để xây dựng hòa bình, phải có lòng can đảm, phải can đảm hơn cả việc tham chiến. Cần can đảm để nói lời [...] chấp thuận đối thoại và từ chối bạo lực; [...] chấp thuận tôn trọng những hiệp ước và từ chối gây hấn; chấp thuận thái độ chân thành và từ chối thái độ hai mặt”.
Sau cuộc chiến tranh đẫm máu tại giải Gaza – hơn hai ngàn người Palestin thiệt mạng, trong đó có khoảng 50 trẻ em, 64 quân nhân và 5 người dân2 -, giáo hoàng Phanxicô trở lại ngọn đồi này của Vatican vào tháng Tám, và khẳng định rằng “cánh cửa vẫn còn mở ngỏ”.
Như đức Wojtyla, người đã luôn cẩn thận tránh đồng hóa Giáo hội Công giáo với Tây phương, giáo hoàng Phanxicô cũng từ chối mọi ý tưởng về thập tự quân, cho dù có những cuộc bách hại khốc liệt đối với người Kitô hữu tại Trung Đông, tiếp theo cuộc chiến tranh dân sự tại Syri và Irak, đặc biệt từ làn sóng bạo lực do nhóm dân quân tự gọi là “califat” Djihad IS. Ngài khẳng định rằng phải quan tâm đến cái chết của tất cả các nạn nhân chứ không phải chỉ có những ai thuộc đảng phái của mình. Những con người nam cũng như nữ, thuộc các tôn giáo thiểu số đang bị bách hại đó, không phải chỉ là người công giáo, ngài nhắc lại như thế với các nhà báo sau chuyến thăm Hàn Quốc ngày 18/08/2014. “Và mọi người đều như nhau trước mặt Thiên Chúa.”
Trước những cuộc tàn sát dữ tợn của nhóm khủng bố IS, giáo hoàng Phanxicô lấy lại quan điểm về sự can thiệp nhân bản theo đức Gioan Phaolô II, theo đó việc ngăn chặn một cuộc “tấn công bất chính” là điều hợp pháp. Tuy nhiên, vẫn hoàn toàn đi theo tinh thần của vị giáo hoàng Balan là chống lại cuộc xâm lấn Irak của tổng thống George W. Bush, giáo hoàng Phanxicô minh định rằng thường thường, dưới chiêu bài ngăn chặn một cuộc tấn công, thì các thế lực “lại gây ra một cuộc chiến tranh xâm lược thực sự”. Chính vì thế mà “chỉ một quốc gia thì không thể phán quyết về cách thức ngăn chặn một cuộc tấn công bất chính1”. Chỉ có Liên Hiệp Quốc mới có quyền đó.