Cuộc cách mạng của Bênêđictô XVI
Nếu không có Ratzinger, sẽ không có Phanxicô. Nếu đức Bênêđictô XVI không từ nhiệm, thì Giáo hội Công giáo không có được khúc quanh lịch sử của một vị giáo hoàng đến từ Tân thế giới.
Ngày 11/02/2013, trong cuộc họp thường kỳ bàn về việc phong thánh cho 800 vị tử đạo vùng Ottrante – bị người Thổ Nhĩ Kỳ giết bởi không chấp nhận cải sang đạo Hồi, - đức Bênêđictô XVI đã tuyên bố thoái vị. Buổi chiều hôm đó, một tia chớp chói loà đánh xuống tháp vòm đền thờ thánh Phêrô. Biểu tượng không thể xoá nhòa cho một biến cố độc đáo. “Một cử chỉ như vậy vượt quá khỏi suy nghĩ của tôi, hồng y người Đức Joachim Meisner nói, có vẻ mất ổn định.
Hồng y Paul Poupard người Pháp, chủ tịch Hội đồng Văn hóa từ nhiều năm qua, bình luận khi nhìn lại quá khứ: “Cú sốc của triều đại giáo hoàng ngắn ngủi Gioan Phaolô I, kéo dài có 30 ngày, đã thúc đẩy mật nghị 1978 đến chỗ phải đóng lại cái ngoặc đơn kéo dài một nửa thiên niên kỷ các giáo hoàng người Ý. Cú sốc từ nhiệm của đức Bênêđictô XVI đã giúp các hồng y cử tri đủ can đảm nhìn sang phía bên kia đại dương.”
Theo Giovanni Maria Vian, sử gia về Giáo hội và giám đốc tờ báo Osservatore Romano, đức Ratzinger ngay từ khi được bầu làm giáo hoàng, đã nghĩ tới khả năng một cuộc từ nhiệm. Người ta thấy những dấu hiệu đầu tiên của ý tưởng này trong Thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu, ký ngày 25/12/2005, đúng 8 tháng sau khi ngài nhậm chức. Giáo hoàng ghi nhận rằng đối với con người là “dụng cụ” trong bàn tay Thiên Chúa thì không thể nghĩ rằng mình hoạt động một mình. “Chính Thiên Chúa chứ không phải chúng ta đang điều hành thế giới. Chúng ta cho ngài mượn sự phục vụ của chúng ta […] bao nhiêu chúng ta có thể, và bao lâu ngài cho chúng ta sức lực.” Khi còn là hồng y, ngài đã từng đối diện với câu hỏi này. Năm 2002, khi chứng kiến đức Gioan Phaolô II càng ngày càng bị bệnh Parkinson nặng hơn, ngài ghi chép: “Nếu đức giáo hoàng [Wojtyla] thấy mình tuyệt đối không thể cáng đáng chức vụ, có lẽ ngài sẽ từ nhiệm.”
Trước đó, năm 1978, khi tưởng niệm cái chết của giáo hoàng Phaolô VI, tổng giám mục Ratzinger đã nhắc rằng khi giáo hoàng Montini được 75, 80 tuổi thì ngài đã “chiến đấu mạnh mẽ chống lại ý tưởng về hưu”. Vị giáo hoàng tương lai người Đức lúc đó đã để mình đi đến những suy nghĩ mà sau này lại nổi lên khi ngài ngồi trên ngai tòa thánh Phêrô: “Khi nghĩ đến ý tưởng […] không còn một giây phút riêng tư cho mình, một thân xác yếu ớt, mà bị ràng buộc cho đến chết vào một vai trò vốn đòi hỏi mỗi ngày phải sử dụng toàn bộ sức lực của một con người, điều đó thật là kinh khủng.”
Ý tưởng về sự mệt mỏi do trách vụ giáo hoàng cộng thêm gánh nặng tuổi già đã không ngừng đi theo đức Bênêđictô XVI. Không có lúc nào Joseph Ratzinger muốn làm giáo hoàng cả, ngài không bao giờ nghĩ mình sẽ là giáo hoàng: ngược lại, ngài đã phải đón nhận nhiệm vụ do tinh thần trách nhiệm. “Trong mật nghị, khi bóc lá phiếu quyết định, Ratzinger đã có nụ cười buồn buồn”, hồng y Poupard nhớ lại lần bầu giáo hoàng năm 2005. Vị giáo hoàng người Đức đã sống biến cố này “như người ta đi lên đoạn đầu đài”, và vào giây phút căng thẳng nhất, ngài đã kêu lên: “Lạy Chúa, ngài đã muốn chọn con, thì ngài phải giúp con.”
Joseph Ratzinger là một khuôn mặt bi kịch. Phía sau thái độ có vẻ lạnh lùng, ngại ngùng tiếp xúc với đám đông, ẩn giấu một nhân cách mềm mỏng, nhút nhát, hết sức tinh tế, có khả năng trào phúng và tính cách vui vẻ vốn là đặc tính của người miền Nam nước Đức. Một nhân cách “đơn giản đến không trang bị và nhạy cảm đến hiếm có”, có khả năng “tiếp xúc mà chẳng bao giờ khiến người đối diện cảm thấy khó chịu”, Alfred Xuereb, vị thư ký của ngài nhớ lại, vị này tiếp tục làm thư ký cho đức Phanxicô.
Chắc chắn, với vai trò Bộ trưởng Thánh bộ Giáo lý Đức tin, Ratzinger đã tỏ ra cứng rắn với các nhà thần học cải tổ. Nhưng khi làm giáo hoàng, ngài đã chứng tỏ một niềm tin trong vui tươi, bày tỏ tình yêu đối với Thiên Chúa và với tha nhân, không áp dụng lệnh cấm. Một đức tin không bỏ rơi bất kỳ một ai trong sa mạc cuộc đời và đi tìm những kẻ lạc đường “về làm bạn với Con Thiên Chúa2”. Ít ngày trước khi thoái vị, đức Bênêđictô XVI trở lại với đề tài nằm ở trung tâm sứ vụ của ngài: “Ước nguyện […] được nhìn thấy tôn nhan Thiên Chúa đã được ghi khắc trong mỗi người, ngay cả nơi những người vô thần […]. Có thể chúng ta một cách vô thức mong ước được nhìn thấy Ngài là ai […], Ngài là ai đối với chúng ta […]. Ước nguyện đó được thực hiện khi chúng ta bước theo đức Kitô1.”
Triều đại giáo hoàng của ngài cũng đầy kịch tính. Là một nhà thần học lớn, là nhà tư tưởng và nhà giảng thuyết, Ratzinger bị đóng khung trong những mệnh lệnh của một tổ chức qui tụ hơn một tỉ hai trăm triệu tín đồ khắp năm châu. Bênêđictô XVI bị chia cắt giữa một bên là những trách nhiệm của một vị giáo hoàng, bên kia là những giới hạn của ngài trong nghệ thuật lãnh đạo, lại thiếu cả những cộng tác viên giỏi có thể giúp ngài cân bằng ưu thế của mình là nhà lý thuyết tài năng với phía kia là kiến thức chắc chắn về guồng máy Vatican, cũng như tính đa phức của thực tại đương thời. Sử gia Andrea Riccardi còn thêm rằng giai đoạn cuối triều đại của ngài đã chứng kiến một Giáo hội “khép kín trên chính mình và có nguy cơ tuyệt vọng2”. Khúc quanh việc bầu giáo hoàng Phanxicô chỉ có thể được hiểu trong bối cảnh con đường vòng cung Bênêđictô XVI và những giới hạn gắn với chặng đường huy hoàng của đức Gioan Phaolô II.
Karol Wojtyla diễn tả việc gìn giữ căn tính Công giáo một cách năng động. Ngài không bảo vệ đức tin, ngài chỉ khẳng định tính thời sự của nó. Đó là một giáo hoàng chính trị-địa lý, nhận thức được tính toàn cầu hóa. Các cuộc du hành của ngài, lúc đầu giống như những chuyến du lịch tôn giáo cuồng nhiệt, tạo ra cảm giác một Giáo hội hiệp nhất, và tăng cường mối liên đới giữa giáo hoàng và các tỉnh của vương quốc công giáo. Wojtyla xuất hiện như người phát ngôn của Nhân quyền, vượt qua mọi biên giới văn hoá, tôn giáo, chính trị xã hội. Ngài thiết lập cuộc đối thoại với những tôn giáo độc thần lớn, bước vào Hội đường Do Thái tại Roma, đến đền thờ Hồi giáo tại Damas để gắn kết niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất, chiến đấu chống lại chủ nghĩa bảo thủ cực đoan cũng như phong trào khủng bố có nguồn gốc tôn giáo.
Sau khi Liên minh Sô Viết sụp đổ, và nước Balan, quê hương của ngài được giải phóng, đức Gioan Phaolô II tố cáo tình trạng bá chủ độc tôn của Hoa Kỳ và cực lực chống lại chủ nghĩa tự do man rợ đang làm băng hoại nền kinh tế toàn cầu. Cho dù bệnh nặng, ngài vẫn điều khiển cả một công cuộc huy động các tôn giáo và ngoại giao chống lại cuộc xâm lăng Irak của tổng thống Bush, mà ngài tiên tri là sẽ trở thành một thảm hoạ chính trị và nhân văn – các biến cố sau đó đã chứng minh điều này là đúng.
Bóng tối không thiếu. Việc chấm dứt những cáo buộc đối với người sáng lập Đạo binh Chúa Kitô, Marcial Maciel, vì đã phạm tội tình dục nặng nề. Áp lực của phong trào thần học giải phóng và việc nghiên cứu thần học đổi mới. Việc bổ nhiệm các giám mục chính yếu dựa vào lòng trung thành của họ. Việc không chấp nhận cho các cặp ly dị tái hôn được rước lễ. Việc từ chối cái nhìn mới về vấn đề tính dục. Thiếu suy tư có tính phê bình về khủng hoảng ơn gọi. Việc duy trì vai trò người nữ ở hạng hai trong Giáo hội, cho dù có một sự nhìn nhận công khai về “thiên tài của người nữ”.
Triều đại giáo hoàng của ngài đã để lại ba dấu chỉ quan trọng gởi đến tương lai. Một là sự kiện mời các chức sắc đứng đầu tôn giáo trên thế giới họp nhau tại Atxidi năm 1986, đề cùng nhau cầu nguyện cho hòa bình: dấu chỉ của sự nhìn nhận tôn trọng phẩm giá của con người hướng đến đấng thần linh theo truyền thống của họ. Thứ hai là sự kiện sám hối trọng thể năm 2000 vì những sai lầm và những tàn bạo Giáo hội đã vấp phạm qua các thế kỷ. Thứ ba là ban hành thông điệp Để Họ Nên Một năm 1995, trong đó lần đầu tiên trong Lịch sử, một vị giáo hoàng mời gọi các nhà lãnh đạo các Giáo hội Kitô hãy cùng nhau định nghĩa lại vai trò của giáo hoàng Roma nhằm xây dựng đại kết.
Sau ngài là thời kỳ trì trệ. Joseph Ratzinger lựa chọn lập trường bảo vệ căn tính Kitô giáo, gợi lên hình ảnh một Giáo hội bị đám đông hồn ma bao vây: chủ nghĩa tương đối, chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa tổng hợp hổ lốn, thuyết hư vô, chủ nghĩa tiêu thụ, vô thần, cá nhân chủ nghĩa, thuyết bất khả tri, chủ nghĩa tục hóa và duy thế tục. Ngài không ngừng tuyên bố rằng đức tin đang bị đe dọa bởi bối cảnh trong đó “người ta muốn xoá bỏ Thiên Chúa ra khỏi chân trời cuộc sống […] và bối cảnh này không giúp người ta biện phân cái gì tốt cái gì xấu1”. Trong cái nhìn của ngài, xã hội Tây phương – vốn nằm ở trung tâm chú ý của ngài – đang âm mưu giảm thiểu tôn giáo vào lãnh vực cá nhân2.
Những “nguyên tắc không thể thương lượng” trở thành mệnh lệnh cuối cùng mà các đại biểu quốc hội người Công giáo phải tuân giữ khắp mọi nơi, ít ra là về lý thuyết. Chẳng hạn không được xúc phạm đến sự sống con người từ khi thụ thai cho đến cái chết tự nhiên; tính bất khả ly của hôn nhân giữa một người nam và một người nữ; tự do giáo dục và do đó các nhà nước phải tài trợ cho các trường công giáo. Một số Hội đồng Giám mục, trong đó có HĐGM Ý, biến những nguyên tắc đó thành một thứ vũ khí chính trị.
Trên bình diện phụng vụ, đức Bênêđictô XVI bảo vệ cho việc trở lại với ý nghĩa thánh thiêng và mầu nhiệm trong các nghi thức, được diễn tả qua việc xác định giá trị hoàn toàn ngang nhau giữa thánh lễ hậu công đồng và thánh lễ thời Tridentinô, thánh lễ mà dân chúng chỉ được coi như đoàn chiên. Trong các nghi thức giáo hoàng, người ta thấy tái xuất hiện những đồ trang trí và vật dụng thời xưa. Chiếc gậy thời đức Phaolô VI, trên đó có tượng Đức Kitô khổ nạn thập giá, không còn được sử dụng. Ngược lại, các mũ cao oai vệ thời đức Piô IX lại thấy trở lại, và trong các công nghị, người ta lại trưng bày ngai giáo hoàng mà đức Gioan Phaolô II đã bỏ như một thứ lỗi thời. Phong trào cải cách hậu công đồng, bị tố cáo là giải thích các bản văn công đồng Vatican II theo nghĩa “đoạn tuyệt” với truyền thống, cũng rơi vào tầm ngắm của ngài.
Tuy nhiên, chính ở lãnh vực điều hành mà triều giáo hoàng Ratzinger rơi vào bế tắc. Các sự cố xảy ra nhiều đến lạ lùng. Một năm sau khi được bầu, Bênêđictô XVI đụng độ với thế giới Hồi giáo do việc trích dẫn đáng tiếc về Mahomet. Ngài gặp khủng hoảng với Do Thái giáo nhiều lần: khi rút lại vạ tuyệt thông đối với giám mục Richard Williamson, người theo nhóm Lefebvre và phủ nhận tội diệt chủng Do thái, rồi trong lời cầu nguyện ngày thứ Sáu Tuần Thánh theo nghi lễ Tridentinô, có lời cầu nguyện gợi đến việc xin hoán cải người Do Thái; Cuối cùng là việc đề cao đức Piô XII. Đối với các tổ chức sức khỏe thế giới, thì có xung khắc về bao cao su, mà đức giáo hoàng tố cáo là “trầm trọng hoá” vấn đề Sida. Với người Công giáo, vết rạn nứt xảy ra do những nhượng bộ với phong trào li khai của giám mục Marcel Lefebvre, người đã chối bỏ những bản văn căn bản của công đồng Vatican II về tự do tôn giáo, tự do lương tâm, đại kết, và những tương quan với Do Thái giáo và Hồi giáo.
Lại còn thêm vào năm 2010 bùng nổ những vụ phanh phui về lạm dụng tình dục trẻ em do các giáo sĩ tại Hoa Kỳ, Ailen, Bỉ, Đức, Áo, với những tài liệu tố cáo Vatican đã ém nhẹm trong nhiều năm những chứng cứ về các tội này và đã nhân nhượng bổ nhiệm các linh mục ấu dâm sang một giáo xứ khác. Xì căng đan giật gân tấn công trực tiếp đến cá nhân Ratzinger về trách nhiệm của ngài khi là tổng giám mục Munich từ 1977 đến 1982. Ngài đã đón nhận vào giáo phận mình một linh mục ấu dâm, Peter Hullermann, khi linh mục này đang được điều trị. Nhưng chỉ sau vài tuần, vị linh mục này đã được giao cho một công tác mục vụ mới, và năm 1986 một lần nữa, vị linh mục này lại bị tố cáo lạm dụng tình dục.
Năm 2010 là năm nằm ở giữa triều đại giáo hoàng. Ở độ tuổi 83, sức khỏe rất mong manh, Ratzinger ý thức rằng đến lúc không thể đảm nhận trách nhiệm lèo lái con thuyền được nữa. Càng ngày nhịp tim càng bị rối loạn – từ lâu đức giáo hoàng đã phải mang máy tạo nhịp tim chống lại chứng rung nhĩ mạn tính1 -, mắt trái có vấn đề, càng ngày bước đi càng khó khăn. Vào tháng Bảy 2009, tại nhà nghỉ hè ở Aoste, đức Bênêđictô XVI bị gãy xương cổ tay phải trong một lần té ngã giữa đêm.
Tuy vậy tình trạng sức khỏe không phải là cái gai nhức nhối nhất trong triều đại giáo hoàng, mà là những vấn đề chính trị. Quốc vụ khanh, hồng y Tarcisio Bertone, tỏ ra không thể thiết lập một tương quan với giáo triều nhằm đem lại hiệu quả cho công việc. Ngài bị tố cáo là tập trung quyền lực, không biết sử dụng các phương tiện máy móc, thiếu kinh nghiệm ngoại giao, tỏ ra như một phó-giáo-hoàng và làm việc theo kiểu ứng biến tuỳ hứng.
Các hồng y Schönborn, Scola Bagnasco và Ruini đòi thay thế ngài1. Giáo hoàng cũng đã nhận được gợi ý này từ người bạn của ngài, đức hồng y Joachim Meisner, sau tai nạn truyền thông về vụ Williamson: “Thưa đức thánh cha, ngài phải cách chức hồng y Bertone! Ông ấy làm việc như một bộ trưởng của chính quyền dân sự.” Nhưng trung thành với các cộng sự viên, Ratzinger từ chối, hô to bằng tiếng Ý : “Basta, basta basta! […] Đủ rồi, đủ rồi, Bertone phải ở lại2!” Tuy vậy, chỉ cố gắng bịt miệng các lời công kích thì không đủ. Đức Bênêđictô XVI ý thức rằng giáo hoàng không thể tiếp tục làm như thế. Năm 2010, ngài nói với Peter Seewald người viết tiểu sử ngài, - mà ngài sẽ cho phép xuất bản – rằng “không thể chạy trốn” khi gặp nguy nan. Ngược lại, có thể từ nhiệm vào “một thời điểm êm đềm hay khi không còn khó khăn nữa”. Nếu một giáo hoàng kết luận rằng ngài không thể đảm nhận cách tốt đẹp trách nhiệm đã được uỷ thác vì những “lý do thể lý, tâm lý, hay tinh thần”, thì ngài có quyền, và trong một vài trường hợp có “trách nhiệm phải từ chối”.
Năm trước đó, khi đến Aquila để an ủi những nạn nhân động đất, đức Bênêđictô XVI đã làm một cử chỉ biểu tượng kín đáo khi đặt chiếc khăn Pallium giáo hoàng trên ngôi mộ của đức Celestine V, vị giáo hoàng nổi tiếng đã từ chức.
Trong tình hình tương đối lắng dịu của năm 2011, Joseph Ratzinger đã suy nghĩ chín mùi lựa chọn của mình. Bên ngoài, một số yếu tố làm toát mồ hôi. Tháng Chín năm đó ký giả Antonio Socci, gắn bó với phong trào Hiệp thông và giải phóng, viết rằng giáo hoàng “không tránh khả năng từ chức khi đến 85 tuổi3”, nghĩa là vào năm 2012. Bài báo được đăng lại trên trang mạng giới trẻ Salêdiêng, và họ bày tỏ sự lo lắng: việc từ chức này sẽ là một đau khổ cho chúng tôi4”. Nhưng chẳng ai sẵn sàng để tin vào điều không thể tin được. Từ tháng Hai 2011, hồng y Jean-Louis Tauran được đặt làm “hồng y phó tế của Giáo hội Roma”. Đức Bênêđictô XVI nói với ngài: “Ngài sẽ là người công bố vị giáo hoàng mới!”
Nghe vậy vị hồng y người Pháp bối rối: “Lạy Chúa tôi, không thể như vậy được”.
Trong chuyến đi Mehicô và Cuba vào tháng Ba 2012, khi nghỉ đêm tại thành phố Léon Mêhicô, đức Bênêđictô XVI đã bị té và bị thương ở đầu. Không bị chấn thương nội, nhưng cũng chảy máu rất nhiều. Việc này đã được giữ kín, chiếc mũ sọ giáo hoàng giúp che đi dấu vết, nhưng ông Patrizio Polisca bác sĩ riêng của giáo hoàng, phản đối một chuyến đi vượt Đại Tây Dương lần sau2. Thực sự, chuyến đi kế tiếp đến Liban là chuyến đi sau cùng của đức Bênêđictô XVI.
Trở về Vatican, đức Ratzinger quyết định dứt khoát là sẽ rời khỏi ngai giáo hoàng. Điều này sẽ là một bước ngoặt và có tác động lên triều đại giáo hoàng của Bergoglio cũng như của các vị kế nhiệm. Trong lịch sử Giáo hội Công giáo, chưa có vị giáo hoàng nào tự nguyện và tự do từ chức. Các cuộc từ chức đều do áp lực từ bên ngoài, do ý muốn của các hoàng đế Roma hay do các cuộc đấu tranh chính trị và tôn giáo, chẳng hạn trong công đồng Constantinô vào cuối thời Trung Cổ, có ít là ba vị giáo hoàng và nguỵ giáo hoàng đã bị ép phải thoái vị. Ngay cả giáo hoàng Celestine V, nổi tiếng nhất trong số các vị đã từ chức, cũng vì những lời công kích của Dante, chứ không phải quyết định một cách hoàn toàn thanh thản. Sau gần 4 tháng trên ngai giáo hoàng (từ 29/08 đến 13/12/1294), ngài đã bị lật đổ bởi những mưu đồ chính trị và do hàng giáo phẩm, ngày hôm sau khi từ chức, ngài đã bị bỏ tù cho đến chết bởi người kế vị đầy tham vọng Bonifaciô VIII.
Việc từ nhiệm của Ratzinger hoàn toàn khác. Ngài không bị ép buộc, cũng không do cảm xúc hay sức khỏe thể lý quá yếu ớt, ngược lại, quyết định này có lý do rõ ràng. Đức Bênêđictô XVI muốn xoá sạch những lập trường hóa đá của giáo triều. Theo Giáo luật, việc từ chức của giáo hoàng buộc các vị đứng đầu các ban ngành chính trong Giáo hội cũng phải nộp đơn từ chức. Trong thực tế, quyết định thoái vị của giáo hoàng đồng nghĩa với một cuộc đảo chánh đặt Vatican lại từ số không.
Giáo hoàng Ratzinger biết rằng từ hơn nửa thế kỷ nay, giả thuyết một vị giáo hoàng thoái vị đã lơ lửng trên Vatican. Sợ bị người Đức bắt nên đức Piô XII đã nghĩ đến phương án này, rồi đến đức Phaolô VI. Câu hỏi lại được nêu lên đối với giáo hoàng Gioan Phaolô II, ngài đã thiết lập một uỷ ban nghiên cứu một cách âm thầm để rút ra những ảnh hưởng liên hệ. Cuối cùng, Wojtyla quyết định không thoái vị. Theo hồng y Stanislao Dziwisz, cựu thư ký của ngài thì một phần ngài muốn nên giống đức Kitô qua những đau khổ, phần khác vì ngài sợ điều đó có thể gây ra “một tiền lệ nguy hiểm”. Ratzinger không bị áp lực bởi những lo lắng đó. Ngược lại, năm 2012 việc bùng nổ xì căng đan Vatileaks càng củng cố ngài trong ý định này. Việc rò rỉ các tài liệu cho thấy rõ ràng có sự tan rã và tê liệt trong guồng máy Vatican. Các phương tiện truyền thông thế giới đã phổ biến những lá thư đức Carlo Maria Viganò, Tổng thư ký Phủ thống đốc Vatican gởi hồng y Bertone, Quốc vụ khanh tòa thánh. Người ta đọc thấy những chuyện tham nhũng qua những thương vụ mua sắm công cộng của Phủ giáo hoàng mà con số lên đến hàng trăm triệu euros. Đáp lại, đức Bertone đã sa thải đức Viganò và cử ngài đi làm sứ thần tại Washington. Sau đó, Quốc vụ khanh Bertone lại đụng độ với hồng y Dionigi Tettamanzi của Milan về việc kiểm soát Đại học Công giáo và Bách khoa Gemelli. Hồng y Attilio Nicora, chủ tịch Uỷ ban Thông tin Tài chánh (AIF) chịu trách nhiệm kiểm soát các hoạt động tài chánh Vatican, phản đối Bertone vì đã gây trở ngại cho việc thiết lập tính trong sáng. Giám đốc ngân hàng Vatican, ông Ettore Gotti Tedeschi, người bạn của giáo hoàng, lúc đầu được giao làm những công việc dọn dẹp nhà cửa, rồi bị do thám, bị ngăn chặn trong dự án nộp bản cân đối của ngân hàng cho uỷ ban quốc tế Deloitte kiểm tra, và cuối cùng bị cách chức một cách khó hiểu.
Người ta khám phá ra trong việc điều hành ở cấp trung ương của Giáo hội có “sự cấu kết giữa rắn và quạ1”, về sau hồng y Bertone đã nói như thế. Không thể kết luận xì căng đan này chỉ là việc đánh cắp tài liệu do Paolo Gabriele, viên quản gia giáo hoàng, bị kết án rồi được ân xá. Ở Vatican, không ai tin rằng ông là người duy nhất gây ra thảm hoạ này.
Lần đầu tiên trong đời giáo hoàng, Bênêđictô XVI hành động theo một chiến lược có hoạch định. Ngài thiết lập một uỷ ban điều tra đặc biệt, gồm 3 hồng y ở độ tuổi bát tuần – Julián Herranz, Salvatore De Giorgi và Jozef Tomko -, ủy ban này điều tra sàng lọc hồ sơ tại các văn phòng của Vatican và trình cho giáo hoàng một bản tường trình dày 300 trang. Trong đó có các thủ đoạn nghề nghiệp và các trò chơi quyền lực tại Vatican, những vụ áp phe, những sai phạm tình dục của một số đấng bậc. Đức Bênêđictô XVI khi bắt đầu triều đại giáo hoàng, đã tố cáo tình trạng “bẩn thỉu” trong Giáo hội, lúc này cảm thấy ghê tởm.
Trong lúc đó, ngài bắt đầu thông báo dự định của mình cho một số ít người thân cận, gồm anh của Ngài là cha Georg, thư ký riêng của ngài là giám mục Ganswein, ông này hoảng hốt: “Thưa đức thánh cha, không, không thể như vậy được.” Nhưng chẳng có tranh luận nào đáng kể. “Tin đó như một cú đấm mạnh giáng vào tôi”, giám mục Ganswein nhớ lại. Không có ai nghi ngờ gì cả. Chỉ có một vị giám mục của thời Vatican II nay đã về hưu, đức cha Luigi Bettazzi, khi đọc tài liệu đề cập tới âm mưu chống lại giáo hoàng, đã nói tiên tri: “Tôi nghĩ rằng ngài [đức Bênêđictô XVI] cảm thấy rất mệt […] và trước những căng thẳng trong giáo triều, ngài có thể từ chức và để những vấn đề này lại cho giáo hoàng mới.”
Cuối năm 2012, đức Bênêđictô XVI hoàn thiện chiến lược của mình. Tháng Mười, ngài cho tu sửa tu viện Mater Ecclesiae, mà giáo hoàng Gioan Phaolô II đã thiết lập để đón các nữ đan sĩ đến lập cộng đoàn tại Vatican. Đây sẽ là nơi ngài nghỉ hưu. Trong khi chờ đợi, một bàn tay vô danh làm chậm lại việc soạn thảo cuốn Niên giám giáo triều năm 2013.
Ngày 11 tháng Mười, đức Bênêđictô XVI khai mạc Năm Đức tin, mà ngài biết là mình sẽ không chứng kiến ngày bế mạc. Tháng Mười Một, ngài đặt thêm sáu hồng y, không có vị nào người Ý hoặc châu u. Các tân hồng y là Rubén Salazar Gómez, người Mỹ Latinh, tổng giám mục Bogota; John Onaiyekan, người Phi châu, tổng giám mục Thủ đô Niger; Béchara Rai, người Ả Rập, Thượng phụ nghi lễ Maronite Liban; Baselios Thottunkal, người Ấn Độ, Tổng giám mục Thượng Syri-Malankare, và Luis Tagle, người Philippines, Tổng giám mục Manila.
Trận bão Vatileaks càng làm tăng thêm xác tín của đức Bênêđictô XVI vào chiến lược của mình. Việc ngài từ chức sẽ tước hết quyền hành của nhóm Bertone cũng như các phe phái trong giáo triều. Quyền quyết định sẽ chuyển sang một cơ quan bầu cử dân chủ của Giáo hội Công giáo, đó là Mật nghị. Các HĐGM trên toàn thế giới sẽ có đại diện rộng rãi tại hội nghị này. Đó sẽ là những giám mục “bên ngoài”, họ sẽ chọn một người chính trực và một chương trình phù hợp nhất. Việc từ chức của giáo hoàng sẽ mở ra một cuộc tranh luận công khai, tự do và vô điều kiện về chế độ giáo hoàng quân chủ, cuộc tranh luận mà Giáo hội đang rất cần lúc này.
Thứ Hai, 11/02/2013. Tại Tòa thánh, các hồng y họp với đức giáo hoàng về các vị tử đạo Ottrante. Tất cả đã được tổ chức với tính chính xác quân sự. Hồng y Angelo Sodano, niên trưởng hồng y đoàn, đã được báo từ thứ Sáu tuần trước, để kịp soạn một diễn văn ngắn đáp lại thông báo của đức Bênêđictô XVI. Hồng y Quốc vụ khanh Bertone và phụ tá là Giovanni Angelo Becciu, cũng biết việc này. Các vị trách nhiệm truyền thông của tòa thánh cũng được thông báo: cha Federico Lombardi, phát ngôn viên tòa thánh, và Giovanni Maria Vian, giám đốc tờ Osservatore Romano.
Đối với những công nghị kiểu này, thì chỉ có các hồng y thường xuyên cư ngụ tại Roma và những vị tình cờ ngang qua đây mới tham dự, còn việc triệu tập chỉ là theo thói quen. Cuộc họp diễn tiến không gặp trở ngại nào. Chỉ có điều là cuối cuộc họp, đức Bênêđictô XVI mang kính vào, cầm tờ giấy và bắt đầu đọc bằng tiếng Latinh. “Đến rồi, ngài từ chức đó…” hồng y Sodano thầm thì với vị hồng y ngồi bên cạnh.
Ngồi trên ngai giáo hoàng đầy quyền lực, khăn choàng vai màu đỏ có viền như kiểu của các quan toà, mang giây stola thêu chỉ vàng, Ratzinger, khuôn mặt hơi tái, đọc lời thoái vị. Bằng giọng trầm, nhát gừng, âm điệu đều đều như của một học sinh ở trường, đôi chữ không nghe được. Bên cạnh ngài, vị chưởng nghi Guido Marini nhìn vào khoảng trống; xa hơn một chút, một chức sắc giúp việc nhìn giáo hoàng bằng ánh mắt lúng túng.
Điều không thể tưởng đã được công bố. Với lương tâm trước Thiên Chúa, đức Bênêđictô XVI đọc nhanh, “tôi đi đến quyết định rằng sức khỏe của tôi, do tuổi cao, không phù hợp để thi hành một cách thích đáng tác vụ của thánh Phêrô”. Sứ vụ giáo hoàng, ngài giải thích, tự bản chất là siêu nhiên, nhưng “trong thế giới hôm nay, do những thay đổi nhanh chóng và bị chấn động bởi những vấn nạn rất quan trọng đối với đời sống đức tin, do đó, để có thể lèo lái con thuyền thánh Phêrô và loan báo Tin Mừng, sức khỏe thể lý và tinh thần là cũng cần thiết”. Do thiếu sức lực nên ngài phải “nhìn nhận rằng tôi không đủ khả năng thi hành nhiệm vụ đã được uỷ thác cho tôi”1. Trong phòng họp, các hồng y như hóa đá trên những dãy ghế xếp dọc theo bức tường treo các bức tranh thảm. Qua những lời nhỏ nhẹ, khàn khàn của đức Ratzinger, họ nghe được rằng “do tầm quan trọng của hành động này… với hoàn toàn tự do… từ chối”. Từ ngày 28 tháng Hai, vào lúc 20 giờ, giáo hoàng sẽ kết thúc triều đại của ngài và ngai tòa Phêrô sẽ để trống.
Qua việc thoái vị, đức Ratzinger đã thực hiện một hành động quan trọng nhất trong vai trò giáo hoàng của ngài. Hành động giúp ngài lưu danh trong Lịch Sử. Một cử chỉ quý phái, khiêm tốn, can đảm. Và cách mạng. Đức Bênêđictô XVI đưa đến cùng công việc cải tổ đã được khởi xướng từ thời đức Phaolô VI, người mà khi muốn trẻ hóa hàng ngũ giáo sỹ, đã tuyên bố giải nhiệm các giám mục từ 75 tuổi, và loại trừ các hồng y trên 80 tuổi khỏi mật nghị. Đức Bênêđictô XVI giải trừ huyền thoại cho trách vụ giáo hoàng, ngài cất vào kho hình tượng siêu nhiên của giáo hoàng như một vì vua chúa sống mãi – cho đến chết -, một giáo hoàng không sai lầm, vì được bao vây bởi một triều đình sẵn sàng thề rằng ngài chẳng bao giờ sai lầm. Vị giáo hoàng người Đức, ngược lại, đã tuyên bố việc lãnh đạo Giáo hội phải như một người mục tử, không đánh mất mối liên lạc với những biến đổi nhanh chóng của thế giới đương thời. Vào thời điểm quan trọng nhất, Joseph Ratzinger không chấp nhận hình ảnh một giáo hoàng ốm yếu – mà sức lực đang tắt dần, như ngọn nến – và ngài thực hiện một lựa chọn hợp lý, của một người lãnh đạo. Trước đó vài tháng, ngài tâm sự với Seewald người viết tiểu sử của ngài: “Tôi nghĩ rằng những gì tôi làm là đủ rồi1”. Đàng khác, ngài luôn khẳng định rằng đây không phải là một điều gì huyền bí. Ngài từ chối lời thỉnh cầu của hồng y Bertone là cứ giữ chức vụ giáo hoàng cho đến khi kết thúc Năm đức tin.
Sự nghi ngờ và hoang mang đã làm toát mồ hôi bài đáp từ của hồng y niên trưởng Angelo Sodano. Dáng điệu nghiêm túc, khổ sở, và khuôn mặt tái nhợt, đức Bênêđictô XVI ôm hôn hồng y Sodano trước khi lặng lẽ ra đi. Các hồng y ở lại, nhiều vị tập trung quanh hồng y niên trưởng. Đến lúc đó, nhiều vị vẫn chưa hiểu rõ những gì mà giáo hoàng đã thì thầm bằng tiếng Latinh. Rất nhiều vị ngay cả khi nghe bài đáp từ của hồng y Sodano vẫn không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Một trong những vị có mặt đã nhớ lại “giống như người ta trút một xô nước lạnh lên đầu tôi”. Hồng y Re thì nói: “Tôi sững sờ, không nói được gì, không nghĩ được gì”. Buổi sáng hôm đó và nhiều hôm sau nữa, ai cũng hoang mang lo lắng.