Các giáo xứ bị che đậy

Từ Vatican đến Effretikon thuộc địa phận Zurich hết tám tiếng xe lửa. Giáo hoàng Phanxicô chỉ cần đi từ nhà ga Vatican (ngày nay đã biến thành một trung tâm thương mại độc quyền) là có thể đến một vùng đất cách hàng năm ánh sáng so với những gì mà các đấng bậc trong giáo triều Roma tưởng tượng. Tại Effretikon, cha xứ Công giáo là một phụ nữ. Bà không thể làm mọi việc, chắc chắn rồi, nhưng chính bà đang coi sóc các linh hồn.

Ngôi làng có 15.000 dân với những căn nhà hiện đại, chung quanh có khu rừng bao bọc. Xuống khỏi xe lửa, người ta bắt gặp nhà hàng Stazione, quán Aida, tiệm Pizza Pomodoro, tiệm bán thịt Tosoni. Một người phụ nữ Hồi giáo mang thai đang chậm rãi theo chiếc xe đạp ba bánh của đứa con gái tóc màu sáng.

Có hai nhà thờ, một của Tin lành và một của giáo xứ Công giáo mang tên giáo xứ thánh Martinô. Được xây dựng năm 1982, ngôi nhà thờ Công giáo thuộc loại cực kỳ hiện đại. Tường sơn toàn màu trắng, cháp chuông nhỏ bằng xi măng với những đường vạch trang trí. Nhà xứ giống như một trung tâm xã hội: có phòng họp, văn phòng, bảng thông báo, kệ sách, máy pha café. Có nhiều cửa sổ nên căn phòng tràn ngập ánh sáng, một bầu không khí hiếu khách.

Đó là nơi làm việc của bà Monika Schmid, sinh năm 1957, mặc quần jean màu đen, áo pull màu đen, sợi giây chuyền vàng ở cổ, chiếc nhẫn đơn sơ ở ngón tay, tóc nâu ngả màu vàng, cắt bom bê như rất nhiều phụ nữ khác phương Bắc, những người bước từ giai đoạn thanh niên sang trưởng thành mà không có giai đoạn chuyển tiếp. Bà coi sóc sáu ngàn tín hữu Công giáo, là một Gemeindeleiterin, tức là người điều hành giáo xứ. Cho dù từ này được sử dụng rộng rãi trong các nước nói tiếng Đức, nhưng các giám mục không ưa cách gọi này. Thực ra Vatican cũng chẳng ưa cách gọi đó, vì những thập niên gần đây Vatican đã cố gắng ngăn chặn hiện tượng này nhưng rốt cục đã phải nhượng bộ. Vì kiểu nói “điều hành” khiến các giám mục và Vatican bối rối. Có lẽ vì thế mà người ta thay thế bằng kiểu nói mang tính hành chánh nhất: “phụ trách giáo xứ”.

Nhưng đó là chỉ thay đổi tên gọi còn thực tế thì chẳng thay đổi gì. Monika Schmid đã theo học ngành sư phạm tôn giáo và thần học tại trường Luzerne ở Salzbourg. Hiện nay bà đang theo một lớp thần học tâm linh liên tôn về mối tương quan giữa thần bí Do Thái và thần bí Hồi giáo. Bà đã đến đây trong vai trò phụ tá công tác mục vụ, rồi năm 2001, bà nhận chức điều hành giáo xứ tạm thời, sau đó đã được nhận bài sai chính thức. Bài sai này đã chính thức uỷ thác giáo xứ cho bà, mặc dù chức danh chánh xứ vẫn thuộc về một linh mục – trừ khi không có linh mục nào. Trong giáo phận, có khoảng bốn chục giáo xứ, nhưng có đến hai phần ba là được điều hành bởi giáo dân.

Dầu vậy, giám mục thời đó, đức cha Amadeus Grab, đã không muốn một người phụ nữ hướng dẫn các tín hữu. “Khi tranh luận về việc này, giáo dân trong xứ cứ lập đi lập lại với giám mục rằng họ muốn tôi, bà Monika Schmid kể. Sau bốn mươi lăm phút, giám mục trả lời rằng ông không muốn đi ngược lại với ước muốn của họ. Hơn nữa, trong lịch sử, tại Thuỵ Sĩ, chính cộng đoàn giáo xứ đề cử cha xứ của họ.”

Cũng như tại các nước khác, ở đây khủng hoảng ơn gọi là rất trầm trọng. Giống như ở Ý, các giám mục đã phải thiết lập hình thức gọi là tổ hợp các giáo xứ, tức là một số giáo xứ được gom lại và giao cho một nhóm nhỏ gồm linh mục, giáo dân, nữ tu điều hành. Hệ thống này tiêu hao năng lượng của các cha xứ vốn rất ít ỏi rồi, bởi vì các ngài phải liên tục chạy từ giáo xứ này sang giáo xứ khác để dâng lễ và giải tội. Giải pháp này chỉ che đậy khủng hoảng chứ chưa giải quyết được gì. “Các linh mục trong vùng đã 92 tuổi, 91 tuổi và 87 tuổi, - bà Minika Schmid nói. Nhờ những người quen biết, một số linh mục khác đến dâng lễ hai lần mỗi tháng và vào dịp Giáng Sinh, Phục Sinh.” Hai trăm năm mươi ngày còn lại, chính bà làm cha xứ.

Ngày Chúa nhật, bà mặc áo alba trắng, mang giây Stola theo màu phụng vụ ngày lễ, dẫn đoàn rước gồm năm em ca đoàn (ngày lễ lớn thì có tới ba chục em) đi vào, rồi bà tiến lên bàn thờ cử hành “phụng vụ Lời Chúa”. Phần đầu của nghi lễ cũng giống như các thánh lễ bình thường. Tín hữu đọc các bài đọc, Monika và vị phụ tá mục vụ - cũng là một phụ nữ - thay nhau đọc bài Tin Mừng và giảng. “Tôi cũng giảng ngay cả khi một linh mục chủ tế thánh lễ, nhưng giám mục hiện nay, đức cha Hunder cấm điều đó.”

Trong phần phụng vụ Thánh Thể, chỉ thiếu phần truyền phép. Thay vào đó, bà Monika lấy bình đựng Mình Thánh và cho giáo dân rước lễ. Nghi lễ cũng được kết thúc như lễ của các linh mục. Đọc kinh Lạy Cha, ban bình an… “Tôi cử hành cả bí tích rửa tội, bà Monika thêm. Đó là một bí tích, nhưng trong trường hợp khẩn cấp, bất cứ người Kitô hữu nào cũng có thể làm, và chúng tôi đã có phép của giám mục giáo phận. Tôi cử hành nghi lễ an táng, tôi phụ trách phụng vụ trong các nhà hưu dưỡng, các giờ giáo lý trẻ em và huấn luyện người trưởng thành.” Giải tội thì người giáo dân không được làm, nhưng bởi vì người ta không thể trả lời cho một tín hữu đang lo lắng hay đang gặp nghi ngờ rằng hãy trở lại đây sau vài tuần nữa, khi có linh mục đến, như trường hợp các nhà lưu xá, nên bà cũng làm luôn công việc mà người ta gọi là đồng hành mục vụ. “Chúng tôi khuyên bảo họ, chúng tôi giúp những người đang gặp khó khăn. Tôi luôn cho họ địa chỉ của một linh mục với ngày hẹn rõ ràng. Tôi cũng phải giúp các cặp hôn nhân, vì khủng hoảng đời sống hôn nhân là đề tài như cơm bữa. Người ta cần nói chuyện, đôi khi họ chia sẻ: “Tôi đang muốn xưng tội.” Tôi trả lời họ: “Bạn có muốn cầu nguyện không?” Chúng ta có thể cùng nhau đọc kinh Thương Xót, tôi nói với họ rằng họ được Thiên Chúa đón nhận và họ đã làm rất tốt khi để lại trước Thiên Chúa những gì họ mang trong lòng. Điều đó dường như cũng tương đương với việc xưng tội, nhưng giám mục không thích như thế.”

Điều thường làm cho các tín hữu lo lắng là “vợ chồng căng thẳng với nhau, các bà mẹ nóng tính hay nổi giận, khó khăn trong việc đón nhận cái chết của người chồng hay người vợ, mặc cảm thiếu tự tin, sợ không thành công”. Điều đó làm tôi nhớ lại hình ảnh bệnh xá sau trận chiến mà giáo hoàng Phanxicô đã nói tới khi ngài đề cập đến trách nhiệm trước tiên của Giáo hội. Giúp đỡ mà không đòi hỏi phải thử máu hay xem chứng minh nhân dân của họ. Ít khi gặp những thứ tội theo nghĩa cổ điển nơi những người tín hữu ngày nay.

Giáo xứ này chủ yếu được điều hành bởi phụ nữ. Ngoài Monika, còn có một bà làm phụ tá và một chị giáo lý viên. Rồi còn có cả một chị nhân viên hành chánh và một chị đặc trách công tác xã hội cho các dự án mùa hè. Người đàn ông duy nhất có trách nhiệm phục vụ cộng đoàn cũng là một giáo dân. Anh là ca trưởng, người gốc Sardania, tên là Stefano Lai. Giáo hữu ở đây hài lòng về những điều đó. Những câu hỏi mà phần còn lại của Giáo hội coi như những vấn nạn gai góc, - chẳng hạn các cặp đồng tính – thì đã được giải quyết êm thắm tại nhiều giáo xứ ở Thuỵ Sĩ. Monika Schmid tránh né chủ đề này, nhưng ai cũng biết là trong nhiều thành phố, có những linh mục và giáo dân được giao trách nhiệm phụ trách một giáo xứ đã âm thầm chúc lành cho các cặp hôn nhân đồng tính trong nhà thờ.

Roma thì ở xa, và cũng chậm chạp như trường hợp Giáo hội với vấn nạn phụ nữ từ năm mươi năm nay. Năm 1965, hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes của công đồng Vatican II là dấu hiệu đầu tiên của việc nhận thức vấn đề. Các nghị phụ công đồng đã coi như đây là một dấu chỉ thời đại, việc phụ nữ được tự do quyết định cách sống của mình và được tiếp cận “một nền giáo dục và một văn hóa ngang bằng với những gì người ta dành cho đàn ông”. Văn kiện nhấn mạnh, phụ nữ “đòi hỏi, ở đâu mà họ chưa nhận được, sự bình đẳng với nam giới, không chỉ về nguyên tắc mà cả trong thực tế”.

Lần đầu tiên, giáo hoàng Phaolô VI đã mời 23 phụ nữ tham dự các cuộc tranh luận trong công đồng với tư cách “dự thính”, gồm 13 giáo dân và 10 nữ tu. Từ đó, người ta chứng kiến sự hiện diện của phụ nữ ngày càng nhiều trong lãnh vực giáo dục huấn giáo tại các giáo xứ và, ở nước ngoài, phụ nữ còn điều hành các uỷ ban cấp giáo phận. Nhưng trong những cơ quan ở cấp cao hơn, nơi mà người ta đưa ra các quyết định, thì Giáo hội vẫn là của nam giới. Việc chịu chức phó tế và linh mục vẫn bị cấm một cách hệ thống đối với nữ giới.

Giáo hoàng Gioan Phaolô II là một người cổ động hăng hái cho phong trào “thiên tài phụ nữ”. Ngài cho rằng đặc sủng tin tưởng phó thác là một ơn riêng của người phụ nữ. Thực vậy, Thiên Chúa đã “trao người đàn ông cho họ […] ngay cả trong những hoàn cảnh có tình trạng phân biệt đối xử trong xã hội mà họ đang sống”. Trong tông thư Mulieris dignitatem (Phẩm giá Phụ nữ) ban hành năm 1988, giáo hoàng Wojtyla đã làm nổi bật vai trò tích cực và quan trọng của phụ nữ trong việc tổ chức các cộng đoàn Kitô giáo đầu tiên, rồi qua các thế kỷ, việc lưu truyền đức tin được thực hiện nhờ các thánh nữ tử đạo, các thánh nữ, các thánh đồng trinh và các bà mẹ trong gia đình. Ngài quả quyết rằng thiên tài phụ nữ phải được thể hiện qua “việc họ nhạy cảm đối với người đàn ông trong mọi hoàn cảnh, bởi vì đó là một người đàn ông!”

Trong tài liệu Phong chức linh mục năm 1994, giáo hoàng Gioan Phaolô II đã lặp lại một cách long trọng: “để giải toả mọi nghi ngờ về vấn nạn rất lớn liên quan đến ý định của chính Thiên Chúa khi thành lập Giáo hội, tôi, trong sứ mạng củng cố anh em của mình, tuyên bố rằng không có quyền phong chức linh mục cho phụ nữ.” Wojtyla đã muốn đóng dấu quyền bất khả ngộ của giáo hoàng lên quyết định phủ nhận này. Hồng y Ratzinger đã từng ngăn cản ngài và góp ý nên sử dụng một công thức nhẹ nhàng hơn: “tôi tuyên bố rằng […] lập trường này phải được mọi tín hữu trong Giáo hội tuân giữ một cách dứt khoát.”

Mười năm sau, trong lá thư gởi các giám mục về sự cộng tác của người nam và nữ trong Giáo hội và trong thế giới, hồng y Ratzinger đã nói rằng cần phải để cho phụ nữ “đảm nhận các trách nhiệm nhờ đó họ có thể gây ảnh hưởng lên vấn đề chính trị trong các quốc gia”. Tuy nhiên trong Giáo hội, Ratzinger cũng như Wojtyla đều hạn chế vai trò của phụ nữ vào vai trò như của Đức Maria thành Nagiarét. Wojtyla khẳng định rằng việc Đức Maria không lãnh nhận sứ vụ của các tông đồ cũng như không lãnh nhận tác vụ linh mục cho thấy rằng việc không truyền chức linh mục cho phụ nữ không phải là một sự phân biệt kỳ thị, nhưng là “trung thành cẩn thủ một quy định phải được gán cho sự khôn ngoan của Thiên Chúa”. Ratzinger còn thêm: “Việc chỉ truyền chức linh mục cho nam giới tuyệt đối không ngăn cản phụ nữ đạt tới trọng tâm đời sống Kitô hữu.”

Điệp khúc được Vatican lặp đi lặp lại là chức linh mục không phải là một quyền bính, nhưng là một sự phục vụ. Nhiều nhà thần học nam cũng như nữ trả lời, nếu đúng như vậy, thì chức này phải được mở cửa cho mọi người nam cũng như nữ. Nhà nữ thần học Lilia Sebastini lưu ý rằng rất nhiều phụ nữ không được nhận vào chức phó tế và linh mục chỉ vì phái tính của họ, do đó “chắc chắn họ bị loại khỏi mọi công tác điều hành và huấn quyền”, và có rất ít ảnh hưởng, cho dù họ quan trọng như thế nào. “Họ là những người không được biết đến.”

Tại giáo triều, chỉ có hai người phụ nữ giữ vị trí điều hành: Nữ tu Niccoletta Spezzati, phó tổng thư ký Thánh bộ Tu sĩ, và Bà Flaminia Giovanelli, phó tổng thư ký Hội đồng Công lý và Hòa bình. Đức Bênêđictô XVI cho thấy một ngăn trở sẽ còn được dựng lên bao lâu quan điểm truyền thống vẫn còn ưu thế: “Theo giáo luật, quyền đưa ra quyết định có tính ràng buộc về mặt pháp lý là thuộc về thánh chức.”

Giáo hoàng Phanxicô mở ra một thay đổi. Vài tháng sau khi được bầu, ngài đã gởi một tín hiệu rõ ràng: “Cần phải mở rộng những khoảng không gian để phụ nữ có một sự hiện diện sâu sắc hơn trong Giáo hội. […] Nơi đâu cần có những quyết định quan trọng thì ở đó cần đến thiên tài phụ nữ.” Cần phải suy nghĩ, ngài nói, về vai trò của người phụ nữ “cả những nơi nào thể hiện quyền bính trong các lãnh vực khác nhau của Giáo hội2”. Chưa có giáo hoàng nào đã trình bày một ý tưởng như thế.

Hồng y Kasper nghĩ rằng người ta có thể để cho phụ nữ được tham dự nhiều hơn vào các Thượng HĐGM và chắc chắn rằng, trong tương lai, phụ nữ có thể được giao cho việc điều hành các Uỷ ban giáo hoàng về giáo dân, gia đình, văn hoá, truyền thông xã hội, và tái loan báo tin mừng.

Giáo hội theo cách nghĩ của vị giáo hoàng người Achentina là một Giáo hội rõ ràng mang tính nữ giới – một đề tài mà ngài hay nói tới. “Tôi đau khổ - tôi nói thực đó – khi nhìn thấy trong Giáo hội hay trong một số tổ chức của Giáo hội, vai trò phục vụ là vai trò của tất cả chúng ta hay phải là của chúng ta, nhưng vai trò phục vụ của người nữ lại bị tuột xuống vai trò đầy tớ [servidumbre].” Kiểu nói thật cứng cỏi. Khi phát biểu tại hội nghị quốc tế kỷ niệm 25 năm ban hành tông thư Phẩm giá Phụ nữ, với sự tham dự của hơn 100 phụ nữ là thành viên các tổ chức Công giáo đến từ 25 quốc gia, giáo hoàng Phanxicô đã dứt khoát lên án tình trạng đó. “Khi tôi thấy phụ nữ làm những công việc của người đầy tớ, thi tôi thấy rằng người ta chưa hiểu rõ những gì người phụ nữ phải làm.” Vấn đề về sự hiện diện của phụ nữ trong Giáo hội và việc đánh giá lại vai trò của họ là điều ngài rất quan tâm. Ngài nói rõ điều đó: Giáo hội không thể thiếu người phụ nữ, và “Giáo hội không thể là chính mình nếu không có phụ nữ và vai trò của họ trong Giáo hội”.

Nhưng người ta vẫn không đụng đến vấn đề phong chức linh mục cho phụ nữ. “Cánh cửa này đã đóng” ngài nói như thế khi qui chiếu đến giáo hoàng Gioan Phalô II, cho thấy có một nghịch lý nào đó đi ngược lại với ý tưởng về quyền của phụ nữ, mà ngài gọi là “chủ nghĩa trọng nam được mặc váy”.

Giáo hoàng Phanxicô sẵn sàng leo lên con đường dốc. Việc bổ nhiệm phụ nữ vào những vị trí có quyền quyết định không chỉ gặp phải những chống đối ngấm ngầm từ phe bảo thủ trong guồng máy giáo quyền, nhưng việc đó còn khiến ngài gặp những chỉ trích của các nhà nữ thần học gia đòi hỏi một sự bình đẳng hoàn toàn, họ cho rằng việc dành chức linh mục cho nam giới là điều không thể biện minh được. Chiến lược của ngài là: “Không thể hiểu được một Giáo hội mà trong đó không có những người phụ nữ […] giữ vai trò tích cực”. Nhưng khi ngài khẳng định rằng “chúng ta chưa có một nghiên cứu sâu xa về thần học phụ nữ. […] Cần phải làm điều đó1” thì đã gây ra những phản ứng trái chiều.

Tháng 11/2013, các tham dự viên một cuộc gặp gỡ quốc tế đã nêu lên những ngờ vực. Bà Marti Jewell thuộc đại học Dallas phát biểu: “Tôi không chắc là cần phải có một nền thần học về phụ nữ, nhất là thần học đó lại do đàn ông viết ra”, bà còn thêm rằng “chẳng có ai nói đến một nền thần học về đàn ông”. Vicki Thorn, sáng lập tổ chức Projet Rachel, một chương trình hòa giải và chữa lành sau phá thai dành cho đàn ông và đàn bà, kết luận: “Người ta tiếp tục bàn về phụ nữ, làm như thể mới khám phá ra họ2.”

Nhận định của bà là hợp lý. Theo quan điểm lịch sử, Giáo hội Công giáo được sinh ra từ một cơ cấu mang tâm thức phụ hệ, hoàn toàn dành cho nam giới, guồng máy của cơ cấu đó vẫn còn mang đậm tính trọng nam. Cách đây vài năm, tờ Osservatore Romano xuất bản một phụ trang về phụ nữ, thế là một số cơ quan tại giáo triều chế nhạo đùa cợt cho rằng đó là một trang tư vấn cho việc bếp núc và làm vườn.

Ngay từ năm 1981, hồng y Carlo Maria Martini nêu lên tại hội nghị giáo phận Milan những câu hỏi mà đến nay vẫn chưa có câu trả lời: phụ nữ thắc mắc “tại sao người ta đồng hóa hình ảnh Thiên Chúa với hình ảnh do nền văn hóa trọng nam đưa ra? Có chỉ dẫn nào cho thấy một ngôn ngữ toàn cầu, kể cả phụng vụ, mà không loại trừ phụ nữ ra khỏi bản văn soạn thảo? Tại sao câu trả lời cho vấn nạn về việc đề cao giá trị thân xác, đề cao tình yêu thể lý, vấn nạn sinh sản có trách nhiệm lại ít thích hợp như thế? Tại sao sự hiện diện của phụ nữ, mặc dù rất quan trọng trong Giáo hội, lại không được xác định trong cơ cấu Giáo hội1?” Giancarla Codrignani, nhà bình luận Công giáo và cựu Đại biểu Quốc hội, đã gởi những vấn nạn này của hồng y Martini đến giáo hoàng Phanxicô.

Năm 1995, nữ tu Ivone Gebara, người Braxin thuộc hội dòng Đức Bà, viện trưởng viện thần học Recife trong 20 năm, và đã nhiều năm hoạt động tại các khu dân nghèo, đại diện cho tiếng nói mạnh mẽ nhất của thần học Công giáo về phụ nữ tại Mỹ Latinh, đã bị Thánh bộ Giáo lý Đức tin buộc ngưng lên tiếng trong hai năm: cấm dạy học, xuất bản, phát biểu công khai và trả lời phỏng vấn.

“Làm sao giáo hoàng Phanxicô lại không biết đến sức mạnh của phong trào nữ quyền cũng như tiếng nói của phong trào này qua thần học nữ quyền Công giáo từ hơn 30, 40 năm nay?” người nữ tu 70 tuổi này tự hỏi. Bà nhắc lại rằng, trong những phân khoa chính của ngành thần học, có rất nhiều bài viết của các tác giả nữ không được in trong tập tài liệu nghiên cứu cho các linh mục tương lai, và không được đưa vào tài liệu huấn luyện họ. “Thẩm quyền trong Giáo hội không cho các chủng sinh được quyền trích các bài viết của tác giả nữ làm tham khảo, bởi sản phẩm trí thức của phụ nữ vẫn được coi như không phù hợp với suy tư thần học của nam giới.” Đó không phải là lý do duy nhất. Bởi vì thần học nữ giới “xuất hiện như một mối đe dọa đối với quyền bính của nam giới hiện đang thống trị trong Giáo hội”1.

Được khích lệ bởi tinh thần cởi mở đã được đức Phanxicô nhiều lần cho thấy, một số nữ giáo dân cố gắng đi con đường mới. Mùa Thu 2013, một nhóm các nhà thần học nam và nữ Âu châu và Mỹ châu đã xuất bản một lời kêu gọi bổ nhiệm phụ nữ làm hồng y, viện lý do là cho đến cuối thế kỷ XIX chức hồng y cũng có thể trao cho cả giáo dân: giáo hoàng có thể hủy bỏ khoản giáo luật hiện nay đòi hỏi việc phong chức linh mục như điều kiện để được tham dự hồng y đoàn. Ý tưởng này đã được đề nghị vào năm 2011 bởi tờ báo America của các tu sĩ dòng Tên Hoa Kỳ, rồi được lấy lại bởi biên tập viên Lucetta Scaraffia của tờ Osservatore Romano sáu tháng sau khi đức Bergoglio được bầu làm giáo hoàng: “Đây có thể là một cuộc cách mạng có khả năng làm rung chuyển quan niệm thiếu tin tưởng và không quan tâm mà một số lớn giáo sỹ đặt ra đối với phụ nữ, kể cả nữ tu và nữ giáo dân.” Nữ sử gia Giáo hội này, tác giả của phụ trang trong tờ Osservatore Romano về phụ nữ, nhìn nhận rằng các giáo hoàng Gioan-Phaolô II và Bênêđictô XVI đã động viên phải lưu ý đến sự hiện diện của phụ nữ trong Giáo hội, nhưng “kết quả còn khiêm tốn”.

Điều nghịch lý là trong các tổ chức của Vatican về dòng tu, giáo dân, gia đình và sức khỏe - những lãnh vực mà sự hiện diện của phụ nữ là ưu thế -, phụ nữ vẫn hoàn toàn vắng mặt ở các vị trí điều hành. Dường như giáo hoàng Phanxicô hứa sẽ can thiệp bằng cách đặt phụ nữ vào các vai trò điều hành trong lãnh vực này. Ngược lại, giả thiết về nữ hồng y đã bị Maradiaga, chủ tịch Hội đồng Hồng y Tư vấn loại trừ: “Một nữ hồng y ư? tôi không tin điều đó. Không được giáo sỹ hóa vai trò phụ nữ trong Giáo hội. Nâng phẩm giá của họ hơn nữa thì được.”

Nâng cao phẩm giá của họ, nhưng làm thế nào đây? bà Maria Voce, chủ tịch phong trào Focolari, gợi ý là phải bố trí phụ nữ một cách có hệ thống vào các “tổ chức tư vấn, suy tư và quyết định, những tổ chức này đang phát triển trong một Giáo hội mới”. Theo bà, nên có một hội đồng giáo dân, - gồm cả nam lẫn nữ - đóng vai trò cố vấn bên cạnh Hội đồng Tư vấn của 8 hồng y cố vấn cho giáo hoàng. Trong tương lai, theo bà, các cuộc họp chuẩn bị mật nghị cũng có thể mở rộng để ngoài các hồng y, còn có sự tham gia của giáo dân nam cũng như nữ, các nhân vật đang “giữ một vai trò quan trọng trong Giáo hội và có thể đóng góp kinh nghiệm của họ1”. Bà chủ tịch phong trào Focolari không coi vấn đề phong chức linh mục cho phụ nữ là “không thể vượt qua”, và nghĩ rằng “có thể” trong tương lai cánh cửa phòng họp mật nghị mở ra đón tiếp các bề trên dòng tu và chủ tịch các hiệp hội Công giáo để việc bầu giáo hoàng có tính cách “tông đoàn”2 hơn.

Trong khi cuộc tranh luận về những vấn đề như thế đang ghi dấu năm đầu tiên của giáo hoàng Phanxicô, thì tại nước Anh, Giáo hội Anh giáo trong hội nghị ngày 20/11/2013 đã cho phép phụ nữ được làm giám mục. Với số phiếu 378 thuận, 8 chống, và 25 không ý kiến. Giáo hội Anh giáo đã cho phép phụ nữ làm linh mục từ 21 năm trước đó.

Tại Effretikon, bà Monika Schmid, người phụ trách giáo xứ nhỏ tại Thuỵ Sỹ, cho tôi biết nếu một ngày nào đó, bà hỏi ý kiến giáo dân có muốn một nữ linh mục không, thì ba phần tư trong họ sẽ trả lời là muốn. Đặc biệt giới trẻ không thể hiểu được sự loại trừ này. Nếu bà được phép thưa chuyện với giáo hoàng Phanxicô, thì bà sẽ thưa: “Xin Đức thánh cha hãy lắng nghe phụ nữ, và tránh xa cái truyền thuyết không thể chấp nhận được, cho rằng có các lý do thần học để không chấp nhận phụ nữ làm linh mục.” Giấc mơ của bà là khi bà về hưu, Vatican sẽ mở cửa ít là cho phụ nữ lãnh chức phó tế. Khi đức Phanxicô được bầu làm giáo hoàng, bà Monika rất hài lòng, “nhưng hố ngăn cách giữa người dân và cơ chế vẫn còn sâu. Tôi muốn có một diễn đàn công khai, để nói cho ngài biết ở dưới thấp này chúng tôi đang sống như thế nào”.

Điểm mấu chốt là khủng hoảng ơn gọi giáo sỹ. Giáo xứ là một sáng kiến lớn của Kitô giáo: một lãnh thổ, một nhóm giáo dân, một người lãnh đạo tinh thần trực tiếp với họ. Cơ cấu đó từ nhiều thế kỷ nay đã nâng đỡ tổ chức Giáo hội Công giáo, nay đang sụp đổ do thiếu ơn gọi một cách thê thảm. Tại Hoa Kỳ và Bắc Âu, người ta phải bán nhà thờ. Trong tất cả các quốc gia phát triển, các giáo xứ qui tụ lại với nhau, do đó mối liên kết giữa linh mục và cộng đoàn cứ xa dần. Tại các nước thế giới thứ ba, nhiều giáo xứ rộng lớn và dân ở rải rác đến nỗi trong nhiều tháng trời con chiên không nhìn thấy linh mục.

Trong viễn cảnh tình trạng khủng hoảng ơn gọi này, vấn đề truyền chức linh mục cho phụ nữ sẽ làm thay đổi diện mạo. Nếu trong những năm 1970 vấn đề là quyền bình đẳng, và sang thế kỷ XXI, đó vẫn còn là một phần của vấn đề, thì khi nhìn theo quan điểm về sự sống còn của cơ cấu lãnh thổ trong thể chế Giáo hội, vấn đề sẽ hoàn toàn khác. Đây không còn chỉ là một vấn nạn chủ quan, nhưng là một vấn đề khách quan liên hệ đến cách thức tổ chức cộng đoàn Kitô giáo trong tương lai.

Trong khi tại Roma, hai triều đại giáo hoàng vừa qua đã đặt rào cản không cho phép phụ nữ và giáo dân được giữ vai trò điều hành các giáo xứ, thì chính những nguồn lực này đang giảm thiểu dần. Nước Đức luôn là nơi thử nghiệm tiên phong của thế giới Công giáo. Từ vài năm nay, người ta ghi nhận có một sự giảm thiểu số lượng lẫn chất lượng trong việc tuyển dụng giáo dân làm “trợ tá mục vụ”. Linh mục thì vẫn thiếu, số giáo dân sẵn sàng đảm nhận gánh nặng trách nhiệm mục vụ cũng bắt đầu hiếm dần. Đối với phụ nữ cũng vậy. Tại Thuỵ Sỹ, nơi các giáo xứ tuyển mộ người có bằng cấp thần học từ nước Đức, hiện nay “cũng khó tìm được một nữ trợ tá mục vụ, không còn nhiều khả năng lựa chọn như cách đây 30 năm, bà Monika Schmid giải thích. Chỉ có những người được đào tạo ở mức trung bình. Thời của tôi, ở Đại học Lugano, chúng tôi đã từng là một nhóm khá đông phụ nữ hăng hái với thần học nữ quyền. […] chúng tôi đọc sách, tranh luận về những bài viết, nghiên cứu kinh thánh. Ngày nay chỉ thấy những người dễ tin mà thôi.”

Một thực tế là các nhà dòng nữ trống trơn, đây là vấn đề gai góc cho Giáo hội trên toàn thế giới. Số nữ tu và trinh nữ thánh hiến giảm rất nhanh. Năm 2001, có 792.317 nữ tu, đến 2011 chỉ còn 713.206: một sự chảy máu mà việc gia tăng ơn gọi ở Phi châu và Á châu không quân bình lại được.

Cứ ba tu sĩ thì có một người thuộc Phi châu hoặc Á châu, đó là lý do khiến nhiều hội dòng tìm ơn gọi từ thế giới thứ ba để trẻ trung hóa các tu viện tại Âu châu. Một thứ “buôn bán tập sinh” đã từng bị đức Phanxicô chỉ trích.

Triều đại giáo hoàng của đức Bergoglio hướng đến việc thay đổi, nhưng không ai có thể nói trước hình thức mới sẽ như thế nào. Đức Bênêđictô XVI đã để lại cho vị giáo hoàng Achentina mối xung khắc giữa Tòa thánh với Hội đồng Bề trên Cao cấp các dòng nữ tại Hoa Kỳ, một tổ chức quan trọng qui tụ số lượng đông đảo nhất các hội dòng nữ tại Hoa Kỳ. Các nữ tu này đã bị đặt vào tầm nhắm của Vatican từ hơn mười năm nay do thái độ phê phán của họ đối với vấn đề chỉ dành chức linh mục cho nam giới, về lập trường của họ đối với vấn đề phá thai, đồng tính, ngừa thai và những gì liên hệ đến tính tối thượng của Giáo hội Công giáo so với các hệ phái Kitô giáo khác.

Năm 2012, dưới triều giáo hoàng Ratzinger, tòa thánh đã phổ biến một bản tường trình về Hội đồng Bề trên Cao cấp các dòng nữ Hoa Kỳ, tố cáo họ theo “chủ nghĩa nữ quyền cực đoan”, có những điểm giáo lý không chính xác, đánh mất cảm thức về Giáo hội, có những lập trường không phù hợp về vấn đề phái tính và có nguy cơ “bẻ cong niềm tin vào Đức Giêsu và vào Chúa Cha yêu thương của chúng ta”1. Thánh bộ Giáo lý Đức tin quyết định bổ nhiệm một đại diện với nhiệm kỳ 5 năm để duyệt lại những quy chế của tổ chức các nữ tu Hoa Kỳ, kiểm soát các sáng kiến và sách báo của họ, nhằm đặt họ vào “giáo huấn của Giáo hội và kỷ luật của Giáo hội”. Vatican còn tuyên bố sẽ điều chỉnh lại chương trình đào tạo của họ. Các thuyết trình viên tại các sự kiện do Hội đồng này tổ chức phải được chấp thuận bởi vị đại diện của Vatican. Đây là một sự điều khiển từ xa có bài bản.

Các nữ tu phản ứng, cho rằng những cáo buộc đó là “không có nền tảng và có khả năng hủy hoại việc theo đuổi sứ mạng của họ”. Từ đó, liên tục có các cuộc thương lượng giữa vị đại diện Vatican, tổng giám mục Peter Sartain, và các ban ngành của hiệp hội trên. Quan điểm của các nữ tu – theo vị nguyên chủ tịch, nữ tu Pat Farrel – là, về vấn đề tính dục, “giáo huấn và cách giải thích giáo lý không phải là những điều cứng ngắc không thể thay đổi. […] Cần phải không ngừng viết lại những điều đó khởi đi từ những nguyên tắc căn bản. Là tu sĩ, hằng ngày chúng tôi phải tiếp xúc với những phụ nữ bị gạt ra bên lề xã hội. […] Các giáo sỹ không trải qua những ngày bên cạnh những kẻ vô gia cư, còn chúng tôi những người nữ tu, thì có”.

Tiến trình phản đối các nữ tu đó vẫn tiếp tục. Sau khi được bầu làm giáo hoàng, đức Phanxicô đã gặp bộ trưởng Thánh bộ Giáo lý Đức tin, hồng y Gerhard Muller, trước khi châu phê những nguyên tắc hướng dẫn đã được ban hành từ thời đức Bênêđictô XVI. Ngài lưu ý vị tân chủ tịch Hội đồng các dòng nữ Hoa Kỳ, nữ tu Florence Deacon rằng “không thể có một tu sĩ nam hay nữ mà không đồng cảm hợp nhất với Giáo hội”, điều đó đòi hỏi họ “phải trung thành với các giáo huấn của Giáo hội”.

Xung đột giữa Vatican và Hội đồng các dòng nữ Hoa Kỳ, đại diện cho 80% trên tổng số 57.000 nữ tu tại Hoa Kỳ, khó hòa hợp với cung cách của vị giáo hoàng Achentina. Về vấn đề đồng tính và phá thai, các nữ tu Hoa Kỳ chấp nhận một lập trường không phải theo ý thức hệ-giáo lý mà là theo tinh thần mục vụ, gần với cách cư xử của đức Phanxicô hơn là lập trường cứng ngắc của đức Ratzinger. Vẫn còn cái nút thắt rắc rối cần được tháo gỡ.

Việc tấn công cách rốt ráo đến vai trò phụ nữ trong Giáo hội cũng là một bước căn bản của giáo hoàng Bergoglio. Cơ cấu Giáo hội vốn tập trung vào ưu thế dành cho giáo sỹ nam giới đang dần dần sụp đổ. Ở buổi bình minh của thiên niên kỷ thứ ba, câu hỏi được đặt ra cho Giáo hội Công giáo là: đâu là diện mạo các cộng đoàn tín hữu trong tương lai? Còn mang tính thể chế hóa một cách mạnh mẽ nữa không, hay sẽ uyển chuyển hơn? Hoặc sẽ có một hình thức tổ chức nối kết giữa những yếu tố cần thiết cho sự hiệp nhất và sự uyển chuyển của các kinh nghiệm.

Một ngày Chúa nhật, khi đi ngang sông Tibere, giáo hoàng Phanxicô có thể sẽ tham dự một thánh lễ hơi khác thường cử hành trong một căn lều trên đường Ostiense. Bàn thờ là một chiếc bàn phủ khăn có viền thêu, có bánh xe để dễ di chuyển. Một bình hoa, một thánh giá nhỏ bằng gỗ đặt ở giữa, cạnh đó dựng một lá cờ hòa bình bảy sắc cầu vồng, hai chén lễ đựng rượu màu vàng nhạt, và hai giỏ bánh sẵn sàng để cử hành thánh lễ. Ánh sáng mặt trời lùa qua những cửa số phía sau.

Một bạn trẻ, khuôn mặt để râu, đệm đàn ghita và hát: “Giêsu đã đến ở với chúng ta… Alleluia… Ngài sẽ cất khỏi chúng ta mọi sợ hãi”. Một phụ nữ mặc áo pull đến bên bàn thờ đọc kinh sám hối. Một chị mặc áo khoác đọc bài trích sách ngôn sứ Isaia, một bà khác, mặc áo vét len, đọc đoạn trích thư thánh Phaolô gởi giáo hữu Corintô. Rồi một phụ nữ, mặc áo khoác, lên đọc bài Tin Mừng.

Từ những năm 1970, tại số 152 đường Ostiense, nơi đặt trụ sở của cộng đoàn Thánh Phaolô, một cộng đoàn được thành hình sau khi cựu viện phụ của đan viện cổ kính Thánh Phaolô ngoại thành, cha Giovanni Franzoni, bị cách chức vì đã tố cáo trách nhiệm của hàng giáo sỹ trong vụ đầu cơ bất động sản tại Roma.

Các bức vách của nhà kho cũ được sơn màu trắng, trừ một bức trên đó vẽ hình một tòa nhà cũ thời Roma. Tôi nhìn thấy bức tượng người phụ nữ nâng tấm vải che lò sưởi phía sau, và dáng vài cây cột lớn. Xa hơn, có dán bản tuyên ngôn của giám mục José Gerardi, người Guatemala, bị ba quân nhân ám sát năm 1998, vì xuất bản một bản tường trình về những vi phạm quyền con người do quân đội thực hiện. Mártir de la verdad y la paz, viết bằng tiếng Tây Ban Nha, nghĩa là vị tử đạo vì chân lý và hòa bình.

Một phụ nữ tóc bạc, khoảng 50 tuổi, lên giảng. Cũng như các nhân vật khác, y phục của bà cũng bình thường như y phục thường nhật. Một chiếc áo thun màu xanh, thêm chiếc vest len màu xám, mang kính, đeo bông tai, mang tràng hạt Mân Côi. Bà nói rằng mỗi giờ có hai ngàn người chết đói trên thế giới này. Đó là những con số do tổ chức Lương Nông của Liên Hiệp Quốc đưa ra. Thánh lễ là một bữa tiệc, Tin Mừng gợi lại bữa tiệc cưới Cana. Không ai bị loại ra khỏi cuộc lễ. “Bao lâu còn có người chết […], chúng ta chưa phải là niềm vui của Thiên Chúa.”

Một đứa trẻ bước vào, nó là thằng bé bị bệnh tâm thần trong khu xóm, hắn đi lòng vòng giữa nhóm tín hữu và la to: “Mẹ tôi đâu?... Con đã nói với mẹ rồi… Các ông bà có thấy mẹ tôi đâu không?” Không ai ngạc nhiên cả, mọi người theo dõi đứa bé lang thang với ánh mắt trìu mến, họ đang nghe được những tiếng vọng từ bài Tin Mừng và các Bài đọc hôm nay. Nhiều người đứng dậy chia sẻ. Có người nhắc lại rằng trong Cựu ước và trong các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, ơn tiên tri đã được chia cho cả người nam và nữ.

Đến giây phút thánh hiến. Hai người phụ nữ tiến đến gần bàn thờ, ra hiệu cho mọi người quì gối, và cùng nhau bẻ bánh bằng cách cắt chiếc bánh ra thành nhiều miếng nhỏ và đặt trong những chiếc giỏ. Mọi người cầm tay nhau và đọc kinh Lạy Cha. Người ta đi khắp căn phòng để chúc bình an cho nhau. Bầu khí thật ấm áp đầy tình thân hữu. Rước lễ là bữa ăn chung của các tín hữu. Họ xếp thành hai hàng trước bàn thờ và mỗi người nhận lấy một miếng bánh, chấm vào chén rượu và ăn. “Phép lạ đầu tiên của ngài, lạy Chúa Giêsu, là một bữa tiệc tình yêu”, lời nguyện hiệp lễ đọc như thế.

Tôi nhớ lại bức phù điêu độc đáo mà tôi đã có dịp chiêm ngắm trong Nhà thờ Chính tòa cổ Sophia tại Kiep. Bàn thờ là một chiếc bàn trên đó có hai hình Chúa Kitô, một hình quay về phía phải để trao bánh thánh thể cho Phêrô, một quay sang trái để trao cho Phaolô. Con Người ôm hết mọi chiều kích cuộc đời.