Những bí mật trong mật nghị chống người Ý

Mật nghị 2013 là mật nghị chống người Ý. Hồng y Juan Luis Cipriani của Lima là một thành viên Opus Dei, biết ngay điều đó khi vừa đến Roma. Opus Dei dành cảm tình trước tiên cho hồng y Scola, nhưng họ không hy sinh cho một lý do thua thiệt. Hồng y Cipriani rất hiểu rằng các hồng y người Mỹ bị tác động bởi “tình cảm chống người Ý”, hơn nữa, bởi “định kiến” cho rằng vị tân giáo hoàng phải là một người Mỹ Latinh. Ngài cho biết thêm việc ác cảm với một giáo hoàng người Ý “còn lan sang cả các hồng y vùng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha”.

Roma hôm nay khác thường, các hồng y u châu và từ phía bên kia đại dương qui tụ về đây để quyết định vị kế nhiệm đức Bênêđictô XVI. Một Roma không có giáo hoàng, chỉ có sự hiện diện của nguyên giáo hoàng. Không có quan tài, không để tang, không có những nghi thức tôn vinh để vĩnh viễn khép lại quá khứ. Từ Castel Gandolfo, đức nguyên giáo hoàng theo dõi công việc chuẩn bị mật nghị.

Hàng giáo sỹ vẫn còn bị sốc bởi việc giáo hoàng từ chức. Trong chỗ riêng tư, một số hồng y cho rằng đức Ratzinger đã thiếu trách nhiệm khi mở ra con đường cho triều đại giáo hoàng có thời hạn xác định. Giấu sự bực mình, một hồng y trong giáo triều nói đùa: “Nếu được thì tôi sẽ thưa với ngài: ‘Thưa đức thánh cha, đức thánh cha cứ lấy một tháng hè đi nghỉ đi, rồi sau đó bớt công việc lại.’ Còn làm như thế này, đức thánh cha đã gây khó cho các vị kế nhiệm.” Hồng y Camillo Ruini vào cuộc: “Các quyết định của giáo hoàng không thể đưa ra mà tranh luận. Chúng ta đón nhận ngay cả khi các quyết định đó gây đau khổ cho chúng ta.”

Nhưng đối với tín hữu thì họ nhanh chóng chấp nhận cú sốc, và với tình người, họ thông cảm cho đức Ratzinger, ngay cả khi nhiều người vẫn thích cho rằng các giáo hoàng phải “bám trụ cho đến cùng, nếu ngài còn có khả năng”. Một tin nhắn nói lên sự rối loạn trong những ngày này: “Bây giờ phải chăng đến lượt Chúa cũng phải từ chức?” Người Roma thường có tính là để mình được hướng dẫn bởi bản năng của họ: “Tôi nghĩ rằng ngài làm như vậy là để thoát khỏi mọi người, chẳng phải sao?” Bà Tiziana, chủ một cửa hàng đối diện đền thánh Phêrô nói.

Lịch do đức Bênêđictô XVI xác định để một khoảng thời gian dài đặc biệt trước khi tổ chức mật nghị. Thông thường thời gian giữa cái chết của giáo hoàng cho đến kỳ họp mật nghị chỉ kéo dài khoảng 20 ngày. Lần này sự chờ đợi dường như vô tận. Một tháng trọn từ khi đức giáo hoàng thoái vị cho đến khi các hồng y vào nhà nguyện Sixtine. Trong thời gian đó có hai thời điểm: 28 tháng Hai, đức Bênêđictô XVI rời chức vụ; mồng 4 tháng Ba, khai mạc đại hội tất cả các hồng y, trong đó các ngài mổ xẻ tình hình Giáo hội.

Trước đại hội này, trong khi các hồng y nước ngoài đang từ từ tập trung về Roma, đã bắt đầu có các bàn tay can thiệp. Một hồng y giáo triều phát biểu cứng rắn khi ám chỉ hồng y Scola, tổng giám mục Milan: “Họ muốn có một giáo hoàng không phù hợp với chúng ta, chúng ta phải ngăn chặn ý định đó”. Một hồng y u châu nhớ lại: “Những ứng viên do người Ý đề cử thật là rắc rối.” Các hồng y từ xa đến thì kín đáo chấp nhận một ứng viên tỏ ra đã được chuẩn bị. Vụ Vatileaks khám phá ra tập tài liệu do hồng y Castrillón Hoyos đích thân gởi cho đức Bênêđictô XVI vào tháng 12/2011, càng làm cho sự bực tức lan rộng thêm. Đây là một lá thư khó hiểu, tố cáo một âm mưu chống lại vị giáo hoàng người Đức, thực ra lá thư đó nhằm gợi ý cho đức Ratzinger từ hai năm trước là “trong vòng 12 tháng” hãy từ chức. Mục đích thứ hai của lá thư là để tấn công hồng y Scola: “Đức giáo hoàng đã bí mật tìm người kế vị và […] chuẩn bị cho nhân vật đó, một cách chậm chạp nhưng chắc chắn […], đón nhận trách vụ giáo hoàng.” Lịch sử các mật nghị cũng có những kiểu âm mưu như thế.

Có 28 vị hồng y người Ý có quyền bầu trong mật nghị. Theo danh sách thì họ sẽ làm thành một nhóm tuyệt vời để áp đảo nếu họ đoàn kết. Cũng có một mối bất bình mơ hồ bất lợi cho họ trong những năm gần đây. Các hồng y ngoại quốc thì mệt mỏi với sự sa sút của giáo triều và những cuộc đấu đá giữa anh em trong nhà, được bày ra công khai khi mà các tài liệu bí mật được phổ biến trên báo chí quốc tế.

Khác với năm 2005, mật nghị lần này không có nhân vật nào nổi bật trong dư luận như trường hợp ứng viên Ratzinger và Martini trước đây. Trong bầu khí bối rối, các hồng y muốn vẽ ra khuôn mặt vị giáo hoàng lý tưởng. Trong hơn một thế kỷ, Giáo hội Công giáo đã nổi lên về uy tín và ảnh hưởng: từ đức Leô XIII đến Piô XII, từ Gioan XXIII đến Phaolô VI rồi Gioan Phaolô II. Sau cùng dưới triều đại Ratzinger xảy ra những phản ứng dữ dội, xen lẫn những khủng hoảng liên tục. Riêng tại Ý, mức độ đánh giá của người dân đối với đức Bênêđictô XVI đã rơi xuống 39% vào năm 2012, theo thăm dò của Eurispes.

Khi bắt đầu tìm kiếm nhân vật kế nhiệm giáo hoàng Ratzinger, hồng y đoàn lại gặp phải một thử thách mới: cú sốc xì căng đan tình dục của hồng y Keith O’Brien, tổng giám mục giáo phận Édimbourg và chủ tịch HĐGM Scotland. Ba linh mục và một cựu chánh xứ đã tố cáo ngài về tội quấy rối tình dục trong những năm 1980. Một vị đã nhận O’Brien làm linh hướng nhưng đã bị O’Brien quấy rối sau giờ kinh Chiều, vị khác cũng bị O’Brien quấy rối trong giáo xứ của ngài, một vị nữa bị quấy rối trong tòa tổng giám mục nơi vị linh mục được mời đến nghỉ hè, chuyện xảy ra vào buổi tối sau khi họ uống nhiều rượu. Họ khẳng định đã phải chấp nhận im lặng vì sợ ảnh hưởng đến công việc. Một trong những người tố cáo cho biết đã giữ mối quan hệ thường xuyên trong nhiều năm với đức hồng y, và thường được mời đến tòa giám mục Edimbourg.

Chúng ta đang ở vào thời điểm ngày 23 tháng Hai, năm ngày trước khi đức Bênêđictô XVI về hưu. Hồng y O’Brien bác bỏ những cáo buộc. Hai mươi bốn tiếng đồng hồ sau đó, linh mục Federico Lombardi, phát ngôn viên tòa thánh, tuyên bố: “Giáo hoàng đã được thông tin, ngài đang giải quyết vụ việc.” Đức Bênêđictô XVI đã hành động một cách hết sức nhanh chóng. Bốn đơn tố cáo đã được chuyển đến giám mục Antonio Menini, Sứ thần Tòa thánh tại Anh Quốc, một tuần trước ngày giáo hoàng thoái vị. Không có dấu hiệu nào cho thấy vụ việc này được dàn dựng nhằm tác động lên mật nghị sắp tới.

Giáo hoàng đưa ra cho hồng y xứ Scotland một quyết định tiêu biểu. Trang mạng của Đài phát thanh Vatican ngày 25 tháng hai công bố: “Hồng y O’Brien sẽ không tham dự mật nghị”. Đức hồng y rời giáo phận Edimbourg và ngày 03/03 gởi lời xin lỗi vì “thái độ tình dục không xứng hợp với những gì mà chức vụ linh mục, tổng giám mục và hồng y đòi buộc”.

Vụ hồng y O’Brien và hình phạt dành cho ngài gây nên một cú sốc nơi các hồng y đã đến Roma. Từ khi giáo hoàng từ nhiệm, những thông tin chưa từng nghe cứ tiếp theo nhau bị lộ, cho thấy tình trạng khẩn cấp của Giáo hội Công giáo. Cũng trong thời điểm đó, lại nổ ra vụ tranh cãi về một hồng y khác có quyền bầu cử, hồng y Roger Mahony, tổng giám mục Los Angeles từ 1985 đến 2011. Dưới thời của ngài, hơn 120 vụ lạm dụng tình dục đã được xác định trong giáo phận. Khi tòa án yêu cầu tòa tổng giám mục công bố những thư từ giữa đức hồng y với giám mục phụ tá của ngài, Thomas Curry, thì những can thiệp của Mahony nhằm đánh lạc hướng công lý đã bị phanh phui.

Tân tổng giám mục Los Angeles, đức cha José Gómez, phản ứng và cách chức vị tiền nhiệm khỏi mọi trách vụ công khai, ngài còn cho biết thật “đau đớn và tàn nhẫn” khi đọc những tài liệu trên, mặc dù về sau Vatican đã yêu cầu ngài phải công khai làm hòa với hồng y Mahony.

Trong số những vụ đè nặng lên vai hồng y Mahony, có việc không tố cáo cho cảnh sát về cha Kevin Barmasse, người đã sử dụng một cách có hệ thống những thức uống có cồn để ép các trẻ em mà ngài lạm dụng. Tiếp đến là vụ linh mục Michael Baker, sau đó đã hồi tục, ông này vào năm 1996 thú nhận đã lạm dụng tình dục với hai anh em trong vòng gần bảy năm (người anh 14 tuổi, người em 10 tuổi). Baker được gởi đi điều trị tại New Mexico và khi trở lại Los Angeles, đã nhận công tác mục vụ, như vậy, ông có cơ hội chính thức tiếp cận riêng tư với các trẻ em, khiến ông lại tiếp tục phạm tội lạm dụng tình dục trẻ em.

Tại Hoa Kỳ, hội Công giáo Hiệp nhất phổ biến một thỉnh nguyện đề nghị không cho phép hồng y Mahony tham dự mật nghị. Tại Ý, tờ báo Công giáo Famiglia cristiana làm một bản thăm dò dư luận độc giả xem có nên cho vị hồng y này được tham dự mật nghị không; Đa số không chấp nhận. Hoan hô. Ngay tại Vatican, một số đề nghị ngài nên xin về hưu. Hồng y Velasio De Paolis, uỷ viên hội Đạo binh Đức Kitô bình luận: “Chúng tôi khuyên Mahony đừng nên tham dự mật nghị1”. Dù vậy, hồng y Mahony vẫn về Roma.

Theo đà con sóng các cuộc tranh cãi, Snap, một tổ chức người Mỹ bảo vệ các nạn nhân bị lạm dụng tình dục, còn đưa ra một bản danh sách đen gồm 12 vị hồng y khác, những vị này đang có quyền đi bầu. Cha Lombardi, phát ngôn viên tòa thánh, đáp lại một cách cứng rắn: “Không phải Snap có quyền quyết định ai sẽ tham dự mật nghị.” Thế nhưng điểm mới lạ trong khoảng thời gian trống ngôi này, đó là không có gì là không thể bị đụng chạm tới. Các phương tiện truyền thông, dư luận, điều tra báo chí, là những yếu tố mà Giáo hội Công giáo không thể bỏ qua. Quốc vụ khanh tòa thánh phản ứng một cách nóng nảy bằng một thông báo tố cáo âm mưu muốn tạo ảnh hưởng trên việc bầu cử giáo hoàng mới. Còn hồng y Sodano, niên trưởng hồng y đoàn, vẫn giữ im lặng.

Hai vụ xì căng đan đó càng tăng thêm áp lực buộc Giáo hội phải bước vào một giai đoạn hoàn toàn mới mẻ. Ý kiến phổ biến nhất cho rằng người kế vị đức Bênêđictô XVI phải là một người có khả năng điều khiển con thuyền Giáo hội. Hồng y Cormac Murphy-O’Conor, người Anh, phát biểu: “Chúng tôi cần một vị có khả năng lãnh đạo”. Hồng y George Pell, người Úc, thân cận với đức Ratzinger, tuyên bố: “Vị giáo hoàng sắp tới đương nhiên phải là một nhà thần học giỏi, nhưng tôi thích một người thực sự có khả năng hướng dẫn Giáo hội và qui tụ Giáo hội1.” Hồng y người Cuba Jame Ortega còn thêm: giáo hoàng phải là một người có “kiến thức về thế giới hiện đại, trong lãnh vực triết học cũng như chính trị2”. Cần phải xây dựng lại tính khả tín cho Giáo hội, hồng y người Nam Phi Wilfrid Fox Napier ghi nhận.

Như vậy điều ưu tiên nhất là phải tổ chức lại việc điều hành Giáo hội. Các hồng y ngoại quốc phàn nàn về một cơ cấu có vẻ ngột ngạt, thiếu trật tự, yếu ớt do nhân sự thiếu chuyên nghiệp, chưa nói tới những xì căng đan tài chánh. Không phải chỉ có các hồng y bên ngoài, chính giáo triều cũng chia sẻ sự không hài lòng này, vì nhiều lý do. Đa số các hồng y không đồng ý với việc dành quyền quá đáng cho Quốc vụ khanh. Họ thấy việc thay đổi giáo hoàng là một cơ hội để xếp đặt lại mọi thứ. Họ tiếc vì đã không thường xuyên gặp gỡ giáo hoàng Ratzinger. Họ chỉ trích tác hại ảnh hưởng đến việc điều hành Giáo hội do việc cô lập giáo hoàng khiến ngài không gặp được tất cả các người có trách nhiệm trong các bộ tại giáo triều, các giám mục viếng thăm ad limina, cũng như các sứ thần ghé qua Vatican.

Trong các phát biểu cuối cùng của đức Bênêđictô XVI, chính ngài cũng mong có những thay đổi. Dịp cử hành nghi thức lễ Tro, ngài tố cáo những chia rẽ trong Giáo hội và nêu bật “chủ nghĩa cá nhân và cạnh tranh1”. Trong diễn văn từ biệt, ngày 28/02, ngài kêu gọi phải can đảm: “Giáo hội là một thực thể đang sống […] và đang hình thành2”, Giáo hội tiến bước bằng cách biến đổi chính mình.

Tuổi tác cũng đóng một vai trò trong việc chọn người kế vị. Nhiều hồng y mong muốn một ứng viên từ 60 đến 70 tuổi. Theo họ, Giáo hội không thể cho phép một triều đại giáo hoàng quá ngắn. Triều đại Giáo hoàng Phaolô VI là lý tưởng: mười lăm năm. Còn hai mươi năm, như trường hợp giáo hoàng Piô XII, là dài. Hai mươi bảy năm như đời giáo hoàng Gioan Phaolô II là ngoại lệ. “Chúng tôi muốn một đức thánh cha, chứ không muốn một người cha sống mãi đời đời”, họ nói đùa.

Mọi người đều tìm một giáo hoàng có khả năng điều hành. Trong nhiều ngày, người ta thấy con số các ứng viên tăng dần. Hồng y Philippe Barbarin, người Pháp, người mà mỗi sáng ở Roma người ta thấy đi vào Vatican bằng xe đạp, châm biếm như sau: “Có ít người đi bầu nhưng có quá nhiều người có thể làm giáo hoàng3”. Người ta nhắc đến danh tánh các hồng y Marc Ouellet, người Canada, Bộ trưởng Thánh bộ các Giám mục; Péter Erdo, Chủ tịch HĐGM Hungari; Peter Turkson người Phi châu; Gianfranco Ravasi, người Ý, Chủ tịch Uỷ ban Văn hóa tòa thánh.

Các hồng y Erdó và Ouellet đều xuất thân từ trường phái Ratzinger, với tờ báo Communio, do đó vẫn khó khăn nếu đa số hồng y đòi hỏi phải có một sự đoạn tuyệt với quá khứ. Ngày 04 tháng Ba, bắt đầu các cuộc họp khoáng đại của các hồng y. Một hồng y nhớ lại “trong các cuộc tranh luận, điểm chính vẫn là những chỉ trích giáo triều. Người ta không nêu đích danh, nhưng vấn nạn về giáo triều cứ trở đi trở lại mãi. Chỉ có ba hoặc bốn phát biểu bệnh vực cho giáo triều.”

Một vị kỳ cựu như hồng y Roger Etchegaray, Đại sứ Lưu động của đức Gioan Phaolô II tại những khu vực có khủng hoảng, đã diễn tả tâm trạng của nhiều vị hồng y tham dự mật nghị như sau: “Người ta cảm thấy việc thay đổi giáo hoàng sẽ là cơ hội để canh tân mọi sự.” Một hồng y người châu u còn xác định: “Từ lâu nay, người ta vẫn mong có tính liên tục giữa các giai đoạn, nhưng sau những biến cố trong mấy năm vừa qua, thì cảm nhận chung là: “không bao giờ lặp lại như vậy nữa!” phải có một làn khí mới, chúng ta phải ra khỏi cái thế giới nhỏ hẹp này.”

Một số người từ bên ngoài thì thích các ứng viên năng nổ và có tính nhân bản, chẳng hạn hồng y Sean O’Malley, giáo phận Boston, - với bộ râu trắng và khuôn mặt cởi mở, đi săng đan, mặc áo dòng Capucino -, hay hồng y người Philippines Luis Antonio Tagle, được gọi là “Roncalli của Manilla”. Nhưng Tagle mới xấp xỉ 57 tuổi. Tốt hơn nên để ngài chờ thời điểm của ngài, một số người đã tiên tri như thế.

Trong những tuần lễ trước mật nghị, tên của hồng y Bergoglio chưa nằm trong danh sách được bàn tới. Đây là một nhân vật đã nổi tiếng và được yêu quí – nhất là từ kết quả các cuộc bầu cử trong mật nghị năm 2005. Năm 2001, ngài đã được bầu với kết quả tuyệt đối vào ban cố vấn Thượng HĐGM và đã đem lại một số thành công với tư cách là tác giả bản văn cuối cùng của HĐGM Mỹ Latinh tại Aparecida vào năm 2007 -, nhưng người ta nhận định tuổi ngài đã quá cao.

Sinh năm 1936, năm nay đã ngót 77 tuổi, hơn kém độ tuổi của Ratzinger khi được bầu làm giáo hoàng. Hồng y Renato Martino lúc đó là chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình, thú nhận “trước mật nghị, tuyệt nhiên tôi không nghe nhắc đến ngài, ngay cả bởi các hồng y Mỹ Latinh”.

Jorge Mario Bergoglio nghĩ rằng đời mục vụ của mình đã gần kết thúc. Ngài nghĩ vị giáo hoàng sắp tới sẽ chuyển đổi công tác cho ngài, vì thời hạn kéo dài thêm hai năm dành cho chức chủ tịch HĐGM sau khi qua tuổi 75 đã gần kết thúc. Ở Buenos Aires, các cộng sự viên thấy ngài đôi khi chán nản. “Những năm gần đây, tôi thấy ngài mệt mỏi, kiệt sức, ngài cũng sắp về hưu rồi còn gì”, cha Guillermo Marcó, cựu phát ngôn viên của ngài kể lại. Tháng 11/2012, một năm trước ngày giáo hoàng Bênêđictô XVI thoái vị, Don Pedro Baya thấy hồng y Bergoglio đi vào làng Ramón Carrillo dáng vẻ “mệt mỏi, kiệt sức”, nên muốn chụp một tấm hình, ông nói “tôi sợ rằng không còn được nhìn thấy ngài.” Bất ngờ, Bergoglio nhớ tới một linh mục vốn là một viên chức trong làng, cha Vernazza. Người ta đưa đến cho ngài tấm hình của vị linh mục này, và ngài tuy là một người thường kép kín, đã xoa tay lên tấm hình chân dung cha già và khóc2. Đã chuẩn bị tâm lý để về hưu, nên hồng y Bergoglio đã giữ một căn phòng trong nhà hưu dành cho các linh mục cao tuổi tại Flores, nơi sinh trưởng của ngài. Hồng y Jorge đến Roma với vé khứ hồi, sau khi đã ghi âm sứ điệp phục sinh truyền thống của tổng giám mục dành cho đài phát thanh giáo phận Buenos Aires, kênh 21.

Bergoglio đã có một ứng viên trong đầu: hồng y O’Malley của Boston, người nổi bật vì những hành động chống lại các linh mục lạm dụng tình dục trẻ em trong giáo phận ngài. Ngay cả trước khi đi Roma, tổng giám mục Buenos Aires đã có một ý tưởng rõ ràng về hồ sơ cá nhân của vị giáo hoàng sắp tới: một người cầu nguyện, một giáo hoàng xác tín rằng thủ lãnh Giáo hội là Chúa Kitô chứ không phải chính giáo hoàng, một giám mục có lối sống làm chứng cho tình người và xây dựng sự hiệp thông”1. Điều đó, trước khi lên đường, ngài đã chia sẻ với một nhóm giáo sỹ thuộc phong trào Schoenstatt.

Ở Bắc Mỹ, một hồng y khác cũng đến Roma với ý tưởng trong đầu là chọn Bergoglio làm ứng viên tuyệt vời nhất: đó là hồng y O’Malley. Tổng giám mục Boston, nói trôi chảy tiếng Tây Ban Nha và đã thành lập một tổ chức trợ giúp cho người nhập cư gốc Tây Ban Nha, hồng y O’Malley biết rằng nhiều hồng y khác ở Nam Mỹ cũng chia sẻ quan điểm đó với ngài: chẳng hạn hồng y Cláudio Hummes, người Braxin, gần gũi với thần học giải phóng, và công kích mạnh mẽ chống lại giáo triều Roma sau khi đã làm việc ba năm tại đây trong vai trò Bộ trưởng Thánh bộ Giáo sỹ, từ 2006 đến 2010, trong thời gian đó ngài đã chẳng thể thay đổi được gì; hoặc hồng y Óscar Rodríguez Maradiaga, người Honduras, và hồng y Francisco Javier Errázuriz, người Chilê.

Mối liên hệ gặp gỡ giữa các hồng y của Bắc và Nam Mỹ được thực hiện một cách rất chậm chạp, trong bầu khí bị phân mảnh của thời kỳ trước mật nghị 2013. Theo chính hồng y O’Malley, thì hồng y Timothy Dolan, vị tổng giám mục đầy năng lực của New York, đứng hàng đầu nhóm hồng y Hoa Kỳ, chỉ đại diện cho 10% mật nghị. Khi di chuyển, mười một hồng y Bắc Mỹ đi thành một nhóm, họ đến dự các cuộc họp khoáng đại tại Vatican trên cùng một chuyến xe, và thậm chí tổ chức nhiều cuộc họp báo để thông báo về những bước tiến qua các cuộc tranh luận tại các cuộc họp. Sau hai ngày, Vatican yêu cầu họ ngưng những cuộc họp báo như thế, vì buộc phải giữ bí mật nội dung các cuộc họp này.

Các hồng y người Mỹ chia rẽ nhau về ứng viên họ thích, nhưng họ có một chương trình chung, nhờ đó thuyết phục được lá phiếu nhiều hồng y khác. Họ yêu cầu phải có sự minh bạch và trật tự hơn nữa trong các vấn đề tài chánh của Vatican; làm sạch tận gốc ngân hàng Vatican (IOR); canh tân giáo triều theo hướng đơn giản hóa hành chánh và loại trừ thói bàn giấy; sau cùng, - một đòi hỏi quan trọng của rất nhiều giám mục -, đó là tái cân bằng mối tương quan giữa Tòa thánh và các Hội đồng Giám mục. Họ trông đợi vị giáo hoàng sắp tới sẽ tham khảo các giám mục nhiều hơn và thường xuyên hơn.

Đây là nguyên tắc “tông đoàn” (collégialité) đã được Vatican II khẳng định từ năm mươi năm trước, nhưng chưa được áp dụng. Hồng y Walter Kasper người Đức, chỉ còn bảy ngày nữa là đến ngưỡng giới hạn các hồng y 80 tuổi không được tham dự mật nghị, nói: “Phải có một phương cách mới trong việc điều hành Giáo hội […], phải mở rộng chân trời hơn nữa.”

Hồng y Dolan đã soạn một bản tường trình tuyệt vời gởi Sứ thần tòa thánh tại Hoa Kỳ là tổng giám mục Viganò, nguyên Tổng thư ký Phủ thống đốc Vatican, người bất ngờ bị đưa sang Washington sau khi tiết lộ những vụ ăn cắp tại căn phòng của đức giáo hoàng. Theo văn hóa Anh, ăn cắp tiền bạc của chung là điều không thể chấp nhận được. Tổng giám mục Viganò là “một người không sợ nói ra sự thật và nêu lên những gì cần phải cải tổ trong Giáo hội”, hồng y Dolan đã khen như thế trên tờ New York Times.

Vatileaks cũng đè nặng tình hình trước mật nghị, mặc dù các hồng y không nhận được những thông tin về bản điều tra do ba vị hồng y là Herranz, Tomko và De Giorgi thực hiện theo lệnh đức Bênêđictô XVI.

Một nhóm hồng y khác cũng tìm một ứng viên có khả năng thực hiện cuộc thay đổi triệt để: nhóm các hồng y theo hướng cải tổ thuộc vùng nói tiếng Đức. Đó là các hồng y Christoph Schönborn của Vienna; Karl Lehmann, chủ tịch HĐGM Đức trong nhiều năm; Walter Kasper, người Đức, nguyên chủ tịch hội đồng Hiệp nhất Kitô hữu; cũng như hồng y Godfried Danneels, người Bỉ.

Trong 35 năm dưới triều các giáo hoàng Wojtyla và Ratzinger, những tiếng kêu gọi cải tổ Giáo hội mạnh nhất đến từ vùng nói tiếng Đức. Ngay cả năm 2011, khi giáo hoàng Bênêđictô XVI viếng thăm nước Đức, một bản tường trình của các nhà thần học nam cũng như nữ, nhắc phải khẩn trương mở ra trong Giáo hội một thời kỳ cải tổ và tham gia. Cùng năm đó, tại Áo, một số linh mục đã công bố lời kêu gọi “bất tuân phục” để nêu lên quyền các linh mục được kết hôn, phụ nữ được làm linh mục, người giáo dân được tham gia vào công việc điều hành các cộng đoàn nơi không có cha xứ. Hồng y Schönborn từ lâu đã yêu cầu Vatican phải đối mặt với những vấn nạn cháy bỏng này, nhưng vẫn chỉ là im lặng.

Thời điểm thực hiện cuộc thay đổi đã tới. Cho dù tới đầu tháng Ba, vẫn chưa rõ ai là ứng viên tốt nhất. Hồng y Lehmann ghi nhận có một sự thay đổi sâu xa trong bầu khí các cuộc họp so với thời điểm 2005. Năm đó, ứng viên Ratzinger đã được các hồng y giáo triều đề cao và ưu thế ngả về Âu châu là điều không thể bàn cãi. Năm 2013 thì không như thế. Hồng y Lehmann chia sẻ với các cộng tác viên như sau: “Âu châu không còn giữ cùng một vai trò như trước kia. […] Ở mật nghị 2005, các hồng y châu Âu tỏ ra chắc chắn hơn, uy tín hơn, từ nay tình hình không còn như thế nữa. Nhiều nhân vật đứng đầu trên bảng danh sách, là những người không phải châu Âu. […] Họ nói được tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha và biết rất rõ những vấn đề của Giáo hội châu Âu, các vụ lạm dụng, những lệch lạc của Giáo hội.”

Còn một tuần nữa khai mạc mật nghị, mặc dù chưa có một ứng viên nào được mọi người đồng ý cách nổi bật, nhưng nhóm người Đức đưa ra hình ảnh rõ ràng về một giáo hoàng họ ước mong. Theo họ, vị giáo hoàng “phải là một người có niềm tin, trình bày được tin có nghĩa là gì. Ngài phải xa tránh những thái cực, đứng ở “trung dung” hợp lý, thức thời, cởi mở, tích cực […] và không khép mình lại trong độc thoại.”

Dù thế, việc tách ra khỏi Âu châu, cái trục mà chung quanh đó Kitô giáo và Công giáo đã lớn lên và được củng cố - dựa theo hệ thống tổ chức của đế quốc Roma -, sẽ là một thay đổi của thời đại. Để thực hiện điều đó, các hoàng tử của Giáo hội, những người đang nắm vận mệnh của mật nghị, còn cần phải trao đổi và suy nghĩ thêm nữa. Mặc dù ngày bầu đã gần đến, ứng viên Bergoglio vẫn chưa nổi lên. Hồng y người Úc Pell vẫn đinh ninh rằng chức giáo hoàng sẽ không ra khỏi nước Ý: “Cho dù không tìm được một ứng viên người Ý đầy đủ điều kiện, thì tôi vẫn nghĩ rằng đó là một ứng viên tốt nhất.” Ngài còn tiên báo: “Việc bầu một giáo hoàng Mỹ Latinh chưa thể có trong vòng một trăm năm tới.”

Một số chuyển động tại giáo triều cũng đóng góp cho sự thay đổi. Khác với hình ảnh do truyền thông vẽ ra, giáo triều không hoàn toàn bị cắt xẻ theo những lập trường cứng ngắc, nhưng cũng ít đồng nhất hơn bao giờ hết. Các nhóm hồng y tại giáo triều vẫn phát triển độc lập. Chỉ có một nhóm là phò ứng viên người Ý Scola. Các hồng y giữ vai trò quan trọng vẫn công khai cổ võ cho sự cần thiết phải can đảm mở ra ngoài biên giới châu Âu. Hồng y Giovanni Lajolo, cựu Bộ trưởng Ngoại giao tòa thánh, không ngần ngại tuyên bố: “Không gì cản trở việc giáo hoàng và quốc vụ khanh không phải là người Ý.”

Hồng y Lajolo thuộc nhóm ngoại giao, được nuôi dưỡng bằng những bài học của đức Phaolô VI và của hồng y Agostino Casaroli. Những “nhà ngoại giao” này chủ trương quốc tế hóa việc quản trị trung ương của Giáo hội mà giáo hoàng Montini đã khởi sự. Sau một giáo hoàng gốc Slave và một giáo hoàng gốc Đức, hai vị này đã lấp đầy một cách biểu tượng khoảng cách biệt thời chiến tranh lạnh tại châu Âu, họ mong rằng đến lúc phải trao quyền lại cho người Công giáo phía bên kia Đại Tây Dương.

Ngay cả phe của hồng y Bertone cũng thấy hết sức cần thiết phải mở ra một mùa mới. Để khỏi phải đứng bên lề, cần phải thay đổi mọi thứ. Hồng y Bertone đề nghị một ứng viên Nam Mỹ nặng ký: Odilo Sdherer, tổng giám mục São Paolo, Braxin, đất nước có số Công giáo đông nhất thế giới. Là người con của di dân người Đức, có độ tuổi lý tưởng theo tiêu chuẩn của mật nghị - sáu mươi ba tuổi – Scherer là một người hoàn toàn chính thống, quan tâm đến những vấn đề xã hội, dấn thân vào việc bảo vệ vùng Amazone trước những vụ đầu cơ của các đại công ty nông sản. Song song, ngài cũng tham gia nhiều vào giáo triều, thành viên bộ Giáo sỹ, và nhất là thành viên Uỷ ban Kiểm soát Ngân hàng Vatican (IOR).

Kết cục, chính điều đó lại gây bất lợi cho ngài. Thực vậy, trong các cuộc họp trước mật nghị, cháy lên vấn đề về trách nhiệm trong những vụ việc đáng tiếc tại ngân hàng Vatican, hồng y Scherer đứng lên bênh vực cho giáo triều, khiến người ta có cảm tưởng rằng đây không phải là một người có khả năng cải tổ

bộ máy Vatican.

Scola hay Scherer, cả hai vị đều được nhắm tới trong cuộc bầu cử tại nhà nguyện Sixtine, được xác định vào ngày 12 tháng Ba. Vài ngày trước khi thoái vị, đức Bênêđictô XVI đã tiếp các giám mục vùng Lombardie, ngài khuyến khích họ “hãy là trái timđầy niềm tin của châu Âu […], là ánh sáng cho mọi người”. Lời chúc này được giải thích như phò cho ứng viên Scola. Cha Georg, anh của nguyên giáo hoàng về sau đã kể lại cho tờ Muencher Merkur : “Trong nhóm theo Ratzinger, người ta muốn người kế vị phải là người Ý”. Tuy nhiên, các hồng y người Mỹ đã có một quyết định mang tính chiến lược. Họ cũng có nhiều ứng viên nặng ký: ngoài O’Malley, họ còn có hồng y Dolan hay Donaled Wuerl, giáo phận Washington.

Nhưng các vị này không muốn được bầu, chỉ muốn là những người tạo vua hơn là ứng viên. Thay mặt cho cả nhóm, hồng y Wuerl giải thích các động cơ chính trị của mình: “Một giáo hoàng xuất thân từ Hoa Kỳ, một đất nước siêu quyền lực, sẽ gặp rất nhiều trở ngại để có thể giới thiệu cho thế giới về một sứ điệp siêu nhiên.” Lưu ý đến quan điểm này, các hồng y O’Malley và Dolan tiếp tục tiếp xúc với hồng y Maradiaga.

Sau cùng, ý định lấy lại Bergoglio sau thất bại ở mật nghị 2005 được hình thành khá muộn. “Chúng tôi chỉ thực sự nghĩ đến ngài sau các cuộc họp tiền mật nghị, khi chúng tôi hiểu rằng không có ứng viên nổi nang nào có thể đạt được đa số cần thiết”, một vị trong nhóm của ngài nhớ lại. Ước lượng này chỉ giới hạn trong vòng một số ít người. Không ai nghĩ đến khả năng tổng giám mục Buenos Aires là một ứng viên.

Khúc quanh xảy ra vào ngày thứ Năm 07/03, khi các cuộc họp chung đã đi được một nửa chặng đường. Hồng y Bergoglio phát biểu trong phiên họp buổi sáng. Ngài bỏ qua bản văn soạn sẵn để ứng khẩu. Ngài kêu gọi một Giáo hội ra khỏi chính mình […] để đến các vùng ngoại biên, không chỉ về địa lý mà còn về nhân sinh”. Theo ngài, rất nhiều tệ đoan trong các cơ cấu Giáo hội “bắt nguồn từ việc Giáo hội lấy mình làm điểm quy chiếu, một thứ bệnh tự yêu mình mang thêm nét thần học”. Một Giáo hội khép kín sẽ “trở nên bệnh hoạn”. Trước hồng y đoàn, tổng giám mục Buenos Aires trình bày về hai mẫu hình của Giáo hội: “Một Giáo hội loan báo Tin Mừng khi ra khỏi chính mình […] và một Giáo hội mang tính thế tục khi sống trong chính mình, bằng chính mình và cho chính mình.” Hồng y Bergoglio nêu lên cơ hội “phải thay đổi những gì có thể và phải cải tổ nhằm cứu độ các linh hồn”. Cuối cùng, ngài phác hoạ chân dung một vị giáo hoàng năng động, với khuôn mặt tươi cười, khuôn mặt của một Giáo hội “là người mẹ giàu niềm vui ngọt ngào và an ủi của Tin Mừng”.

Phát biểu của ngài gây ấn tượng mạnh. Hồng y người Cuba Jaime Ortega ngay lập tức xin những ghi nốt của hồng y Bergoglio để phổ biến sứ điệp của mình. Nhiều hồng y yêu thích phong cách của vị hồng y người Achentina: khiêm tốn, đơn giản, cả việc ngài xa lạ với công việc giáo triều cũng như xa lạ với những bàn thảo tiền mật nghị. Chính từ đó ứng viên Bergoglio bắt đầu nổi lên như cồn. Hai ngày sau, trong căn phòng trọ của hồng y AttilioNicora, người Lombardia, có cuộc họp các hồng y Francesco Coccopalmerio và Giuseppe Bertello, người Ý; Murphy O’Connor, người Anh; Tauran, người Pháp và Kasper, người Đức. Họ cùng nhau quyết định giới thiệu ứng viên Bergoglio và liên kết với các hồng y người Hoa Kỳ, Mỹ Latinh và Đức để phò cho việc thay đổi. Hồng y O’Connor sẽ tiếp xúc với các cử tri nói tiếng Anh.

Bergoglio biết rằng mình đã được các hồng y cử tri đặt vào tầm nhắm. Chúa nhật 10/03, vào buổi tối, ở quảng trường Navone, ngài gặp cha Tom Rosica, giám đốc đài Muối và Ánh Sáng, một đài truyền hình Công giáo Canada. “Xin cha cầu nguyện cho tôi! ngài nói. – Đức cha bị căng thẳng lắm à? Rosica hỏi, - Căng thẳng đôi chút… tôi không biết các hồng y đang chuẩn bị gì cho tôi”.Tuy nhiên ở lần bầu phiếu đầu tiên tại mật nghị, thứ Ba 12/03, Bergoglio chỉ được gần 20 phiếu bầu (theo một số nguồn tin thì là 16), điều đó khiến các hồng y phò ngài đâm hoảng. “Chúng tôi thất vọng, và chúng tôi sợ rằng mình thất bại” một hồng y trong nhóm nhớ lại. Nhưng sang thứ Tư, buổi sáng, các ứng viên Scola và Scherer tụt lại. Theo một số nguồn tin chưa chắc chắn, hồng y Scola vào mật nghị với số phiếu từ 20 đến 30 phiếu, trong số đó có phiếu của các cử tri Bắc Mỹ và Nam Mỹ, ngài không tưởng tượng được các đối thủ đã gây khó khăn cho ngài như thế nào, khi họ nói cho các hồng y từ ngoại quốc biết những vụ việc liên hệ đến tờ Communion và giải phóng, cũng như mối quan hệ đáng ngờ của ngài với Berlusconi.

Các đối thủ của hồng y Scherer người Braxin, cũng tung tin rằng ngài sẽ lưu giữ Bertone làm quốcvụ khanh thêm một năm – Bertone là kẻ thù của nhiều hồng y, ở giáo triều cũng như ở các nước -, sau đó ngài sẽ bổ nhiệm hồng y Mauro Piacenza, người bảo thủ với bàn tay sắt, có tham vọng làm Bộ trưởng Thánh bộ Giáo sỹ, làm kế vị hồng y Bertone. (Các kiểu tung tin sai lạc như thế đầy dẫy tại các mật nghị. Buổi chiều trước ngày bầu cử, người ta đã loan tin rằng đức Bergoglio thiếu một lá phổi, bắt tội hồng y Maradiaga phải đi hết bàn này đến bàn nọ tại nhà khách thánh Matta để khẳng định là không đúng như thế: ngài chỉ bị cắt một phần phía trên lá phổi bên phải.)

Đến vòng bầu thứ ba, số phiếu bầu Bergoglio càng lúc càng tăng. Scola không vượt quá 27 phiếu.

Những hồng y còn lưỡng lự bắt đầu hướng phiếu bầu về tổng giám mục Buenos Aires. Lòng đạo đức của vị ứng viên Achentina cũng gây ấn tượng mạnh.

Một hồng y người Ý làm chứng “tôi chỉ gặp hồng y Bergoglio có một lần, và tôi đã hỏi thông tin về ngài. […] người ta cho tôi biết rằng đó là một người chăm cầu nguyện, ngài cầu nguyện suốt đêm”. Đó là cách thức để đạt thêm một lá phiếu. Việc đoạn tuyệt với quá khứ xảy ra ở vòng bầu thứ năm. “Cho tới cuối, vẫn chưa có gì rõ ràng, một hồng y Bắc Âu kể lại. Cần phải đạt được quá hai phần ba số phiếu.” Các cử tri còn lưỡng lự bây giờ phải tập trung phiếu, các lá phiếu đóng băng bây giờ chuyển sang cho ứng viên người Achentina.

Các hồng y châu Âu (hồng y Vingt-Trois của Paris, thượng phụ Policarpo của Lisbonne da Cruz), châu Phi (Monsengwo Pasinya của Congo), Philippines (Tagle) đều cổ võ cho Bergoglio.

Ở lần tham khảo ý kiến cuối cùng - trong mật nghị hay có những hình thức như thế -, các nhân vật chính có cảm giác như đang được đưa đi bằng một năng lực từ trời cao. Biết Giáo hội Công giáo có một vị giáo hoàng đến từ Tân Thế Giới khiến mọi người rất hưng phấn.

Một trăm mười lăm cụ già mặc áo đỏ đang chứng tỏ một thấu thị tuyệt vời. Nghị viện Giáo hội cho thấy họ đang nhìn vấn đề một cách nghiêm túc. Ngôi giáo hoàng thôi không còn cắm neo ở Âu châu, bỏ lại đằng sau cái nôi Địa Trung Hải, nhưng mở ra đến toàn cầu, đến tận ngoại ô thế giới thứ ba, đến tình trạng toàn cầu hóa của thế kỷ XXI. “Tôi có cảm giác là bàn tay Thiên Chúa đang dẫn dắt Giáo hội”, hồng y Bertello nhìn nhận, hiện nay ngài đang là thành viên Hội đồng Tư vấn do đức Phanxicô chỉ định. “Sau hai mươi thế kỷ, giờ đây ra khỏi châu Âu […] đó là một hơi thở không khí trong lành.” Nhìn khuôn mặt nghiêm trang và xúc động của Bergoglio khi ngài vượt quá số phiếu cần thiết là 2 phần 3 số phiếu bầu, hồng y Salvatore De Giorgi ghi nhận: “Đó là một người Mỹ Latinh, ngài đến từ một lục địa đói nghèo […]. Hoàn toàn khác so với châu Âu tiêu thụ.”

Jorge Mario Bergoglio vượt quá 90 phiếu. “Đó là lỗi của Anh” hai ngày sau khi được bầu, giáo hoàng Phanxicô đã nói như thế với hồng y MurphyO’Connor người Anh. Trong bài giảng thánh lễ cầu cho việc bầu giáo hoàng -Pro eligendo pontifice -, được cử hành trước khi đóng các cánh cửa nhà nguyện Sixtine, hồng y Sordano chia sẻ về dung mạo vị giáo hoàng mà Giáo hội đang cần: một con người được sinh động bởi “sứ mạng của lòng thương xót”, một người kiến tạo sự hợp nhất bằng việc cộng tác với tất cả các thành phần làm nên thân thể Giáo hội, một con người có “trái tim quảng đại”. Hình ảnh đó đã rất phù hợp.

Nhưng ngay lập tức đức Phanxicô chứng tỏ mình còn hơn thế nữa.