Đồng hành với những người không tin
Một Vương cung Thánh đường buổi sáng tháng Mười, một tờ nhật báo buổi sáng tháng Chín. Cách thức hai vị giáo hoàng bắc nhịp cầu sang phía bờ của những người không tin, ngang qua đền thờ Đức Maria các Thiên Thần tại Atxidi, và ngang qua tờ La Repubblica tại Roma.
Ngày 27/10/2011, trời lạnh. Tại lối vào Vương cung Thánh đường, giáo hoàng Bênêđictô XVI đứng bắt tay các chức sắc tôn giáo đến Atxidi tham dự “ngày suy tư, đối thoại và cầu nguyện cho hòa bình và công bằng trên thế giới”. Sau vài ngày do dự, đức Ratzinger đã lấy lại ý tưởng của đức Gioan Phaolô II, tổ chức cuộc gặp thượng đỉnh liên tôn tại thành phố của thánh Phanxicô. Bên cạnh các chức sắc thuộc các Giáo hội Kitô, còn có các chức sắc Do Thái, Hồi giáo, các đại diện các tôn giáo Đông phương và Phi châu. Một điểm mới vì đây là lần đầu tiên vị giáo hoàng người Đức muốn mời cả các nhân vật không tín ngưỡng: bà Julia Kristeva, giáo sư, triết gia, nhà phân tâm học mang hai giòng máu Pháp và Bungari; ông Guillermo Hurtado, triết gia người Mêhicô; ông Walter Baier, kinh tế gia người Áo; ông Remo Bodei, triết gia người Ý.
Tháng 09/2009, nhân chuyến đi thăm Cộng hòa Séc – một trong những nước châu Âu nơi rất nhiều người theo phong trào vô thần dửng dưng – đức Bênêđictô XVI đã quyết định tổ chức cuộc gặp gỡ với “những người đi tìm chân lý”, những người nam cũng như nữ đang tự hỏi về ý nghĩa cuộc sống phía bên kia cái ranh giới giữa tính nội tại và tính siêu việt.
Giáo hoàng Ratzinger đã xác định ý tưởng về một sự đối đầu giữa người chủ trương bất khả tri và người tín hữu, nhân một bài diễn từ đọc trước giáo triều, trong đó ngài chủ trương rằng “ngoài việc đối thoại với các tôn giáo, thì ngày nay còn phải có cuộc đối thoại với những người mà đối với họ, tôn giáo là một điều gì xa lạ, không thể biết được Thiên Chúa, tuy nhiên họ cũng không muốn chủ trương là không có Thiên Chúa, nhưng chỉ có thể biết ngài như một Đấng vô danh”. Đức Bênêđictô XVI đề nghị thiết lập một khung cảnh gặp gỡ, mà ngài gọi là “Sân của lương dân” – theo kiểu gọi cùng tên để chỉ khoảng sân tại đền thờ Giêrusalem dành cho người không phải Do Thái.
Tại Vương cung thánh đường Đức Maria các Thiên Thần, bà Julia cổ võ việc “thường xuyên canh tân khả năng con người trong việc tin tưởng và hiểu biết lẫn nhau”. Nữ triết gia này mời gọi tìm ra một “thoả thuận” giữa tính nhân bản trần thế, bắt nguồn từ thời Phục Hưng và thời Ánh Sáng, với tính nhân bản Kitô giáo. Phương pháp tiếp cận của bà là làm nổi bật những nguyên tắc luân lý quan trọng trong truyền thống: Kinh Thánh, Tin Mừng, Kinh Coran, Kinh Rig Veda, Đạo Lão... Điều cốt yếu, bà nhấn mạnh, là sự tự do. Tiếp đến, bà cũng nhắc lại những cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ, sự chăm sóc đầy tình yêu thương dành cho tha nhân, cho Mẹ Đất, sự quan tâm dành cho giới trẻ, bệnh nhân, người cao tuổi, người khuyết tật. Phải đấu tranh chống lại nguy cơ hủy diệt trái đất, mà lần đầu tiên trong Lịch Sử, homo sapiens có khả năng vi phạm nhân danh niềm tin tôn giáo hay ý thức hệ. Nhưng để hiến thân cho một mục đích chung là giữ gìn trái đất, theo bà, không thể không ngừng xét lại các truyền thống riêng của mình, quan niệm của mình về con người, lịch sử và xã hội. “Con Người viết hoa là không tồn tại [...]. Con người không làm nên lịch sử”, nhà nữ phân tâm học tuyên bố. Ngược lại, “chúng ta là lịch sử”, con người, nam cũng như nữ, trong tính cách đặc thù và khác biệt riêng của mình.
Một người vô tín chấp nhận lời đề nghị đối thoại có phê bình, và bà mời giáo hoàng tham gia chống lại mọi mưu toan biến tư tưởng và niềm tin thành ý thức hệ. Đức Bênêđictô XVI đã trả lời bằng cách nói lên ý muốn của Giáo hội là hiện diện bên cạnh những “người lữ hành đi tìm chân lý, những người lữ hành đi tìm hòa bình”, và tái khẳng định việc ngài dấn thân phục vụ “phẩm giá con người [...] chống lại mọi thứ bạo lực hủy diệt quyền con người”.
Hai năm sau, ngày 11/09/2013, người ta nghe được thông tin ở các sạp báo: “Giáo hoàng Phanxicô viết cho tờ La Repubblica: Một cuộc đối thoại với những người không tin đã được mở ra.” Trong vòng hai năm trước đó, Uỷ ban Văn hóa Tòa thánh, do hồng y Gianfranco Ravasi đứng đầu, đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ giữa những những người có niềm tin và những người vô thần tại nhiều quốc gia khác nhau. Hồng y Ravasi trình bày một Giáo hội muốn công nhận “các cách nhìn khác nhau về thực tại” và sẵn sàng chấp nhận sự kiện là những người tin và những người vô thần đều là những người mang một sứ điệp hiện sinh mà chúng ta cần phải lưu ý.
Vừa đắc cử giáo hoàng, đức Phanxicô một lần nữa lại từ bỏ những hình thức kiểu cách để ngay lập tức, gởi tín hiệu bày tỏ lòng kính phục sâu xa đối với thế giới vô thần. Trong cuộc gặp gỡ các nhà báo được phép đưa tin về mật nghị, ngài đã không kết thúc cuộc họp báo bằng công thức thông thường là “Tôi rất vui lòng gởi đến tất cả quí vị phép lành của tôi”, nhưng sau đó, ngài còn thêm một cách lịch sự: “Tôi đã thưa là tôi rất rất vui lòng gởi đến quí vị phép lành của tôi, nhưng bởi nhiều người trong quý vị không thuộc Giáo hội Công giáo, một số khác không có niềm tin, cho nên bằng tất cả tấm lòng, tôi xin gởi phúc lành này, trong thinh lặng, đến từng người trong quý vị, trong sự tôn trọng lương tâm của mỗi người, nhưng tôi cũng biết rằng mỗi người trong quý vị đều là con cái Thiên Chúa.”
Vị giáo hoàng người Achentina còn tiến thêm một bước: không phải chỉ đến gần những người không có niềm tin, không tìm kiếm Thiên Chúa, coi Thiên Chúa như một sản phẩm phát minh nhằm an ủi con người, nhưng nhất là cả những người thường xuyên công khai chỉ trích các tín điều, những người chỉ trích hàng ngũ giáo sỹ dưới mọi hình thức, chỉ trích sự can thiệp của Giáo hội vào lãnh vực chính trị. Tại Ý, Eugenio Scalfari, người sáng lập tờ La Repubblica, đóng vai trò như một giáo hoàng dân sự, quan sát một cách tinh tế những mặt yếu và những mâu thuẫn trong hàng giáo sỹ, mặc dù ông cho thấy rất ngưỡng mộ về tư cách cá nhân và sứ điệp của đức Giêsu Kitô.
Trong hai bài viết đăng vào mùa hè 2013, Scalfari gởi cho giáo hoàng Bergoglio một số câu hỏi. Những câu hỏi từ tôn giáo độc thần cứng cỏi của các tôn giáo theo Abraham – Giuđa giáo, Hồi giáo – cho đến tín điều mâu thuẫn về việc nhập thể, từ sự trái ngược giữa lời giảng của Đức Kitô với việc thi hành quyền bính trong Giáo hội, cho đến các vấn nạn nền tảng về đời sau và về việc tuyệt chủng loài người. Ông đề nghị một cuộc “tranh luận” thực sự với giáo hoàng Bergoglio, như đã từng diễn ra trong những thế kỷ trước giữa một người tín hữu và một người vô thần, giữa một người Công giáo và một người lạc giáo. Một trận đấu trí thức trong đó người ta tính điểm cho mỗi đối thủ.
Scalfari không che đậy mối thiện cảm đối với tân giáo hoàng mà theo ông: “Giáo hoàng này cũng tốt lành như đức Gioan XXIII, hấp dẫn như Wojtyla, ông ấy lớn lên trong dòng Tên, đã chọn danh hiệu Phanxicô vì muốn Giáo hội là Giáo hội của người nghèo thành Atxidi.” Tuy nhiên, ông không tha cho ngài những câu hỏi hóc búa. Ông lưu ý, thời hiện đại đang cật vấn khái niệm về chân lý tuyệt đối: người tín hữu tin vào chân lý mặc khải, người vô thần suy nghĩ theo ý nghĩa chân lý chủ quan và tương đối. Trong trường hợp này, người không tin có tội hay không? Hay “nếu một người không tin và không đi tìm kiếm niềm tin, và anh ta vi phạm điều mà Giáo hội gọi là tội lỗi, thì anh có được Thiên Chúa của người Kitô hữu tha thứ hay không1?” Cuối cùng, Scalfari viết “Thưa đức giáo hoàng Phanxicô, ngài trả lời thế nào đây?” Ông còn thêm một xác nhận đầy tính khiêu khích. Ông nói, mẫu hình giáo sỹ mà Bergoglio rao giảng, là tốt đẹp cho thế giới, và như thế vị tân giáo hoàng làm hài lòng mọi người, nhưng “tôi nghĩ rằng sẽ không có giáo hoàng Phanxicô II”, bởi vì sở dĩ Giáo hội Công giáo vẫn còn mạnh và trải qua hàng thế kỷ, chính là vì Giáo hội không bao giờ từ chối quyền bính.
“Ông Scalfari rất kính mến”, giáo hoàng đã trả lời trong lá thư có huy hiệu tòa thánh. Ngài bắt đầu ngay bằng việc loại trừ hình ảnh về một Thiên Chúa cảnh sát, một vị thần ngồi bàn giấy dò xét đời sống của người không tin, đánh giá xem người ấy có cho ngài quyền tha thứ hay không. Giáo hoàng Phanxicô đi xa hơn, ngài không nói tới một ơn tha thứ đến từ trên trời. Ngài kể về Thiên Chúa của Đức Giêsu, mà “lòng thương xót của ngài là vô biên”, giáo hoàng nhắc tới nguyên tắc đã được công đồng Vatican II nhấn mạnh, và cũng ăn sâu trong nền đạo đức dân sự: “Ngay cả đối với người không tin, nếu họ sống ngược với lương tâm của họ, thì họ phạm tội”. Vì chính những quyết định cá nhân khi làm một điều tốt hay xấu, “sẽ xác định tính cách tốt xấu cho các hành động của họ”.
Bức thư gởi cho một người không tin đó, viết thật dài, cho thấy giáo hoàng Phanxicô không muốn phủ nhận sự tự do nội tâm. Ngài biết rõ – điều này được xác minh nhanh chóng trong các hành làng ở Vatican – là một số đấng bậc không chấp nhận cách làm của ngài, bởi vì theo họ, mọi chỉ trích, mọi tranh cãi đều là dấu chỉ của tên Phản Kitô, và không chấp nhận việc giáo hoàng lại đi đối thoại với Scalfari. Nhưng chiến lược quen thuộc của giáo hoàng nằm ở chỗ không kỳ thị những con người của thời đại, nam cũng như nữ, nhất là những người cảm thấy Giáo hội là trừu tượng và xa vời đối với họ.
Vì thế, khi ngài trả lời bằng kiểu viết lịch sự đáng yêu “Thưa ông Scalfari quý mến”, thì ngài đã vượt qua những rào cản của một cuộc tranh luận có tính đấu đá giữa một bên là môn đệ của thời đại Ánh Sáng và bên kia là tu sĩ dòng Tên, giữa một người theo lý trí và một người có niềm tin. Ngài không quan tâm đến những khác biệt đó. Lá thư của ngài là cuốn Tin Mừng được viết lại trong ngôn ngữ thời đại. Giáo hoàng nói rằng cần phải “gặp gỡ Đức Giêsu trong tính cụ thể và tính thô ráp của cuộc đời ngài”, ngài loan báo một Đức Kitô đến để trao ban cho những ai nghe ngài “sự tự do và cuộc sống phong phú”. Ngài nói về một niềm tin “không kiêu căng nhưng khiêm tốn, một niềm tin không phải là không khoan nhượng, nhưng là một niềm tin lớn lên trong sự sống chung và tôn trọng người khác”, và loại trừ “sự tìm kiếm quyền bá chủ”. Niềm tin này đề cao sự vâng phục đối với lương tâm của mình, và phải được sống qua những chứng từ cũng như qua sự đụng chạm với mọi người. Giáo hội là cộng đoàn của niềm tin, “trong Giáo hội đó tôi sống, và nhờ Giáo hội đó mà tôi gặp được Sách Kinh Thánh [...]. Nếu không có Giáo hội, tôi đã không thể gặp được Đức Giêsu”.
Giáo hoàng đã nối kết trực tiếp với công đồng Vatican II khi đề nghị một cuộc đối thoại mà không thành kiến. Rồi khi kêu gọi làm chứng về niềm tin của mình cho thế giới vô tín, ngài thực sự đối diện một cách rốt ráo với câu hỏi hết sức khó khăn: câu hỏi về chân lý tuyệt đối. Ngài giải thích rằng thật là sai lầm khi nói tới chân lý “tuyệt đối”, bởi vì như thế là dường như gợi ra một thứ chân lý không gắn vào một bối cảnh nào. Không, ngài nói, “chân lý – theo niềm tin Kitô hữu -, đó là tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta qua Đức Giêsu Kitô [...]. Chân lý là một mối tương quan!”. Mỗi người đón nhận và diễn tả chân lý đó khởi đi từ lịch sử của mình, từ văn hóa và hoàn cảnh sống của mình. Theo ngài, nói như thế chẳng có gì là chủ quan cả, nhưng là ý thức rằng chân lý “được ban cho chúng ta, mãi mãi và duy nhất như là con đường và là sự sống”, chân lý với tình yêu là một. Cần có lòng khiêm tốn và cởi mở mới có thể tìm kiếm, đón nhận và diễn tả chân lý đó.
Trong viễn tượng này, giáo hoàng Phanxicô ước mong có một cuộc gặp gỡ với những người vô tín một cách nghiêm túc, với ý định bắt đầu “cùng nhau đi một đoạn đường”. Khi công khai nhìn nhận rằng Giáo hội qua các đại diện của mình, đã có thể phạm những bất trung, sai lầm, tội lỗi, “và có thể tái phạm những điều đó nữa”.
Lá thư đó đã tạo ra một tiếng vang trên khắp thế giới. Tại Anh, Ian Buruma, một bình luận viên vô thần, nhận xét một cách thích thú rằng việc nhìn nhận địa vị tối cao cho lương tâm có nghĩa là “không cần phải có Thiên Chúa hay Giáo hội cho chúng tôi biết chúng tôi phải sống như thế nào. Chỉ cần lương tâm chúng tôi là đủ rồi. [...] Lời lẽ của giáo hoàng Phanxicô có thể khiến chúng ta nghĩ rằng ngay cả việc loại bỏ Thiên Chúa cũng là một ý kiến hợp pháp”. Matthew Fox, nhà thần học người Mỹ mà qua sự can thiệp của Thánh bộ Giáo lý Đức tin, đứng đầu là hồng y Ratzinger, đã bị trục xuất khỏi dòng Đa Minh năm 1993, khẳng định rằng giáo hoàng Phanxicô mang lại một “luồng khí trong lành sau ba mươi bốn năm các đời giáo hoàng tỏ ra khuynh hướng đưa ra câu trả lời và câu hỏi như là đọc cho người ta viết, mà chẳng bao giờ cho người ta có cảm giác có một điều gì đó để học hỏi”. Nhà thần học giải phóng người Braxin, Leonardo Boff, ông này cũng bị đức Ratzinger buộc thôi giảng dạy, nhận ra trong lời lẽ của giáo hoàng Phanxicô ý định làm chứng cho một Kitô giáo không có tham vọng chinh phục. Boff đã viết thư cho giáo hoàng đề nghị ngài triệu tập công đồng Vatican III, được dành cho cả người Kitô hữu cũng như người vô thần, để xem xét những “mối đe dọa đang đè nặng trên trái đất”.
Tại Ý, mở ra một cuộc tranh luận sôi nổi. Ông Gustavo Zagrebelsku, cựu chủ tịch Tòa án Hiến pháp, cho biết đã tái khám phá công đồng Vatican II khi đọc lá thư của giáo hoàng Phanxicô. Bình luận viên người công giáo, cô Mariapia Veladiano, rất mừng khi thấy khái niệm về một chân lý-ngẫu thần và cả một thùng những giá trị được coi là không thể tranh luận, “một kiểu nói khủng khiếp của giới buôn bán”, nay bị xếp vào kho. Enzo Bianchi, đan sĩ và thần học gia, nhấn mạnh rằng việc đối thoại với những người tin vào những thực tại khác phải được coi như một sự phong phú chứ không phải là một hy sinh không thể tránh. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo rằng việc đồng hành đòi hỏi phải chấp nhận đối đầu về một số đề tài mà cả hai phía nghĩ rằng mình có những vị trí cố thủ.
Lá thư gởi ông Scalfari cho thấy cách tiếp cận trực tiếp, đó là tính cách của giáo hoàng Phanxicô. Thay vì nói một cách trừu tượng cho những người vô tín, giáo hoàng muốn đối thoại với một con người bằng xương bằng thịt, chấp nhận tranh luận về những vấn nạn họ đưa ra. Sau đó, ngài mời ông Scalfari đến nhà khách thánh Matta và không ngần ngại nói chuyện với ông một cách thoải mái: “Chủ nghĩa cải đạo là một sai lầm to lớn, thật là vô nghĩa. [...] Chủ nghĩa giáo sỹ chẳng có mối liên hệ gì đến Kitô giáo. [...] không có Thiên Chúa của Công giáo, chỉ có một Thiên Chúa. [...] Giáo hội rất thường bị thống trị bởi những mối quan tâm trần thế và rất nhiều vị đại diện trong Giáo hội Công giáo vẫn còn giữ quan niệm này.” Trong thực tế, phải dành ưu tiên cho lương tâm: “Mỗi người có quan niệm của mình về Thiện và Ác, và phải lựa chọn đi theo cái Thiện, chống lại cái Ác theo như họ quan niệm. Chỉ cần như thế cũng đã đủ để làm cho thế giới tốt đẹp hơn rồi.”
Sau đó, khi nổ ra những tranh luận về tính xác thực của bài viết về cuộc nói chuyện này, và vì Scalfari thừa nhận là đã sửa lại đôi chỗ và cường điệu một số kiểu nói của giáo hoàng Bergoglio, nên người ta biết thêm một khía cạnh khác của vị giáo hoàng Achentina. Giáo hoàng Phanxicô không bao giờ đòi đọc lại phiên bản cuối cùng của cuộc đối thoại, và ngài đã cho phép vị thư ký riêng của ngài, Don Alfred Xuereb, được phổ biến bài viết mà không cần ngài đọc lại bản văn1. Đối với giáo hoàng Phanxicô, điều quan trọng là chính bản thân việc gặp gỡ, cái sứ điệp mà cuộc gặp gỡ muốn gởi đến người Công giáo cũng như người vô thần còn lớn hơn tính xác thực của những từ ngữ lẻ tẻ. Khoảng sân cho sự hội tụ gặp gỡ giữa những người tin vào một đấng siêu việt với những người chỉ tin vào những giá trị nội tại đã xuất hiện rõ ràng cho cả hai phía tham dự cuộc trao đổi: đó là chống lại tính ích kỷ đang lớn lên và chống lại những bất công trên thế giới.
Từ Paris, Julia Kristeva – một người đã từng tham dự lễ khai mạc những ngày đối thoại do đức Bênêđictô XVI khởi xướng – nhận định rằng chủ nghĩa nhân bản thế tục đã bị cật vấn do cách tiếp cận mới mẻ của vị giáo hoàng Achentina. “Phanxicô là một cha xứ nhà quê được bầu làm giáo hoàng: ngài thật độc đáo, gây ngạc nhiên, bất ngờ. Cách nói chuyện nóng sốt, bình dân là một hành động chính trị.” Ngài lôi kéo về cho mình mối thiện cảm của cả những người hay phê phán nhất. Ngài đã can thiệp cách đặc biệt ở Syri. Ngài đối mặt với khủng hoảng hiện sinh trên khắp hành tinh này. “Ngài hiến thân cho nỗi đau khổ của người nghèo một cách cụ thể, ngài đụng chạm tới con tim bằng thứ ngôn ngữ cách mạng của một Trotski hay của một Che Guevara. Ai có thể nói hay hơn thế? Đó là một thách đố cho chúng tôi, những nhà nhân bản”.
Cái nhìn thế tục của Kristeva, người mà tác giả đã có dịp tiếp xúc tại tư gia ở Paris, không che đậy sức hấp dẫn và sự an ủi mà guồng máy Giáo hội biết cách thực hiện. Nhà phân tâm học này nhìn thấy trong những phát biểu của tân giáo hoàng có một ý nghĩa lớn lao của quyền lực và một tài năng chiến lược đặc thù của các tu sĩ dòng Tên. Bà nghĩ rằng một nhân cách như giáo hoàng Phanxicô là cần thiết để đem lại một hình ảnh mới cho dân chúng sau triều đại giáo hoàng Bênêđictô XVI mà, có thể tôi sai, có lẽ nổi bật một sự lạnh lùng trí thức. “Giáo hội Công giáo đang thua trên bàn cờ thế giới, thế rồi giáo hoàng đưa ra một con bài chủ, đó là chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo.”
Cuộc đối đầu giữa hai chủ nghĩa nhân bản là điều không thể tránh được. Âu châu và mối liên hệ của nó với tình trạng tục hóa phải là miền đất đầu tiên để chúng ta suy nghĩ. Đối với nhà phân tâm, cuộc khủng hoảng tại Âu châu và cuộc khủng hoảng toàn cầu có liên quan với nhau. “Âu châu đang ở trong cảnh hỗn mang. Và nếu nó không ra khỏi tình trạng đó, thì toàn thế giới sẽ nhanh chóng rơi vào cảnh hỗn mang.” Mặc dù xã hội đã mệt mỏi, Âu châu vẫn còn nhiều nguồn lực lớn, lịch sử của nó đã chứng minh điều đó. Sức mạnh của nền văn minh châu Âu là ở chỗ nối kết được bản sắc cá nhân, tính đa dạng và sự sống chung giữa những dân tộc khác nhau. “Đó là một nền văn minh, trong đó bản sắc cá nhân luôn bị đặt thành vấn đề” bằng sự phê phán và tự phê phán liên lỉ. Vì thế Âu châu có thể khuyến khích các nền văn hóa khác, chẳng hạn Hồi giáo hay Trung Hoa, để họ tự cật vấn về chính mình.
Đối với tình trạng tục hoá, Âu châu đã cổ võ phong trào giải phóng phụ nữ, những người bị áp bức, những người bị gạt ra bên lề xã hội, nhưng đồng thời nó cũng đã cắt đứt mối liên lạc với gia sản mang tính tôn giáo-lịch sử của quá khứ. Tuy nhiên, “phải biết mình từ đâu đến”. Người ta không thể bỏ quên gia sản của tư tưởng Hy Lạp, truyền thống Do Thái – Kitô giáo, cũng như trong một số khía cạnh, của nền văn minh Hồi giáo. Sự thiếu hiểu biết đã làm xuất hiện những đảng phái và những phong trào bài ngoại (ở Pháp có Le Pen, ở Ý có Lega, và các nơi khác cũng vậy).
Theo bà Julia Kristeva, đó là lý do tại sao sự thức tỉnh của các nền văn hóa và sự phục hồi các cuộc đối thoại giữa những nhà nhân bản thế tục và tôn giáo là quan trọng. “Đối với những gì liên hệ đến tính mong manh của đời người, cuộc sống, cái chết, sinh, lão, có rất nhiều điều phải học từ các tôn giáo” bà giải thích. Chắc chắn, các khoa học nhân văn, chẳng hạn khoa nhân học, hay phân tâm học cũng có câu trả lời, nhưng những câu trả lời đó thường khép kín trong lãnh vực chuyên ngành: “Chúng ta không hiện diện ở những ngã tư giao lộ hiện sinh.”
Nhà triết học và phân tâm học đề ra hai vùng đất trực tiếp cho cuộc đối thoại, đây cũng là mối quan tâm của giáo hoàng Phanxicô: một là vai trò của kinh tế và các tiến bộ kỹ thuật, khoa học; hai là vận mệnh của thế hệ trẻ. Bà lưu ý “Sự phong phú của nền văn minh châu Âu đòi hỏi không được uốn nắn quan niệm về con người tùy theo kỹ thuật, nhưng là ngược lại”. Tuy nhiên, câu hỏi làm bà quan tâm nhất, chính là giới trẻ. “Ngày nay, Âu châu là nền văn minh duy nhất ở đó không có những nghi lễ khai tâm, ở đó người ta quên mất sự chuyển dịch từ tình trạng thiếu niên sang trưởng thành. Không có ai đồng hành với người trẻ, người ta không biết rằng người trẻ có một nhu cầu rất lớn về các lý tưởng, không ai đem lại cho họ khả năng thực hiện một công việc phục vụ người khác, tại quê hương của họ hay tại các nước khác.” Thế giới người trẻ đang bị bỏ rơi. Một phần trôi vào thái độ dửng dưng, một số khác quay sang những nền linh đạo khác nhau trong khi một số khác nữa lại chạy theo “sự ác nền tảng” – Kristeva cho thấy các cuộc tấn công do kỳ thị chủng tộc xảy ra năm 2012 tại Toulouse và tại Montauban đều do một người Pháp trẻ gốc Algérie, anh này đã giết 3 người lính rồi đến 3 trẻ em và một giáo sư trước một ngôi trường Do Thái – hay theo khuynh hướng tự hủy hoại qua các hình thức ma tuý, những căn bệnh tâm lý hay các hình thức bệnh hoạn khác.
“Đó là hiện tượng những con xúc xắc lang thang. Họ từ chối gia đình, từ chối tiếp xúc xã hội, từ chối trường học, công ăn việc làm, giáo dục nghề nghiệp. Cuối cùng, những người trẻ này không nhìn nhận có sự khác biệt giữa thiện và ác, giữa tôi và anh, giữa con người của tôi và người khác. Họ không tôn trọng người khác và ngay cả chính họ nữa, và dễ trở thành con mồi cho những bạo lực quá khích.” Những thứ đó đang là thách đố cho Âu châu, cho các chính trị gia không nhìn thấy tính khẩn cấp của hiện tượng này, cho các nhà nhân bản thế tục cũng như tôn giáo.
Những hành động đầu tiên của giáo hoàng Phanxicô cho thấy ngài hoàn toàn ý thức rằng việc gặp gỡ các nhà nhân bản thế tục là một không gian chiến lược cho Giáo hội Công giáo thế kỷ XXI. Những kỷ niệm của Julia Kristeva về cuộc gặp gỡ tại Atxidi tháng 10/2011 cho thấy giáo hoàng Ratzinger đã tiến bước xa như thế nào và giáo hoàng Bergoglio đang phá vỡ những khung rào vững chắc như thế nào. “Chúng ta đã nghe giáo hoàng Bênêđictô XVI trong nhà thờ Đức Maria các Thiên Thần, bà kể, khi ngài nói rằng sự vắng bóng Thiên Chúa sẽ là nỗi khổ đau cho những người theo chủ trương bất khả tri, và “đưa đến tình trạng suy đồi của con người cũng như của chủ nghĩa nhân bản”. Vào lúc đó, các bạn của tôi đại diện cho những người không tin đã bắt đầu huých cùi chỏ nhắc tôi phải phản ứng.” Tuy nhiên, đức Ratzinger đã tiếp ngay là tín hữu các tôn giáo không thể coi Thiên Chúa như tài sản của mình, và câu hỏi của những người vô tín là “một lời kêu gọi dành cho những người tin để họ phải thanh tẩy niềm tin của họ”. Một sự kiện khác thường, nhà nữ phân tâm học bình luận: “Giáo hoàng nhìn nhận rằng không ai là chủ nhân của chân lý và những người tin cũng phải tự hỏi như chúng ta [...]. Đó là lần đầu tiên.”
Tuy nhiên, có một điểm mà đức giáo hoàng Phanxicô hoàn toàn khác với vị tiền nhiệm: ý tưởng cho rằng vô thần dẫn đến sự đau khổ và đưa đến sự suy đồi của con người cũng như của chủ nghĩa nhân bản, ý tưởng đó hoàn toàn xa lạ với vị giáo hoàng người Achentina. Trong một cuộc đối thoại với giáo sỹ Do Thái Abraham Skorka tại Buenos Aires, về những vấn nạn chính của niềm tin trong thời hiện đại, hồng y Bergoglio đã khẳng định: “Tôi không bao giờ nói [với một người vô thần] rằng cuộc đời của họ bị kết án, bởi vì tôi xác tín rằng mình không có quyền xét đoán tính lương thiện của họ. Nhất là khi họ có những đức tính nhân bản, những đức tính làm thăng tiến phẩm giá con người, và làm cho cả tôi nữa cũng được trở nên tốt đẹp.”
Trong thư gởi ông Scalfari, giáo hoàng Phanxicô viết rằng đã đến lúc chúng ta phải vượt qua những rào cản của tình trạng không thể gặp gỡ trao đổi giữa một bên là Giáo hội và nền văn hóa ảnh hưởng Kitô giáo, và bên kia là nền văn hóa hiện đại ảnh hưởng triết học Thời đại Ánh Sáng. Đối với các môn đệ trung thành với Đức Giêsu, ngài viết, “cuộc đối thoại này không phải là phần phụ thuộc trong đời sống người tín hữu, ngược lại, đó là một cách thức diễn tả sâu xa và không thể thiếu cho đời sống của họ”. Nói với các tu sĩ dòng Tên của tờ La Civiltà Cattolica, giáo hoàng khuyến cáo họ phải đối thoại ngay cả với “những người không cùng chia sẻ niềm tin Kitô giáo” nhưng họ cũng đang vun trồng những giá trị nhân bản, văn kiện Gaudium et Spes của Vatican II cũng đề nghị như vậy.
Julia Kristeva cho rằng cuộc đối đầu giữa thiên tài Kitô giáo và các triết gia khác cho phép đụng chạm tới điểm cốt lõi trong việc đào tạo cá nhân. “Một nhu cầu căn bản, đó là sự tin tưởng, điều này có trước tôn giáo và trước cả chính trị” bà nói. Đó cũng là điều mà Freud gọi là Besetzung, sự đầu tư. “Khởi đầu, đứa bé nằm trong vòng tay người mẹ, thân xác của nó đụng chạm thân xác người mẹ. Rồi xuất hiện người cha, người cha “nhìn nhận” đứa bé, đến lượt đứa bé “nhìn nhận” người cha. Từ đó, qua một công việc của tâm lý, phát sinh lời nói, sự truyền thông. Đó là đầu tư”. Không phải tình cờ mà trong tiếng Sanskrit, từ “tin” có nguồn gốc ghép bởi từ niềm tin và từ tín dụng kinh tế.
Sự trao ban qua lại là nền tảng cho mối tương quan giữa con người với nhau, nhà phân tâm học giải thích. “Quá nhấn mạnh đến cuộc đấu tranh chống lạm dụng lòng tin tôn giáo, thì chúng ta, những người thế tục, đã quên đi cơ sở có lợi của sự tin tưởng, hiệp ước tin tưởng với người khác. Ở nhà trường chúng ta phải dạy cho học sinh biết rằng cần chiến đấu chống lại cái “xấu nền tảng”, cái xấu của sự đoạn tuyệt tương quan với người khác. Bởi vì chúng ta được quyền phê bình tính nhẹ dạ cả tin, nhưng cũng phải tin vào những gì người ta làm.”