Khuôn mặt một linh mục
Đức Phanxicô để người ta ôm hôn ngài. Ngài tìm cách gặp gỡ con người, đụng chạm đến họ và để người ta đụng chạm đến mình.
Trong phòng khách thánh Clément ở Vatican, hình ảnh hồng y Dolan người Mỹ tự tin đặt tay trên vai giáo hoàng, hai ngày sau khi ngài được bầu, đã làm nhiều người nhíu mày. Còn giáo hoàng Phanxicô, ngài chỉ cười.
Việc tiếp xúc gần gũi về thể lý là một phần trong cung cách giao tiếp của ngài. Như thế ngài mang đậm tính cách Nam Mỹ, nhưng cũng có thể nói ngài là người Phi châu hay Địa Trung Hải. Ngài không muốn trở thành một bức tượng. Các tín hữu đều có thể ôm ngài, như trường hợp anh quân nhân người Ý sau trận chiến Afganistan trở về đã muốn được ở bên ngài thật lâu. Hồng y Tauran nhận xét: “Người ta đến Roma để xem Gioan Phaolô II, nghe Bênêđictô XVI, và đụng chạm đến Phanxicô”.
Ba triệu người chen chân trên bãi biển Copacabana dài 4 km để tham dự thánh lễ bế mạc Đại hội Quốc tế Giới trẻ do giáo hoàng chủ sự ngày 28/07/2013, tại Rio de Janerio. Hơn một triệu rưỡi khách hành hương đã tham dự buổi yết kiến chung của giáo hoàng Phanxicô tại quảng trường thánh Phêrô ngày áp lễ Giáng sinh đầu tiên của ngài tại Vatican2. Giáo hoàng Phanxicô không đặt khoảng cách với các tín hữu, không giữ khoảng cách nghi lễ. Ngài đón tiếp họ, lôi kéo họ, đụng chạm tới họ. Ngài nói chuyện với các tín hữu, lắng nghe họ và nhìn vào mắt họ. Trời mưa, ngài vẫn để đầu trần như đám đông khách hành hương.
Trước đây tại Buenos Aires, ngài đã không như thế đâu. Một khi mặc lấy chiếc áo trắng giáo hoàng, ngài đã đập vỡ cái áo giáp nhút nhát và hay xấu hổ trước kia. Cha Pepe Di Paola ngạc nhiên: “Ngày trước ngài lặng lẽ hơn, hướng nội hơn”. Có điều gì đó đã thay đổi hẳn nơi ngài. Tại Achentina, ông José Maria Poirier, giám đốc tạp chí văn hóa Criterio, tả ngài là người “hầu như lúc nào cũng buồn, lo lắng, ít nói, không bao giờ cười”. Còn ở Trụ sở trung ương dòng Tên tại Roma, một số anh em cùng dòng nhớ lại rằng ngài tạo cảm giác của một người “khó tính và khép kín”.
Tại Vatican, người ta gọi đó là “ơn hiện sủng” khi nói về cái hào quang đặc biệt của một giáo hoàng mới, dường như Chúa Thánh Thần đã tuôn đổ ơn phúc xuống trên vị được chọn. Đó cũng là điều mà sách Giáo lý Công giáo số 2004 đã khẳng định. Thực vậy, ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên với đám đông tại quảng trường thánh Phêrô, và nhất là sau chuyến tông du đến Braxin, giáo hoàng Jorge Mario Bergoglio đã được các tín hữu đón tiếp với một sự cuồng nhiệt càng ngày càng lớn, nhờ đó ngài xác định rõ hơn (chính ngài cũng ngạc nhiên về điều đó) về sự dịu dàng mà ngài khuyên các linh mục phải có trong các cuộc tiếp xúc với người khác.
Giáo hoàng Phanxicô thật “dễ gần”. Khi đức Karol Wojtyla qua đời, người ta đã khóc ngài như khóc một người cha hay ông nội, sinh thời khi đứng trước đám đông, ngài đã tạo cho người ta cảm tưởng ngài đang nói riêng với từng người, tuy vậy ngài vẫn giữ quyền bính như của một vị vua, và không xoá bỏ sự khác biệt vai trò trong các cuộc tiếp xúc cá nhân. Đức Phanxicô thì xoá bỏ mọi ngăn cách. Ngài gần gũi như một người cha người mẹ, không cần bảo vệ, vì ngài chân thành, qua cách đó ngài nhắc lại những mệnh lệnh của Tin Mừng, giảng về lòng thương xót và mời gọi người ta đừng ngại ngùng bày tỏ sự dịu dàng. Trong phòng tiếp khách, ngài để trẻ em có thể đến bên cạnh khi ngài phát biểu. Như một ông bác trong gia đình, ngài xoa tóc các em và không tỏ ra bối rối khi một em bé leo lên ghế giáo hoàng. Ngài muốn người ta hiểu rằng chỉ có một quyền bính duy nhất hiện diện và điều hành trong Giáo hội, đó là quyền bính của Đức Kitô, giáo hoàng là môn đệ của Ngài.
Ngài không muốn bị cắt đứt khỏi người khác bởi những màn hình trong các nghi lễ. Ngài nhượng bộ sự hiện diện của cảnh sát Vatican mà ngài đánh giá cao sự trung thành của họ, nhưng ngài muốn loại bỏ cơ cấu này. Trong những ngày đầu, ngài đã bực mình: “Tôi không cần cận vệ, tôi không phải là người không biết tự bảo vệ mình”. Hôm sau ngày được bầu, khi đến nhà thờ Đức Bà Cả để kính viếng ảnh “Đức Bà cứu dân thành Roma”, ngài đã ra lệnh là trong khi ngài cầu nguyện, nhà thờ vẫn phải được mở cửa để các tín hữu và du khách đến thăm. Như một cha xứ nhà quê, ngài đến đặt một bó hoa trên bàn thờ. Sau chuyến thăm Rio de Janerio trở về, ngài dâng vào nhà thờ này một quả bóng và một áo cầu thủ, đó là những bảng tạ ơn chưa bao giờ có từ một vị giáo hoàng!
“Chúng ta cần phải để cho con tim mình rung lên, ngài phát biểu trong ngày lễ Giáng Sinh. Hãy để cho con tim mình được sưởi ấm nhờ tình thương của Thiên Chúa; Chúng ta cần được ngài ôm ấp.”
Cái hay của ngài là biết cách gợi lên những ước vọng sâu thẳm, ẩn giấu trong tâm hồn của hàng triệu người. Ngay trước khi ngài xuất hiện tại khung cửa sổ vào ngày 13/03 lịch sử, thì người Công giáo khắp nơi đã mơ về một “Phanxicô”. Danh hiệu này đã bắt đầu lan toả ít lâu trước mật nghị. Đám đông tín hữu, nghi ngờ về một Giáo hội được coi như người mẹ kế xa vời, đang mỏi mắt mong chờ một khuôn mặt như thế. Khi ngài đến Atxidi tháng 10/2013, một băng rôn căng ngang trên đường đón chào ngài cách thân thương : “1266 – 2013: Phanxicô, chúng con nhớ ngài.”
Trong những giây phút sáng tạo hạnh phúc, các nghệ sĩ là những ngôn sứ. Họ nắm bắt được tinh thần thời đại và tâm hồn quần chúng. Do một sự trùng hợp, ngay sau khi đức giáo hoàng Bênêđictô XVI thoái vị, nhà đạo diễn Công giáo Ermanno Olmi đã xuất bản cuốn Thư gởi một Giáo hội đã bỏ quên Chúa Giêsu. Ông tả về một Giáo hội chính thức, một Giáo hội như “bà mẹ quẫn trí, quá hướng về những nghi lễ xa hoa rực rỡ” thích tìm kiếm những của cải trần thế, bị rúng động bởi những xì căng đan và những âm mưu, bỏ quên mùa xuân của công đồng Vatican II. Ông đặt câu hỏi: “Chúng ta đã học được gì và đã bỏ quên điều gì nơi vị thánh nghèo thành Atxidi? Thưa Giáo hội Công giáo, phải chăng ngài thực sự là ngôi nhà rộng mở, không chỉ đón tiếp những người Kitô hữu dễ bảo, mà cả những người đang đi tìm Thiên Chúa trong tự do, vượt qua những hoài nghi của họ?” Đề cập đến những vấn đề mà ông cho rằng vị giáo hoàng sắp tới sẽ phải quan tâm và đấu tranh, Olmi năn nỉ: “Thưa Giáo hội, hãy cho chúng tôi thấy rằng ngài ôm ấp trong trái tim mình những người yếu đuối, họ là thành phần đa số, và họ không phải chỉ đến trần gian để mà chết.”
Hai năm trước đó, tại liên hoan phim Cannes, đạo diễn Nanni Moretti, theo văn hóa đời, cũng đã giới thiệu một chân dung rực rỡ về một giáo hoàng vừa mới được bầu lên, đã không muốn cai trị một Giáo hội trong đó ông hầu như không nhận ra chính mình. Vị giáo hoàng trong phim có vẻ dè dặt, - mà diễn viên Michel Piccoli giống giáo hoàng Phanxicô một cách không thể tin nổi, ngay cả cách vẫy bàn tay phải một cách nhút nhát cũng rất giống, - đã tuyên bố: “Giây phút này đây, Giáo hội cần một người dẫn đường có sức mạnh để mang trên mình những thay đổi lớn lao, một người tìm cách gặp gỡ mọi người, một người yêu mến và cảm thông với hết thảy mọi người...” Rất nhiều tín hữu trên quảng trường thánh Phêrô vào thời giáo hoàng Ratzinger, khi được hỏi về niềm tin trong tâm hồn họ, đều trả lời giống như trường hợp của một chị nữ hộ sinh : “Đối với tôi, Đức Giêsu trước tiên là lòng thương xót.”
Giáo hoàng Phanxicô bắt được tần số chung của đa số người công giáo. Nếu, như ngài đã khẳng định, người chăn chiên phải có “mùi chiên”, thì đoàn chiên cũng nhận ra nơi người chăn có mùi của chúng. Cuộc tiếp xúc tương tác này có cái gì thuộc về bản năng. Ngay từ những tháng đầu tiên trong vai trò giáo hoàng, đức Phanxicô đã diễn tả sứ vụ của mình như sau: “Tôi thấy rất rõ rằng điều mà Giáo hội cần nhất lúc này, là khả năng chữa lành những vết thương và sưởi ấm tâm hồn tín hữu, sự gần gũi, sự thân thiện. Giáo hội giống như một bệnh viện dã chiến sau một cuộc chiến. Thật là vô ích khi hỏi một người bị thương nặng rằng họ có bị Cholestérol hay không, có bị đường cao hay không ! Chúng ta phải chữa những vết thương đã. Sau đó, chúng ta có thể trao đổi về những gì còn lại. Chữa trị các vết thương, chữa trị các vết thương... phải bắt đầu từ điểm căn bản đó.”
Đúng là đã có dấu hiệu vì bốn ngày trước khi bầu giáo hoàng Bergoglio, khi mà Giáo hội còn khiến cho người ta có cảm tưởng về một Giáo hội cứng ngắc, bất chấp tất cả, thì một vị đại diện hàng giáo phẩm Ý – chủ trương cứng ngắc, phải nhấn mạnh về đạo lý và bảo vệ các cơ cấu Giáo hội – đức ông Alberto Carrara, đại diện giám mục đặc trách văn hóa trong giáo phận Bergamo đã viết: “Đối với đạo diễn Olmi, dường như Giáo hội chỉ mạnh mẽ khi cung cấp cho họ sự đồng hành, thân mật và sự trợ giúp. Giáo hội Chữ Thập Đỏ trên toàn thế giới, gần với những nỗi đau khổ mới và cũ của con người”. Không, ông tiếp, “cái nhìn theo đức tin là hoàn toàn khác”.
Giáo hoàng Phanxicô công bố một Giáo hội không để mình bị “đóng khung trong những luật lệ nhỏ mọn”, không bám víu “một cách quá đáng vào ‘sự an toàn’ của giáo lý”, không biến tôn giáo thành một ý thức hệ, nhưng chỉ tập trung vào lời loan báo nền tảng: “Đức Giêsu Kitô đã cứu độ bạn2!” Giáo hoàng rõ ràng gợi lên hình ảnh một Giáo hội “là mẹ và là mục tử” : “Tôi có một điểm giáo lý chắc chắn: [...] đó là Thiên Chúa ở trong cuộc sống của từng người. Ngay cả trong cuộc sống của một con người đã trở thành bi thảm, bị các nết xấu làm băng hoại, ma tuý hay thứ gì khác, Thiên Chúa vẫn ở trong cuộc sống của họ. Người ta có thể và phải tìm kiếm Ngài trong mọi cuộc đời con người3.”
Chính sứ điệp đó giúp ngài được mọi người đồng ý. “Cám ơn ngài, cám ơn ngài”, đám đông hò hét trong thánh lễ khai mạc tại quảng trường thánh Phêrô. Họ hô “cám ơn” thay cho “vạn tuế đức thánh cha”. Cám ơn cách ngài nói, cách ngài xuất hiện, cách ngài sống. Trong số tín hữu, người ta nghe thấy những nhận định hoàn toàn mang tính trực giác. Một bà mẹ lớn tuổi nói với con gái: “Con thấy không? chúng ta đã có một giáo hoàng”. “Chúng ta đã có một giáo hoàng mà chúng ta hiểu ngài nói gì”, người ta nói như thế trong các xe điện tại Roma sau ngày ngài được bầu làm giáo hoàng. Bà cố của một đức cha trong HĐGM Ý phát biểu: “bây giờ giáo hoàng sẽ đưa con trở về bậc sống của mình”. Cha Alberto Ponzi, Tổng đại diện giáo phận Anagni, kể lại rằng các tín hữu đã bắt đầu dựa vào các lời phát biểu của đức Phanxicô để thúc dục các linh mục: “Đức giáo hoàng đã nói thế này, Đức giáo hoàng đã làm thế này...”. Trong các vùng và các quốc gia khác, tình trạng cũng xảy ra như vậy. Những người theo chủ nghĩa bất khả tri giờ đây cũng nhìn nhận rằng mình lưu ý hơn đến những thông tin có liên hệ đến giáo hoàng được phát đi trên truyền hình. Họ là những người không bao giờ quan tâm đến Giáo hội cũng như những vị lãnh đạo trong Giáo hội.
Một câu nói nghe được trong những tình huống rất khác nhau cũng nói lên suy nghĩ của đại chúng: “Tôi không phải là vô thần, nhưng tôi cũng không phải là người sốt sắng đọc kinh đi lễ. Tôi đã tách rời khỏi Giáo hội, và bây giờ giáo hoàng Phanxicô đã đưa tôi trở lại với Giáo hội.” Marco Tarquinio, tổng biên tập tờ báo Avvenire, tờ báo của các giám mục, làm chứng: “Một độc giả đã viết cho chúng tôi rằng từ lâu họ không cầu nguyện, nhưng bây giờ, mỗi ngày người ấy cầu nguyện cho giáo hoàng Phanxicô. Giáo hoàng đã đốt nóng con tim người tín hữu, đụng chạm tới những người dè dặt, và tiếp xúc được với những người ở xa nhất.” Điều giúp ngài gần gũi với suy nghĩ của đại chúng, chính là sự chân thành khi ngài đề cập đến những thiếu sót của giáo hoàng: “Ngay cả giáo hoàng cũng đi xưng tội hai tuần một lần, vì giáo hoàng cũng là một tội nhân! cha giải tội nghe tôi kể tội, ngài khuyên bảo tôi và tha thứ cho tôi vì tất cả chúng ta đều cần tới ơn tha thứ này1.” Các giáo hoàng khác cũng nhận mình là kẻ có tội, nhưng kiểu nói của các ngài vẫn mang nét kiểu cách thánh thiêng. Còn cách nói của giáo hoàng Phanxicô là một lời thú nhận thực sự làm đổ vỡ hết mọi bệ tượng.
Sự thẳng thắn của ngài còn biểu lộ qua cách ngài tố cáo những vụ tham nhũng trong Giáo hội, không che đậy đằng sau những kiểu nói vòng quanh. Ngài không đánh giá cao những giáo sỹ sống bất xứng với sứ vụ của mình và chỉ chạy theo của cải trần gian. Khi tiếp một nhóm tập sinh và chủng sinh, ngài than phiền: “Tôi đau buồn khi chứng kiến một linh mục hay tu sĩ đi chiếc xe hơi đời mới. Không thể như vậy được! [...] Tôi nghĩ rằng xe hơi là cần thiết, bởi vì họ phải làm nhiều việc và phải di chuyển nhiều... nhưng nên sử dụng chiếc xe khiêm tốn hơn! Và nếu con yêu thích chiếc xe hơi đẹp đẽ của con, thì hãy nghĩ đến tất cả những đứa trẻ đang chết đói.” Đôi khi ngài gay gắt: “Điều làm tất cả chúng ta ghê tởm, là thấy giữa chúng ta có những linh mục không chân chính hay nữ tu không chân chính2!”
Sự thanh đạm không có nghĩa là giáo hoàng Phanxicô đòi hỏi những người sống quanh ngài phải có khuôn mặt buồn thảm của mùa Chay, những khuôn mặt “ăn ớt” như kiểu ngài gọi họ. Ngài lặp lại rằng không có thánh thiện trong sự buồn thảm. Nếu một chủng sinh hoặc một tập sinh có cái nhìn buồn bã, thì có điều gì đó không ổn nơi họ rồi. Ở Atxidi, ngài giải thích cho các đan sĩ Clara rằng đời sống chiêm niệm phải dẫn tới niềm vui, tới con người, tới nụ cười. Nhưng không phải là nụ cười của các tiếp viên! Mà là một nụ cười phát xuất tự trong nội tâm mình. Rồi ngài châm chọc các nữ tu: bất hạnh cho ai có cách sống siêu nhiên quá đáng. Đối với các nữ tu đó, ngài lấy lại câu nói của thánh nữ Têrêxa: “Hãy cho họ miếng bíp tếch3”...
Người ta có thể xác định tính cách một con người qua những cuốn phim người ấy thích. Cuốn phim giáo hoàng Phanxicô thích là phim “Bữa tiệc của chị Babetta” (Le Festin de Babette), kể lại câu chuyện một phụ nữ Pháp đến một ngôi làng hẻo lánh ở Đan Mạch, ngôi làng thì tồi tàn và người dân thì dễ tin. Một ngày nọ, từ Paris người ta báo cho chị biết chị vừa trúng lô độc đắc mười ngàn phrăng, thế là chị tiêu hết số tiền trúng số để đãi dân làng một bữa ăn kiểu Pháp. Bữa ăn thật vui, có lâu đài, thịt rùa, chim cút, món thịt sốt, trứng cá, rượu Champagne, rồi tráng miệng bằng các thứ trái cây độc đáo, nhờ đó tinh thần người dân cũng bớt căng thẳng, những người đã từng bị mặc cảm tội lỗi đè nặng, sợ hãi về ngày phán xét, buồn bã vì sợ bị trả thù, sợ hãi ngay cả ý tưởng về thú vui.
Dần dần, khuôn mặt của họ được biến đổi do được ăn những món ăn thơm ngon, tinh thần họ tươi trẻ lại. Được giải thoát, họ có một quan niệm cuộc sống như chưa từng nghĩ tới. “Lòng thương xót và chân lý đã gặp nhau, công bình và hạnh phúc ôm hôn nhau, một người trong làng đã kết luận. Vì Thiên Chúa không ra điều kiện nào hết. Cần phải chờ đợi với lòng tín thác và đón nhận với lòng biết ơn.” Đức Bergoglio tin vào niềm vui của sự trao ban và tin rằng đức tin cũng giống như một cuộc sống vui tươi dưới dấu chỉ của Tin Mừng, không bị bẻ cong bởi cái nhìn về Thiên Chúa như người cảnh sát.
Trong một cuộc tiếp kiến, có bà mẹ người Tây Ban Nha nói nhỏ với ngài: “Cám ơn Đức thánh cha đã trở nên một Đức Giêsu mới trên trần gian.” Giáo hoàng Phanxicô đỏ mặt chốc lát rồi bật cười: “Nhưng tôi là một con quỷ!” Tính nhân bản nơi Bergoglio đã được xây dựng bằng mọi kinh nghiệm trong quá khứ. Cùng với đức Gioan Phaolô II, ngài là vị giáo hoàng duy nhất đã từng đi làm. Mười ba tuổi, ngài đã kiếm sống trong một cơ sở sản xuất nhỏ, sau đó làm việc trong một phòng thí nghiệm hóa học. “Tôi đã từng làm người thu dọn” trong một hộp đêm, ngài từng thú nhận trước sự ngạc nhiên của dân chúng tại giáo xứ San Cirillo Alessandrino, ngoại ô Roma.
Mười bảy tuổi, Bergoglio đã đính hôn với một cô gái, ngài đã khiêu vũ các điệu nhảy Milonga và Tango. Không phải điệu Tango yếu ớt giống như ở Âu châu mà Wojtyla đã học cùng thời với điệu Valse, như các bạn trẻ khác thuộc gia đình trung lưu vào thời giữa hai cuộc thế chiến, nhưng đây là điệu Tango Achentina, đầy gợi cảm. Tác giả Ernesto Sabato tả như sau: “Bàn tay người đàn ông đặt lên hông người phụ nữ, bàn tay người phụ nữ đặt lên vai người đàn ông, đôi chân là rất quan trọng, bàn tay điểu khiển và nâng nhịp bước chân, hông lắc lư, ... mời gọi và rời bỏ, cô đơn và chữa lành2.”
Đối với ngài, điều cốt yếu là ơn gọi phải bắt nguồn từ sự lựa chọn hoàn toàn của cá nhân thực sự. Một phụ nữ ở giáo xứ San Cirillo hỏi ngài: “Thưa Đức thánh cha, con phải làm gì cho đứa cháu của con khi nó muốn làm tu sĩ dòng Phanxicô?” Ngài trả lời là phải cầu nguyện cho cháu kiên trì trong lựa chọn đó, “nhưng cũng phải cầu nguyện cho cháu đủ can đảm để quay trở lại khi nhận ra đó không phải là con đường phù hợp cho cháu”.
Giáo hoàng Phanxicô thích trình bày ý tưởng bằng những câu chuyện. Trong buổi đọc kinh Truyền tin lần đầu tiên, ngài kể lại lần gặp một bà lão trên 80 tuổi, bà khẳng định như đinh đóng cột rằng: “Thiên Chúa tha thứ tất cả.” Ngài hỏi lại: “Nhưng thưa bà, làm sao biết được điều đó?” Bà đáp: “Nếu Thiên Chúa không tha thứ tất cả, thì thế giới này không tồn tại được.” Giáo hoàng Phanxicô sử dụng câu chuyện để đưa ra một sứ điệp làm đảo lộn cái mô hình về một Giáo hội ngồi trên ngai toà, trước mặt là những người tín hữu như những bị cáo. “Thiên Chúa không biết mệt mỏi khi tha thứ cho chúng ta [...]. Chúng ta thì mệt mỏi! Chúng ta thì không muốn! [...]. Còn ngài, ngài không biết mệt khi tha thứ cho chúng ta.”
Thiên Chúa là người Cha hay thương xót, ngài kiên nhẫn vô cùng. Thiên Chúa thì lớn hơn tội nhân. Không ai được để mình thất vọng. Lời kêu gọi đón nhận lòng nhân từ của Thiên Chúa cũng phải đi đôi với lòng từ tâm đối với tha nhân. Người Kitô hữu cầu xin Thiên Chúa thì cũng phải sẵn sàng trao ban cho tha nhân. Trong một bài giảng Chúa Nhật, giáo hoàng nói: “Chắc chắn con người ngày nay cần nghe nói, nhưng điều họ cần nhất là những chứng từ của chúng ta về lòng thương xót, lòng nhân từ của Chúa đang sưởi ấm con tim, đánh thức niềm hy vọng, và lôi kéo người ta đến với điều thiện”. Đừng mang trong mình trái tim chai đá.
Vẫn bằng hình ảnh, ngài khuyên bề trên các dòng tu đừng nhắm đào tạo chỉ dựa trên những kỷ luật và giáo thuyết: “Đào tạo là một công việc của người thợ thủ công, chứ không phải của người cảnh sát. Chúng ta phải đào tạo những tâm hồn, bằng không, chúng ta đang sản xuất ra những quái vật nho nhỏ. Rồi những quái vật nho nhỏ này lại đào tạo dân Thiên Chúa. Điều đó làm tôi rợn tóc gáy.”
Trong một thời đại mà cuộc khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng ý nghĩa cuộc đời tràn lan khắp mọi lục địa, một phần Tây Phương cũng không còn tránh khỏi cảnh nghèo khổ, thì tiếng mời gọi của ngài được đông đảo dân chúng chấp thuận. Tại Ý, 87% ủng hộ ngài, theo một bản thăm dò đầu năm 2014 của Eurispes. Ngay hôm sau khi được bầu, một bản thăm dò của Demopolis cũng đã ghi nhận 95% người Công giáo ủng hộ ngài. Những tính cách nổi bật của ngài là sự đơn sơ (72%), kiểu nói trực tiếp (67%), lưu tâm đến những người thấp kém (65%); Có 58% tín hữu xác tín rằng nhờ ngài mà Giáo hội sẽ được canh tân.
Tạp chí Time Magazine của Mỹ đã bầu ngài làm nhân vật của năm 2013, một sự nhìn nhận mà chỉ các giáo hoàng Gioan XXIII và Gioan Phaolô II mới có được. Tác giả Nancy Gibbs, mượn một nhận định nổi tiếng tại Hoa Kỳ về đức Gioan Phaolô II, ông viết: “Ngài thay đổi không những lời hát mà cả âm nhạc nữa [...]. Thật hiếm có một diễn viên mới nổi trên sân khấu quốc tế mà lại lôi kéo được sự chú ý của đông đảo giới trẻ cũng như những người cao tuổi, người tín hữu cũng như người vô thần trong một thời gian rất ngắn như thế1”. Người ta nói rằng “ca sĩ” Wojtyla hấp dẫn giới trẻ, nhưng không phải do bài hát của ngài, cũng không phải giáo lý ngài rao giảng. Còn đối với giáo hoàng Phanxicô, ngài làm cách khác. Dứt khoát âm nhạc phải khác. Tại Hoa Kỳ, đất nước đa tôn giáo, ngài được tổng cộng 79% người Công giáo và 58% dân chúng chấp nhận.
Tại Nga, nơi đa số theo Chính Thống hoặc vô thần, 71% dân chúng muốn ngài đến thăm. Tại Trung Hoa, khoảng 50 đại diện các phương tiện truyền thông, những hiệp hội ký giả, và những đại diện ngoại giao quan trọng đã bầu ngài là nhân vật thứ ba trong năm tại Diễn đàn Báo chí Quốc Tế Trung Hoa. Chưa bao giờ trong một quốc gia cộng sản như Trung Hoa, một nhân vật tôn giáo được nêu lên trong bản danh sách này.
Tại Roma, các buổi tiếp kiến chung vào các ngày thứ Tư là những sự kiện lớn, có thể kéo dài hơn ba tiếng đồng hồ. Ngay từ buổi tối hôm trước, các lối đi vào quảng trường đã bị giới hạn bằng rào chắn, và chính ngày thì con đường Hòa Giải hoàn toàn bị đóng. Giáo hoàng di chuyển bằng xe hơi không có kính chắn đạn, đôi khi ngài rời quảng trường để “đi vào” trong lãnh thổ Ý. Người lớn cũng như trẻ em hô to “Phan-xi-cô, Phan-xi-cô” với hy vọng được đụng chạm đến ngài. Họ tặng ngài khăn quàng cổ, tặng ngài ly nước mà có khi ngài cũng nếm một chút, họ đụng chạm đến chiếc mũ màu trắng của ngài. Khi nghe gọi, giáo hoàng quay lại, từ trên xe hơi ngài cúi xuống, vẫy tay chào như gặp một người bạn già vậy. Đôi khi ngài xuống khỏi xe. Nhìn thấy một người phụ nữ ngồi xe lăn có chiếc túi xách bị rơi xuống đất, ngài đã cúi xuống nhặt chiếc túi và tinh tế đặt lại chiếc túi trên đầu gối của bà.
Khán giả truyền hình còn nhớ hình ảnh chiếc xe giáo hoàng tại Rio de Janerio, bị kẹt cứng ở lối sân bay đi ra, chung quanh là đám đông không thể cản được. Hàng vạn người tràn ngập hàng rào an ninh, trong khi những người sát cận nhất thì thò tay qua cánh cửa chiếc xe hơi của giáo hoàng đang ngồi, vẻ mặt tươi cười. Ba ngày sau, ngày 25/07/2013, khi thăm khu dân nghèo Varginha ở Rio, giáo hoàng Phanxicô đã xuống khỏi xe để đi bộ dưới trời mưa trên những con đường lầy lội trong khu ổ chuột. Ngài vào cầu nguyện trong ngôi nhà nguyện dâng kính Đức Mẹ, rồi gõ cửa ngôi nhà số 81, như một ông cha xứ vào thăm gia đình ông bà Manoel José và Maria Luisa de Penha trong căn nhà lụp xụp của họ. Ngài trao đổi và cầu nguyện với họ. Ngài chúc lành và ôm hôn tất cả những đứa con trong gia đình, kể cả đứa bé mới sinh. Sau đó từ khán đài nhỏ dựng trên sân bóng của làng, ngài nói: “Tôi đã muốn gõ cửa từng nhà, chào thăm anh chị em, xin một ly nước, dùng một ly cà phê, một ly cafezinho [...], chứ không phải rượu cachaça, (một thứ rượu làm bằng mật mía)”. Dân chúng biết rằng ngài nói thực1.
Giáo hoàng Phanxicô tiếc vì không được tự do đi lại. Wojtyla cần khung cảnh thiên nhiên, Bergoglio muốn được tiếp xúc với con người. Ngài đã thú nhận với một ký giả: “Rất nhiều lần tôi muốn đi lại trên những con đường của Roma, bởi vì khi ở Buenos Aires tôi đã thích đi lại trên những con đường [...]2” Ngài dứt khoát từ chối bị cách ly, như thể bị nhốt trong chiếc lồng son. Nỗi ám ảnh này được diễn tả qua các thánh lễ buổi sáng chẳng hạn, ngài không dâng lễ một mình nhưng dâng lễ trong nhà nguyện tại nhà khách thánh Matta, cùng với một nhóm tín hữu. Các bài giảng trong lễ sáng của ngài, trong đó ngài thường đưa ra những sứ điệp quan trọng, là dịp để hằng ngày ngài nói chuyện với dân chúng.
Ngài giảm bớt ước muốn giao tiếp bằng việc viết thư và nói chuyện điện thoại. Ngài nhấc điện thoại, xin tổng đài Vatican nối tới một số nào đó, và đích thân tự giới thiệu với người nghe. Ngài gọi cho người bán báo tại Buenos Aires để hủy hợp đồng mua báo dài hạn, ngài gọi cho bác thợ đóng giầy để nói chuyện về đôi giầy đỏ của giáo hoàng mà ngài không mang, ngài gọi cho chị thu ngân tại một nhà sách hay cho một nhóm tù nhân mà ngài đang liên lạc. Những lần đầu, có một người trả lời điện thoại của ngài: “Nếu ông là giáo hoàng thì tôi là vua Napoléon1!”
Giáo hoàng Phanxicô muốn nghe được chung quanh mình không phải những tiếng nói của nghi lễ, mà là những tiếng nói của cuộc sống hằng ngày. Ngài trả lời rất nhiều tin nhắn gởi đến cho ngài. Ngài điện thoại cho cha mẹ của anh Andrea Ferri, người lính cứu hoả ở Pesaro bị giết trong một cuộc bố ráp; Ngài gọi cho cô gái bị bỏ rơi khi đang mang thai, cho em bé đã gởi tặng ngài bức hình vẽ, cho người phụ nữ bị cưỡng hiếp, cho một linh mục, cho đôi vợ chồng có hai đứa con đang bệnh, cho một người Achentina từng nghiện ma tuý (“chào anh Corvo, anh khỏe không?”), cho bà mẹ của cô Elisa Claps, cô sinh viên ở Potenza biến mất 16 năm rồi mới được tìm thấy đã chết trên trần một ngôi nhà thờ. Đó là cách ngài làm để cảm thấy mình là một linh mục, tiếp tục là cha xứ đường phố. “Thưa Đức thánh cha, con xin cám ơn” bà mẹ của Elisa đã trả lời ngài, bà rất đau lòng do sự thinh lặng quá lâu của cha Mimì Sabia, người chịu trách nhiệm nhà thờ Chúa Ba Ngôi nơi người ta đã tìm thấy xác con bà. “Đức thánh cha trả lại cho chúng con một Giáo hội mà chúng con đã từng tin tưởng.”
Ở Vatican cũng như trong hàng giáo sỹ trên khắp thế giới, người ta rất hài lòng vì tính bình dân của giáo hoàng, tính cách đang làm chấn động toàn Giáo hội. Nhưng phía hậu trường cũng đang nổi lên một sự bất mãn về cách thức mà giáo hoàng Phanxicô mỗi ngày làm giảm thiểu hình ảnh biểu tượng của ngôi giáo hoàng, một giáo hoàng tối thượng bất khả xâm phạm của Giáo hội Công giáo. Người ta nói rằng giáo hoàng Phanxicô có một cách sống quá “bình dân”. Cách đây 50 năm người ta cũng đã từng tố cáo đức Gioan XXIII như vậy, người ta đã nhạo ngài là một ông lão nhà quê so với tính cách trang trọng phẩm trật của đức Piô XII.
Rất nhanh chóng, trên các báo chí, xuất hiện những chỉ trích do lòng thù hận, của những người bảo thủ nhất tại giáo triều. Trên tờ Il Foglio, Giuliano Ferrara tố cáo giáo hoàng Phanxicô đã tỏ ra “quá nhân từ”, bỏ qua những vụ thảm sát do phá thai, không hiểu rằng tình trạng toàn cầu hóa và tự do hóa thị trường là giúp “giải phóng và tự do” cho đám đông thuộc thế giới thứ ba. Marcello Veneziani đã nêu lên nguy cơ giáo hoàng tự biến mình thành “bức tranh biếm hoạ”. Nhà xã hội học Gianfranco Morra công kích sự vắng mặt của ngài tại buổi hòa nhạc ở Vatican, cho rằng cách của ngài chỉ là “chủ nghĩa mị dân sáo rỗng”.
Nhà văn Công giáo Vittorio Messori, người đã phỏng vấn các giáo hoàng Ratzinger và Wojtyla, cũng châm biếm việc ngài kêu gọi sống nghèo. “Giáo hội nghèo, đó là một điều dại dột. Đức Giêsu đã không chết đói [...]. Ngài đã có những điều kiện kinh tế, thậm chí có một người quản lý là Giuđa Iscariôt, người sau đó đã phản bội ngài.” Áo dài của đức Giêsu cũng đắt tiền, “quân lính đã rút thăm xem ai được chiếc áo, vì chiếc áo đắt tiền. [...] Đức Giêsu đã ăn mặc như người Armani”1. Ngay những tháng đầu tiên, ông Messori đã lên truyền hình và đưa ra một nọc độc tinh vi: “Giáo hoàng càng ít phát biểu thì càng tốt hơn. Một số cuộc phỏng vấn trên máy bay, một số phát biểu ngẫu hứng có thể làm cho người ta giải thích sai lầm.” Tốt hơn nên trở về với “sự điềm tĩnh”.
Việc giáo hoàng Phanxicô quyết định không cử hành thánh lễ thứ Năm Tuần Thánh đầu tiên trong thánh đường Gioan Latêranô, nhưng cử hành nghi thức rửa chân trong nhà tù dành cho trẻ vị thành niên Casal di Marmo, đã khiến phe bảo thủ hết sức lúng túng. Một cái gai đối với thứ truyền thống được thần thánh hóa. Nhưng sự kiện giáo hoàng rửa chân cho hai người phụ nữ, một trong hai lại là người Hồi giáo, càng làm cho người ta khó chịu hơn nữa. Làm sao mà một nữ tín đồ Hồi giáo lại có thể hiện thân cho một trong mười hai tông đồ trong bữa Tiệc ly? Các đấng bậc thuộc nhóm truyền thống đã bình luận như thế tại Tòa thánh. Cha Gaetano Greco, tuyên uý trại tù, giải thích: “Trước đây ở Buenos Aires, hồng y Bergoglio còn cho các phụ nữ trẻ tham gia nghi lễ này. Như vậy là chúng ta đã đề nghị sự hiện diện của phụ nữ trong nhóm tông đồ. Sau một vài miễn cưỡng, nay Vatican đã chấp thuận”. Diễn biến đó cho thấy mối liên hệ qua các phản ứng giữa giáo hoàng và hàng giáo sỹ trong những sinh hoạt gần gũi nhất với cuộc sống thường nhật.
Với mười hai bạn trẻ - Công giáo, Chính thống và Hồi giáo -, giáo hoàng Phanxicô chỉ nói đơn giản: “Bây giờ chúng ta sẽ cử hành nghi thức rửa chân. Mỗi người trong chúng ta hãy suy nghĩ: Tôi có thực sự sẵn sàng giúp đỡ và phục vụ người khác không? Chỉ cần suy nghĩ về điều đó, thì cử chỉ này là một cử chỉ phát xuất từ lòng nhân ái của Chúa Giêsu.” Giáo hoàng Phanxicô nói về Chúa Giêsu, nhưng ngài không ngần ngại khích lệ các tín đồ của các tôn giáo khác hãy sống tốt đẹp theo niềm tin của mình. Tại Lampedusa – nơi ngài đã đến thăm sau tai nạn bảy người bị chết trong vụ đắm tàu và hàng chục người khác đã phải bám hàng giờ vào những chiếc thùng tại khu nuôi cá ngừ -, giáo hoàng đã cầu chúc khoảng năm chục người Hồi giáo tị nạn một tháng Chay Ramadan đem lại cho họ “dồi dào hoa trái thiêng liêng”.
Giáo hoàng Phanxicô không thích những chuyến đi. Lampedusa đã là chuyến đi đầu tiên tự ý của ngài ra khỏi Roma. Ngài đã cử hành thánh lễ tại một sân thể thao nhỏ, một chiếc thuyền dùng làm bàn thờ. Chén lễ và gậy giám mục được đẽo từ phần gỗ còn lại của chiếc thuyền bị nạn. Đức giáo hoàng dâng lễ mà không có vị chưởng nghi. Trong bài giảng, ngài cầm micro, giống như bao lần thời còn làm giám mục tại Achentina. Trên một ngôi nhà có treo tấm bảng viết: “Chào mừng ngài đến giữa chúng tôi”. Cay đắng hơn, một tấm bảng khác viết: “Giáo hoàng giảng về niềm hy vọng, trong khi các chính trị gia thì ăn uống.” Hoặc họ đưa ra những lời hứa vô liêm xỉ. Trong chuyến thăm hòn đảo này vào năm 2011, cựu Thủ tướng Berlusconi đã thông báo sẽ đưa ra luật miễn thuế, chương trình phát triển du lịch, thiết lập một khu vực tự do, khu casino, sân gôn và sẽ đưa hòn đảo trở thành ứng viên giải Nobel hòa bình...
Ở Lampedusa, giáo hoàng Phanxicô nói bằng thứ ngôn ngữ đơn sơ. Trong thánh lễ, ngài nói: “Tôi nghĩ rằng tôi phải đến đây để cầu nguyện, và còn để thức tỉnh lương tâm chúng ta, để những gì đã xẩy ra sẽ không bao giờ lặp lại nữa”. Bằng giọng nhỏ nhẹ, ngài tiếp: “Xin làm ơn...” Bài giảng của ngài hôm đó là một trong những bài giảng vang lừng nhất của giáo hoàng. “Nhiều người trong chúng ta, trong đó có cả bản thân tôi nữa, chúng ta đã đi sai đường, chúng ta không còn quan tâm đến thế giới trong đó chúng ta đang sống [...]. Ai phải chịu trách nhiệm về máu những những anh chị em này đổ ra? Không ai! tất cả chúng ta đều trả lời như thế : không phải tôi, tôi không có mặt ở đây [...]. Nhưng Thiên Chúa đang hỏi mỗi người chúng ta : “Máu của em ngươi đâu rồi? nó đang kêu đến Ta.” [...] Chúng ta đã đánh mất ý nghĩa trách nhiệm của những người anh em.” Giáo hoàng Phanxicô trình bày một thế giới trong đó mỗi người khép lại trong ảo tưởng “bọt xà phòng” của mình, khiến họ dửng dưng với người khác, thậm chí “toàn cầu hóa tính dửng dưng”. Giáo hoàng mời gọi hãy khóc cho sự tàn bạo đang nhan nhản trên khắp trái đất, “cả nơi những kẻ nặc danh đang đưa ra những quyết định kinh tế xã hội mở ra con đường dẫn đến những thảm trạng như hôm nay”.
Chuyến đi mà tự nhiên ngài thích thực hiện là chuyến đi đến những nơi nghèo khổ. Thành phố Atxidi là nơi ngài chưa đến bao giờ, nên ngài đã khởi hành từ sớm, và lúc 7g30 đã tới thăm Trung tâm Serafico dành cho người khuyết tật. Trong hơn một tiếng đồng hồ, ngài vuốt ve, ôm hôn khoảng một trăm người khuyết tật. Những thân thể không lành lặn, trẻ có già có, họ “không nói, không nghe, không đi bầu cử” và như thế bị xã hội bỏ quên, bà Francesca Di Maolo, Giám đốc Trung tâm phát biểu.
Giáo hoàng, mũ lưỡi trai đội lệch, đi đi lại lại giữa những bệnh nhân, dừng lại với từng người trong họ. Chi thể của họ bị vặn vẹo vì chứng co thắt, những người khép kín do chứng tự kỷ, đôi mắt không hồn, đầu lắc lư, trông thật ám ảnh. Đối với giáo hoàng Phanxicô, chính đôi bàn tay nói thay lời. Các ngón tay của ngài nắm lấy những cánh tay đưa ra, hoặc lùa sâu vào tóc của họ, mơn trớn má họ, ôm lấy vai họ, vẽ hình thánh giá nho nhỏ lên trán đang ớn lạnh của họ. Một đứa bé tự kỷ chặn ngài lại, ngài cũng kiên nhẫn nhìn theo những cử chỉ của em, em cứ cầm hai bàn tay ngài và đập vào nhau cách máy móc. Gần một tiếng đồng hồ, căn phòng bắt đầu vang lên những tiếng la hét không ngừng, những tiếng hò la, những tiếng gầm gừ. Giáo hoàng Phanxicô chậm rãi di chuyển từ ghế này sang ghế khác. Khi ngài không thể nói, thì ngài truyền đạt sự gần gũi giữa thân xác với thân xác.