Một giáo hoàng tự phê
Thất bại sẽ tạo nên một lãnh tụ hoặc khiến họ chẳng bao giờ dám nữa. Khi được tu sĩ dòng Tên Antonio Spadaro phỏng vấn cho tờ La Civiltà Cattolica, giáo hoàng Phanxicô đã thú nhận: “Khởi đầu, cách điều hành của tôi cũng giống cách của một tu sĩ dòng Tên, điều đó đưa đến nhiều bất cập. Đó là một giai đoạn khó khăn của hội Dòng. Cả một thế hệ những tu sĩ dòng Tên đã qua đi. Tôi làm giám tỉnh trong hoàn cảnh đó, tôi lúc đó còn rất trẻ. Tôi mới 36 tuổi: thật kinh khủng! Tôi phải đối diện với những tình cảnh thật khó khăn.”
Bergoglio trở thành giám tỉnh dòng Tên Achentina và Paraguay vào năm 1973 (cho tới 1979). Ba năm sau, một cuộc cách mạng lập nên chính quyền quân sự do tướng Jorge Rafael Videla điều hành, ông thiết lập một chế độ đàn áp đặc biệt dã man chống lại các nhóm quân du kích theo Péro và chủ nghĩa Marx. Năm 1983, chấm dứt chế độ độc tài, người ta ước tính có tới 30 ngàn người bị ám sát, hành hạ hay mất tích.
Đó là thời mà có rất nhiều tu sĩ dòng Tên đi theo nhóm cải cách hậu công đồng, họ nhiệt tình tham gia các hoạt động xã hội và phong trào thần học giải phóng. “Tôi đã có các quyết định đột ngột và hoàn toàn cá nhân […], giáo hoàng Bergoglio kể lại. Trong khi người ta thì mệt mỏi với chủ nghĩa độc tài rồi. Cách đưa ra những quyết định độc đoán và vội vàng đó đã đưa đến nhiều vấn đề nghiêm trọng và bị tố cáo là siêu bảo thủ.” Spadaro ghi lại. Chưa bao giờ có một vị giáo hoàng hiện đại mà lại thố lộ một cách thành thật và thô bạo về những sai lầm của mình, những thiếu sót của mình trong vai trò lãnh đạo như thế. Ngồi trước máy ghi âm, giáo hoàng nói tiếp: “Khi ở Córdoba, tôi đã trải qua một giai đoạn với những khủng hoảng nội tâm sâu xa. Thực sự tôi không phải là một thánh Imelda, nhưng tôi cũng không phải là người bảo thủ. Chính cách điều hành độc đoán trong việc đưa ra các quyết định đã đẻ ra vấn đề1.”
Cách giáo hoàng ám chỉ về quá khứ của ngài làm người nghe xúc động, về vai trò ngài đã đảm nhận trong thời độc tài. Các tranh cãi nổ ra khi ngài là tổng giám mục, bây giờ lại được khơi dậy sau khi ngài được bầu làm giáo hoàng. Từ lâu, ký giả người Achentina Horcio Verbitsky cho rằng vị giám tỉnh dòng Tên đã để mặc cho quân đội – thậm chí giao nộp cho quân đội – hai tu sĩ dòng Tên, Orlando Yorio và Francisco Jalics. Hai tu sĩ này bị bắt ngày 23/05/1976 bị tra tấn dã man và bị giam tại nhà tù ESMA hơn năm tháng.
Sau khi nền dân chủ được phục hồi tại Achentina, người ta đã đưa ra một bản điều tra về những vi phạm quyền con người của chế độ Putsch. Do đó, cha Bergoglio đã bị tòa án mời đến hai lần trong vai trò nhân chứng, nhưng ngài không bao giờ bị kết án về bất cứ điều gì. Ông Adolfo Pérez Esquivel, người đã nhận giải thưởng Nobel hòa bình, trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC đã xác nhận “có những giám mục đồng loã với chủ nghĩa độc tài, nhưng cha Bergoglio thì không1”. Bà Alicia Oliveira, đại diện hàng đầu của phong trào đòi nhân quyền, và là người phụ nữ đầu tiên làm thẩm phán Tòa án hình sự Achentina, bà đã từng bị chính quyền quân sự truy đuổi, và là chứng nhân cho những sáng kiến của Bergoglio nhằm giúp đỡ những người bị bách hại. Khi bà rút vào hoạt động bí mật, chính Bergoglio đã chở bà trong thùng xe để bà có thể gặp các con trai của bà trong khuôn viên trường San Miguel của dòng Tên.
Người ta cũng xác định rằng Bergoglio đã nhiều lần can thiệp để giải cứu những người nam cũng như nữ bị đặt vào tầm nhắm của chế độ quân sự. Tuy nhiên, vụ hai tu sĩ dòng Tên thì phức tạp hơn. Yorio và Jalics, một người là giáo sư thần học và người kia là linh hướng của Bergoglio, hai ngài đã thành lập một cộng đoàn trong khu xóm Rivadavia tại Bajo Flores, bên cạnh một trong những khu ổ chuột đông nhất của thủ đô Achentina: khu 1-11-14. Cả hai đều dấn thân tích cực vào công tác xã hội, gần với thần học giải phóng, và một trong những cộng sự viên của họ, người sau này bị bắt cóc và tra tấn, tham gia quân du kích. Với tư cách bề trên dòng Tên, cha Bergoglio chỉ thị cho hai cha phải từ bỏ công việc đang làm trong khu ổ chuột. Yorio và Jalics không chấp nhận và đã bị quân đội bắt cóc. Có tiếng đồn là vì cha Bergoglio muốn vận động để giải thoát cho hai cha, nên đã đến gặp các quan chức cao nhất của nhà nước độc tài: đô đốc Emilio Massera và tướng Jorge Rafael Videla. Khi hai cha đã được phóng thích, cha Bergoglio đã giúp các ngài rời khỏi nước. Cha Yorio đi Roma, còn cha Jalics lúc đầu đi Hungari quê hương của ngài, rồi sau sang Đức.
Hôm sau ngày đức Phanxicô được bầu làm giáo hoàng thì cha Yorio từ trần, còn cha Jalics đã công bố một bản văn kể rằng, trước đây mấy năm, ngài có về lại Buenos Aires và đã cử hành thánh lễ cùng với tổng giám mục Bergoglio, sau đó ngài đã ôm hôn đức cha Bergoglio trước mặt anh em. Cha Jalics xác nhận rằng cha Bergoglio “không tố cáo anh em chúng tôi, cha Yorio và tôi”. Tuy nhiên ngài cũng thêm một câu cho thấy vết thương cũ: “Tôi đã hòa giải với những biến cố này, và với tôi, giai đoạn đó đã khép lại. […] Tôi cầu chúc cho giáo hoàng Phanxicô muôn phúc lành của Thiên Chúa.”
Chắc chắn cha Bergoglio đã không bao giờ phản bội hai anh em của cha. Thậm chí ngài còn đề nghị đón nhận hai cha đến cộng đoàn Maximo de San Miguel tại Buenos Aires để hai ngài trốn. Tình hình những năm cuối thập niên 1970 có nhiều mặt. Bergoglio, người hoàn toàn không đi theo lối phân tích mang tính chính trị của thần học giải phóng, đã chính thức lưu ý hai tu sĩ dòng Tên, mời gọi các ngài không sống tại cộng đoàn các ngài đã thành lập, và truyền cho họ phải giải thể cộng đoàn đó.
Cha Ignacio Pérez del Viso, một tu sĩ dòng Tên khác, và là bạn của các ngài, năm nay đã xấp xỉ 80 tuổi, nhớ lại rằng vì hai cha nói trên không chấp nhận, nên giám tỉnh phải lặp lại lệnh truyền đó. Hai cha Yorio và Jalics nại lý do lương tâm để phản đối bề trên, do đó cha Bergoglio “viết thư cho cha Pedro Arrupe tổng quyền dòng Tên tại Roma, vị này trả lời rằng hai cha phải vâng lời”. Bị dòng Tên cho thôi công tác mục vụ, hai vị cũng bị tổng giám mục Buenos Aires, Juan Carlos Aramburu rút năng quyền mục vụ.
Không còn danh nghĩa giáo sỹ, Yorio và Jalics cảm thấy bị cô lập trước bộ máy đàn áp của chế độ độc tài. Đừng quên là trong nhiều năm, hàng giám mục Achentina thường có thái độ tự mãn trước chính quyền quân sự, cho dù có những vụ ám sát và “mất tích” của ít là 16 linh mục. Khi sự đàn áp lên cao nhất, giám mục Luigi Bettazzi, chủ tịch phong trào Pax Christi, qua trung gian sứ thần tòa thánh Pio Laghi đề nghị Giáo hội nên tổ chức tại Buenos Aires một “văn phòng đại diện tương trợ” theo kiểu của Chilê, để can thiệp giúp đỡ nạn nhân của chế độ, HĐGM Achentina đã từ chối đề nghị này1. Cũng phong trào đó, năm 1976, đứng đầu là hồng y Aramburu, chấp nhận mà không phản đối rằng vụ ám sát giám mục Enrique Angelelli, vị giáo sỹ quan trọng của phong trào chống chính quyền, là do tai nạn xe hơi.
Khi phân tích mối liên hệ giữa Giáo hội với chính quyền độc tài trong những năm đó, thái độ của hàng giáo phẩm cho thấy một hướng đi khác. Một số ít giám mục đứng lên chống chính quyền, một số khác không công khai chống đối nhưng tích cực giúp đỡ những người bị áp bức, một số khác nữa ủng hộ chính quyền theo nhiều danh nghĩa khác nhau hay có những đường dây bí mật để tiếp xúc với chính quyền. Cũng có một số ít hàng giáo phẩm cộng tác chân thành với chính quyền. Bergoglio, vào thời đó chưa làm giám mục, ngài là giám tỉnh dòng Tên, chắc chắn thuộc vào số những người âm thầm giúp đỡ những người bị bách hại mỗi khi có thể.
Mãi đến Năm Thánh 2000 thì HĐGM Achentina, do đức cha Estanislao Karlic làm chủ tịch, mới lên tiếng xin lỗi: “Vào những thời điểm khác nhau trong lịch sử chúng ta, chúng tôi đã tỏ ra khoan dung với những lập trường độc tài chuyên chế, một thể chế vi phạm đến quyền tự do dân chủ vốn thuộc về phẩm giá con người. Bởi vì qua những hành động của chúng tôi, hoặc qua những điều đáng lẽ phải làm nhưng chúng tôi đã không làm, chúng tôi đã phân biệt đối xử với một số đông anh chị em chúng tôi, chúng tôi đã không dấn thân đủ trong việc bảo vệ quyền lợi của họ”. Một lời thú tội công khai về những ai đã tham gia vào những hành động “bạo lực xúc phạm đến quyền tự do, tham gia vào những vụ tra tấn dã man, hay tố giác, những vụ đàn áp chính trị và thiếu khoan nhượng do ý thức hệ”.
Năm 2006, với vai trò chủ tịch HĐGM Achentina, đức Bergoglio đã phổ biến một thông báo thứ hai, trong đó bày tỏ sự sám hối do “những sai lầm to lớn xúc phạm đến sự sống và phẩm giá con người, và sự coi thường luật pháp và các tổ chức” trong cuộc cách mạng lật đổ chính quyền năm 1976.
Đằng sau những câu hỏi về thái độ của Giáo hội dưới chế độ độc tài, Achentina còn tranh luận về một câu hỏi khác: việc cha Bergoglio điều hành dòng Tên tại Achentina khi ngài làm giám tỉnh. Trong giới công giáo, chỗ riêng tư nhiều người nhìn nhận việc Bergoglio được các tu sĩ dòng Tên “yêu và ghét” là do cách thức điều hành của ngài cũng như do một số quyết định của ngài trong giai đoạn này.
Một trong những nhà đầu tiên viết về tiểu sử về ngài, bà Evangelina Himitian, kể lại một cách rõ ràng rằng Bergoglio đã phải đối diện với những chống đối và những lời chỉ trích”. Là tổng giám mục, Bergoglio đã tỏ ra rất thẳng thắn: “Tôi đã phạm nhiều lỗi lầm, tôi không chối điều đó. Sai lầm và tội lỗi. Có thể sẽ là giả hình nếu hôm nay tôi nói lời xin lỗi vì những lỗi lầm mà tôi có thể đã gây ra. Hôm nay, tôi xin lỗi vì những tội lỗi và những xúc phạm mà tôi đã thực sự gây ra1.”
Cha Ignacio Pérez del Viso trước đây là giáo sư của Bergoglio, đã dõi theo suốt hành trình của Bergoglio. Khi tôi gặp ngài ở Buenos Aires, tôi nhắc lại cuộc phỏng vấn của giáo hoàng dành cho tờ La Civiltà Cattolica, và hỏi ngài rằng Bergoglio có coi kinh nghiệm khi làm giám tỉnh dòng Tên là thất bại không. Ngài trả lời: “Giáo hoàng không coi đó là một sự thất bại”. Người ta có thể thực sự chấp nhận ý kiến này, vì chưa bao giờ có một giáo hoàng tự phê bình như ngài.
“Đó là một giám tỉnh khắt khe”, cha Ignacio giải thích. Ngài kể lại những gì xảy ra trong dòng Tên những năm 1970, tình huống mà cha Bergoglio phải đối diện và nghĩ rằng mình có trách nhiệm phải can thiệp. “Người ta chứng kiến một sự mất trật tự nào đó của thời hậu công đồng, có khuynh hướng thành lập các cộng đoàn nhỏ, đôi khi đòi một sự lật đổ mang tính thần học.” Bergoglio chống lại những chủ trương đó. Ngài cũng chấm dứt kiểu “sống trong những căn hộ nhỏ” mà vào thời đó nhiều tu sĩ dòng Tên coi như cách thức để hội nhập hơn nữa vào xã hội. Ngài muốn rằng tất cả sinh viên của dòng phải ở trong trường San Miguel, yêu cầu họ mang lại miếng cổ trắng của giáo sỹ trong một số trường hợp, “ngài đã loại một số giáo sư quá cấp tiến”. Ngài thuộc trường phái trật tự, chống lại những gì mà Vatican ở giai đoạn hậu công đồng coi như sự từ bỏ sớm các luật lệ.
Pérez còn nhớ vào thời độc tài, tướng Videla giận giữ về một bài viết đụng chạm đến vấn đề nhân quyền, nên ra lệnh tịch thu tất cả các ấn bản của một tạp chí dòng Tên, tờ báo của Trung tâm Nghiên cứu và Hành động Xã hội. Bergoglio chỉ thị mọi bài báo phải được trình cho ngài trước khi xuất bản. Cha del Viso nói “đó là một sự kiểm duyệt đề phòng, tôi đồng ý phải có một giới hạn nào đó trong thời điểm khẩn trương, nhưng cần phải xác định thời hạn.”
Quyết định của cha Bergoglio bỏ Đại học Salvador, do các tu sĩ dòng Tên thành lập và điều hành, cũng gây nên nhiều tranh cãi và hiểu lầm. Cơ sở này đang mang nợ nên Bergoglio hoàn toàn không muốn dòng Tên dính vào những vụ lộn xộn tài chính. Ngài tư nhân hóa nhà trường, nhượng lại cho một công ty thế tục, thậm chí còn cấm các giáo sư dòng Tên không được giảng dạy ở đây nếu không có phép tỏ tường. Chuyện này đã khiến ngài có nhiều đối thủ ngay trong nội bộ nhà dòng.
Theo cha Del Viso, trước khi ngài được bổ nhiệm làm giám tỉnh, đã có một cuộc thăm dò ý kiến các tu sĩ dòng Tên địa phương. “Tôi chống lại việc đề cử ngài, bởi vì ngài còn trẻ và chưa bao giờ làm bề trên một cộng đoàn địa phương, ngài mới chỉ coi sóc các tập sinh mà thôi. Nhưng việc chăm sóc các tập sinh với việc làm giám tỉnh là hoàn toàn khác nhau: tập sinh là những người trẻ, đón nhận họ một lần, hai lần, nếu không ổn thì trả họ về gia đình. Còn học cách sống trong một cộng đoàn tu sĩ với những người khó tính, điều này hoàn toàn khác.” Một bề trên phải biết nghệ thuật làm chủ những khó khăn. Chẳng hạn, cha Del Viso kể, trong cộng đoàn của ngài thời đó, có ba tu sĩ dòng Tên nghiện rượu, đến nỗi uống cả rượu lễ. Những tình huống như thế rất khó giải quyết.
Năm 1973, bề trên quyết định đặt cha Bergoglio làm giám tỉnh. “Chúng tôi kết luận rằng không còn ứng viên nào khác tốt hơn, ngài có một cái nhìn rõ ràng về những gì phải làm, và ngài có tinh thần đạo đức.” Đối với nhiều người, vị tu sĩ già kết luận, Bergoglio đã là một giám tỉnh tốt, nhưng một số khác tuy ít hơn, thì không cho như vậy. Vào cuối cuộc nói chuyện với chúng tôi, sau khi đã đề cập đến nhiều vấn đề khác của Giáo hội Achentina, cha Del Viso chào tôi và thêm: “Việc đức giáo hoàng không nhìn nhận những công việc trên là thất bại, không có nghĩa là ngài đã thành công.”
Thực vậy, sau khi đã đảm nhận trách nhiệm bề trên và tham dự HĐGM Mỹ Latinh năm 1979 tại Puebla, cha Jorge Mario Bergoglio bắt đầu một con đường lội ngược giòng khá ngoạn mục.
Từ 1980 đến 1986, ngài là viện trưởng đại học Máximo de San Miguel tại Buenos Aires, rồi sang Đức nghiên cứu luận án tiến sĩ, sau đó trở về nước dạy thần học tại Buenos Aires cho tới năm 1990. Bất thình lình các bề trên lại gởi ngài sang Córdoba làm cha giải tội cho các tu sĩ dòng Tên tại đây đồng thời linh hướng cho một giáo xứ bên cạnh tu viện. Thực sự đó là một cuộc lưu đày1. Lúc đó Bergoglio mới 53 tuổi. Ngài đã sống một mùa “khủng hoảng nội tâm sâu xa”, mà ngài đã ám chỉ khi chia sẻ với cha Spadaro của tờ La Civiltà Cattolica. Sau cuộc khủng hoảng đó là một khúc ngoặt. Năm 1992, hồng y Antonio Quarracino mời ngài về Buenos Aires làm giám mục phụ tá. Năm 1993, ngài làm tổng đại diện giáo phận, rồi năm 1997 làm tổng giám mục phó với quyền kế vị. Hồng y Quarracino qua đời và ngày 28/02/1998, Bergoglio làm tổng giám mục giáo phận thủ đô Achentina. Ba năm sau, đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đặt ngài làm hồng y.
Việc quản trị giáo phận Buenos Aires và vai trò chủ tịch HĐGM Achentina (từ 2005 đến 2011) đã đem lại cho Bergoglio những kinh nghiệm giúp ngài học được bài học là việc điều hành không phải là ra lệnh mà là phải lắng nghe, xây dựng sự đồng thuận, giải quyết khó khăn bằng cách dành thời gian lượng giá vấn đề thật chín chắn. Hành xử quyền bính có nghĩa là phải làm cho những người quanh mình được lớn lên, chứ không phải là múa máy chiếc gậy quyền lực. Khi là tổng giám mục Buenos Aires, ngài học cách loại bỏ cám dỗ đưa ra những quyết định đột xuất. Ngày nay một Bergoglio mới đã chia sẻ điều đó cách thằng thắn: “Tôi luôn cảnh giác với những quyết định đầu tiên, tức là điều đầu tiên đến trong suy tưởng của tôi […]. Thường thì quyết định đó là sai lầm. Tôi phải chờ đợi, trong lòng tôi phải thẩm định vấn đề, và phải có thời gian cần thiết.”
Cha Del Viso tóm kết như sau: “Khi làm tổng giám mục, châm ngôn của ngài là Companẽrismo [nghĩa là đồng hành], chứ không theo chủ nghĩa độc đoán.” Ngài thiết lập một bầu khí thân thiện với hàng giáo sỹ. “Nếu một linh mục lo lắng cho sức khỏe của bà Cố, ngài sẽ nói với linh mục đó: cha cứ đi thăm bà Cố đi, tôi sẽ coi xứ thay cho cha trong vòng ba ngày.”
Qua những cuộc gặp gỡ thân mật với các linh mục trong giáo phận, ngài cho thấy một lòng đạo đức sâu sắc, và ngài có chương trình khuyến khích các linh mục phải có một sự quan tâm đầy lòng thương xót đối với các vấn đề liên quan đến cuộc sống người tín hữu. Là tổng giám mục, ngài hoàn thiện tính nhạy bén cực kỳ của ngài đối với những vấn đề xã hội mà từ lâu ngài vốn quan tâm.
Ba mươi năm sau kinh nghiệm giám tỉnh dòng Tên, Bergoglio đã sẵn sàng để nhận ra điều này: “Thiên Chúa đã đưa cánh tay ra đón tôi mỗi khi tôi thất bại trên đường đời, ngài giúp đỡ tôi, đặc biệt là trong những giai đoạn khó khăn nhất […]. Tôi học từ từ, từng chút một.” Ở Buenos Aires, ngài phát triển ý nghĩa tự phê của mình. “Khi tôi đối diện với một khó khăn, tôi thường phạm sai lầm, tôi cư xử không tốt và tôi phải nhìn lại, phải xin lỗi. […] Điều đó có ích cho tôi, vì giúp tôi thông cảm những sai lầm của người khác.”
Trong những thách đố của một đô thị nhiều triệu dân, ngài học biết cách làm việc nhóm cùng với các giám mục phụ tá, qua việc tham dự các cuộc họp linh mục trong các khu xóm, qua việc lắng nghe các giáo viên trường công giáo, có một nửa học sinh trong thành phố học tại các trường này, qua việc đương đầu với xã hội chính trị - thường là qua các xung đột với chính quyền, nhất là với hai vợ chồng tổng thống Kirchner -, qua việc so lại mình trong bối cảnh đa văn hóa và trong sự gặp gỡ với những người Do Thái, Hồi giáo, các Kitô hữu thuộc các phong trào tin mừng.
Phanxicô không phải đến từ “mút cùng thế giới” như ngài tự nhận với chút tự nhạo báng khi phát biểu vào buổi tối ngài được bầu làm giáo hoàng. Phanxicô là giáo hoàng đầu tiên được sinh ra, lớn lên và sống trong một thành phố đô thị hiện đại. Mặc dù đến từ một đất nước xa xăm so với Âu châu, vị giáo hoàng Achentina là người duy nhất được nuôi dưỡng bằng một kinh nghiệm đầy hỗn độn, đầy kịch tính và phong phú của một thành phố to lớn nếu kể cả vùng ngoại ô lên tới 13 triệu người. Roncalli, Luciani, Wojtyla và Ratzinger đều được sinh ra trong những ngôi làng quê, và ngay cả quá trình hoạt động của các ngài, cũng không biết tới nhịp độ của một đô thị. Thành phố Cracovie của vị giáo hoàng tương lai Gioan Phaolô II hay Milan của vị giáo hoàng tương lai Phaolô VI đều là những khuôn mặt mờ nhạt so với một Buenos Aires với những nét tương phản đầy phức tạp và bạo lực.
Mặc dù những lời lẽ hùng biện mang tính vương đế của Moussolini, thì Roma vào giữa hai trận thế chiến, nơi mà thế kỷ trước trưởng thành vị giáo hoàng tương lai Piô XII vẫn mang dáng dấp tỉnh lẻ. Văn phòng quốc vụ khanh tòa thánh, nơi làm việc của Piô XII và Phaolô VI, là một văn phòng quan sát với mức độ trí thức tinh tế, nhưng chiều kích của một đô thị lại là chuyện khác.
Vào nửa sau của thế kỷ XX, một thành phố đô thị lớn là nơi dự báo cho tính toàn cầu hóa và chủ nghĩa cuồng vĩ (gigantisme) (nhất là trong những vấn nạn phải giải quyết), đó là một nơi pha trộn nhiều chủng tộc, văn hoá, niềm tin và lối sống khác nhau. Hình ảnh thực khác biệt. Ai đã từng sống trong những đô thị lớn đều biết nhịp độ trên các con tàu vượt đại tây dương không giống như nhịp độ trên những chiếc thuyền nan.
Khi làm tổng giám mục Buenos Aires, Bergoglio đã học biết cách xem xét một sự tục hóa giống với sự tục hóa của các đô thị lớn của Bắc bán cầu. “Trong cả nước, 87% dân chúng nhận mình là người công giáo, 9% thuộc hệ phái phúc âm, cha Guillermo Marcó, trước đây là tuỳ viên báo chí của ngài giải thích. Nhưng ở Buenos Aires, chỉ có 60% dân số nhận mình là công giáo, 12% đi lễ.” Lòng đạo đức bình dân được diễn tả qua các kênh khác: hàng triệu khách hành hương kính viếng đền thờ Đức Mẹ Luján hay tham dự các cuộc rước kiệu kính thánh Gaétan, “đấng bảo trợ cơm ăn và việc làm”. Nhưng tiến trình tự quyết trong việc lựa chọn tôn giáo và luân lý thì lại rất cấp tiến, mặc dù dĩ nhiên cũng có những sự khác biệt giữa thành thị và thôn quê.
Bản khảo sát do tổ chức CEIL/Conicet, một trung tâm nghiên cứu quan trọng nhất của Achentina, phổ biến năm 2013 cho biết 91% dân chúng tin vào Thiên Chúa, nhưng chỉ có 23% cảm thấy rằng cần có trung gian của tổ chức Giáo hội, trong khi 61% thích mối liên hệ trực tiếp với Thiên Chúa hơn. Lối sống đạo cá nhân được tỏ lộ nơi phần đông những người cầu nguyện hằng ngày tại nhà mình: 73% trong những thành phố lớn, 86% trong những thành phố nhỏ.
Trong số những người có trình độ học vấn ít là bậc tiểu học thì 60% những người được hỏi đều ủng hộ việc linh mục lấy vợ, và quá nửa cho rằng cần phải cho phép phụ nữ làm linh mục. Đối với câu hỏi việc quan hệ tình dục tiền hôn nhân có tốt hay không cho người nam và người nữ, câu trả lời quả là cho thấy những thay đổi đột biến tận nền tảng của văn hóa xã hội: hơn 87% chấp nhận, tỉ lệ áp đảo nơi các tín đồ Công giáo dưới 44 tuổi. 39% người Công giáo cho rằng đồng tính là một căn bệnh. Điều này giải thích lý do tại sao năm 2010 Achentina đã cho phép hôn nhân đồng tính, tổng giám mục Bergoglio mạnh mẽ chống lại quyết định này.
Nhưng vài năm trước đó, một đạo luật được thông qua tại Buenos Aires nhìn nhận các cặp sống với nhau không kết hôn, kể cả những cặp đồng tính, thì Bergoglio không chống đối, mặc dù có áp lực ngược lại từ phía Vatican và của cánh hữu theo công giáo. Vị cộng tác viên của ngài, cha Marcó, nhớ rất rõ: “Tôi đã trình với ngài: “Thưa đức cha, chúng ta đang sống trong một xã hội đa văn hoá, đây không phải là một bí tích, thì tại sao chúng ta lại chống đối?” và ngài không trả lời gì hết.
Cũng vào thời đó, HĐGM Ý, được giáo hoàng Ratzinger ủng hộ, đã huy động các tổ chức để ngăn chặn một dự án của chính quyền Prodi về việc nhìn nhận những cặp sống chung không kết hôn, và họ đã thành công.