Mùi chiên
Jorge Mario Bergoglio bước những bậc thang dẫn xuống trạm Métro Bolivar, không cách nhà thờ chính tòa bao nhiêu, ngay trong thành phố. Tuyến đường E, hướng quảng trường Virreyes. Đoàn tàu chầm chậm vào trạm, tiếng rít trên đường ray, thùng toa đầy những tranh phun sơn. Vị tổng giám mục tìm thấy một chỗ trống gần cửa và ngồi xuống, vẻ nghiêm trang hơi tư lự – bình thường ngài vẫn như thế. Không ai nhận ra ngài, trong chiếc sơ mi và cổ trắng giáo sỹ. Người ít xuất hiện trên truyền hình và tránh những cuộc tiếp tân chính thức. Thành phố Buenos Aires rộng lớn với 13 triệu dân, riêng khu trung tâm đã có gần 3 triệu.
Trời nóng nực giữa đám khách chật như nêm. Chung quanh đức cha Jorge, hành khách kẻ thả hồn theo những suy nghĩ riêng, người nhìn lên các bức tường hai bên đường hầm có ngọn đèn nê-ông quét qua, lắc lư đầu, cúi gập người, có kẻ ánh mắt mông lung, vẻ buông bỏ. Một số khác - ngay cả những thanh niên rất trẻ - lại có cái nhìn nặng nề, dữ tợn. Chung quanh đức cha Jorge là những bà mẹ ẵm con bọc trong khăn, những ông bà già bị ném tung lên theo nhịp lắc lư của con tàu, rất nhiều bạn trẻ ngồi bấm điện thoại.
Ở mỗi trạm dừng, đoàn tàu rùng mình rít lên tiếng thắng nghe đinh tai. Bốn mươi phút trôi qua trong đám đông gồm đủ sắc tộc, nguồn gốc và lịch sử khác nhau của thành phố Buenos Aires. Họ đủ mọi quốc tịch: người gốc Tây Ban Nha, Ý, Nga, Trung Hoa, Phi Châu, Đức, Pháp, Trung Mỹ, người nhập cư từ Nam Mỹ. Trong toa tàu, hành khách ngồi cạnh nhau, người thuộc giai cấp trung lưu thì lo lắng cho ngân sách gia đình, người trẻ thì tỏ ra rất hài lòng vì có được một chỗ làm nào đó, bất kể nghề gì, cũng có đám đông chỉ mong đủ sống. Tổng giám mục Jorge Mario Bergoglio không sử dụng xe hơi riêng cũng không có tài xế riêng, ngài từ chối ở trong ngôi biệt thự xinh đẹp của tòa tổng giám mục để đến ở trong căn hộ hai phòng nhỏ trên lầu 3 của Nhà Chung giáo phận. Ngài cũng biết lái xe, khi còn là giám tỉnh dòng Tên – vào những năm 1970, thời độc tài Vileda -, ngài đã từng nhiều lần chở các chính trị gia chống chế độ tìm một nơi ẩn nấp hay tìm đường chạy trốn ra nước ngoài. Bây giờ ngài không lái xe nữa. Kể từ khi làm tổng giám mục phụ tá vào năm 1992 rồi làm chủ tịch HĐGM Achentina, ngài sử dụng phương tiện giao thông công cộng, métro hoặc xe bus. Có lần một phụ nữ ngồi bên cạnh nhìn thấy ngài mặc áo chùng thâm, hỏi ngài: “Thưa cha, cha giải tội cho con được không? – Được chứ” ngài trả lời. Lần khác, trên xe bus, một giáo hữu trút cho ngài cả một danh sách rất dài những tội của ông, đến nỗi ngài phải nhắc một cách lịch sự: “Đến haitrạm nữa là tôi phải xuống đấy nhé anh bạn.”
Quảng trường Virreyes, Đức cha Jorge leo 35 bậc thang với bàn chân hơi bằng và đôi chân bị bệnh tê thấp. Đến cuối cầu thang, người ta thấy bức tượng Đức Mẹ Fatima trang trí đầy hoa tươi. Đức cha Jorge đứng dưới mái hiên rộng lớn, ở đây, không khí ngột ngạt vào mùa hè, lạnh và ẩm vào mùa đông. Mọi người đang chờ xe điện một cách kiên nhẫn, đây là một loại phương tiện chuyên chở công cộng cũ kỹ từ thành phố đến các vùng ngoại ô. Không có một đấng bậc nào tại giáo triều Vatican, không một hồng y chủ tịch HĐGM hay một giám mục của một trong những nước có số Công giáo đông đảo, mà lại có thói quen vất vả như vậy. Nếu có một vị nào như thế, thì lại rất kín đáo.
Đi thêm hai trạm nữa là đến làng Ramón Carrillo. Những vùng ngoại ô được dựng lên cách tạm bợ mà người ta gọi là phố bất hạnh, hay nhẹ nhàng hơn, phố cấp cứu. Tại các trạm métro, giấy rác và chai lọ vứt ngổn ngang trên các đường ray.
Đi vài bước là tới khu dân cư. Những ngôi nhà bất hợp pháp, xây dở dang hay xây từng đợt tiếp nối nhau. Đi vài bước, hết con đường trải nhựa, là vào lãnh thổ được gọi là no man’s land, vùng đất không người, con đường bằng đất nện, sặc mùi cống rãnh. Luật lệ cũng dừng lại ở bên ngoài khu này. Một nhúm nhà lớp lang trật tự hơn, có bình hoa treo ở cửa sổ, gợi lại hình ảnh thôn làng với điệu múa paso. Nhìn chung, phong cảnh ở đây mang dáng vẻ một thành thị quê mùa, man rợ, khiến người ta có cảm giác là ở đây mọi cấm đoán đều bị loại bỏ. “Ở đây, nhà nước đi vắng”, các linh mục trong khu vực thường nói như thế, mặc dù làng Ramón Carrillo cũng có một trường mẫu giáo và một nhà nội trú.
Thường thường các giáo xứ được thành lập ở ngoại vi khu đông dân này, giống như một hành lang dẫn vào thành phố “bình thường”. Ở bìa một khu làng khác, làng 21, cũng có một trạm gác với những chàng thanh niên bận đồng phục kaki hải quân, đội bảo vệ khỏe mạnh mang áo khoác chống đạn. Điều trái ngược là sự hiện diện của họ càng tạo nên cảm giác bất an hơn nữa. Nhiều tài xế taxi từ chối chở khách vào các khu dân cư này. “Trộm cắp, gây hấn” là những từ rất quen thuộc. Pedro Baya, cha xứ giáo xứ Đức Mẹ Vô Nhiễm ở khu Ramón Carrillo, kể lại một cách bỉnh thản: “Đôi khi tôi nghe cả tiếng đạn rít chung quanh mình.”
Mỗi năm nhiều lần, Jorge, các linh mục gọi vị tổng giám mục của mình như thế, đến thăm tất cả các giáo xứ trong khu dân cư này. Vào các dịp lễ bổn mạng, rước kiệu Đức Bà, tĩnh tâm, hay một dịp đặc biệt nào đó, dịp họp mặt hằng năm của các linh mục hay của các thầy cô trường Công giáo trong khu vực chẳng hạn. Ngài tham dự các cuộc rước, dừng lại trao đổi với dân chúng, nhất là những người di dân từ Paraguay, từ Bolivia, từ Pêru, hoặc từ các vùng khác của Achentina. Ngài khác xa hình ảnh truyền thống về một giám mục quyền uy đến nỗi khi mới nhìn thấy ngài, các tín hữu một cộng đoàn người Pêru bị sốc vì họ không thấy xe li-mu-din cũng chẳng có kèn trống gì cả”, cha Pedro kể lại.
Bergoglio biết từng vị trong số 800 linh mục thuộc giáo phận của ngài. Từ khi nhận chức tổng giám mục, ngài còn muốn tăng cường sự hiện diện trong các khu ngoại ô hơn nữa. Mỗi giáo xứ trong khu làng có hai hoặc ba linh mục. Khi ngài mới làm giám mục giáo phận thì có 11 cha xứ, bây giờ có tới 23 cha và có một đường dây điện thoại trực tiếp. Ngài đồng hành sát với họ, lắng nghe, giúp đỡ, gần gũi họ những khi họ gặp khủng hoảng. Ngài đồng hành mà không phán xét. Cha Pepe Di Paola, từ nhiều năm nay là đại diện của ngài tại khu ngoại ô, làm chứng rằng ngài biết các linh mục tín nhiệm ngài. Họ tâm sự với ngài không như với các giám mục khác, chân thành kể lại cho ngài những gì họ đang sống và thường hay đến nhà thờ chính toà, “không phải vì bắt buộc nhưng để nghe những lời hướng dẫn thiêng liêng của ngài1”
Trước đây, các linh mục phải về tòa giám mục, bây giờ tình hình ngược lại. Điều này làm nên sự khác biệt. Các linh mục thường cảm thấy Bergoglio “gần gũi” với họ. Cho dù vấn đề họ trình bày với ngài thế nào, chẳng hạn một linh mục đang phân vân tự hỏi phải chăng mình nên công khai chuyện tình cảm với một phụ nữ. Ở Buenos Aires, người ta kể lại câu chuyện một cha xứ đến gặp giám mục Jorge để thông báo cho ngài biết quyết định kết hôn với bạn gái. Đồng ý, đức tổng giám mục trả lời, chúng ta sẽ tiến hành thủ tục giải quyết cho cha khỏi tình trạng giáo sĩ, “nhưng cứ chờ đợi một hai năm sau hẵng có con nhé.” Hai năm sau, mối liên hệ của họ rạn nứt, vị cựu linh mục trở về và thú nhận rằng bây giờ mới biết ơn gọi linh mục là ơn gọi đích thực của ông. Đồng ý, vị tổng giám mục trả lời, chúng ta sẽ tiến hành thủ tục đón nhận cha trở lại, “nhưng trước hết, cha phải sống như một giáo dân và giữ khiết tịnh trong vòng năm năm nhé.” Ngày nay, họ bảo đảm rằng đó là một trong những linh mục được yêu quí nhất tại thủ đô.
Đức cha Jorge biết rõ những con đường lầy lội trong các khu dân cư này, những hàng cây màu xám, những ánh mắt người dân có khi thân thương và nhiệt tình, cũng có lúc nghi ngờ và khép kín. Ngài quen thuộc những con đường đầy ổ gà, ở đó có những chiếc xe quá hạn sử dụng, thùng xe vá chằng chịt. Ngài quen biết những đứa trẻ chơi đùa bên rãnh nước, bà mẹ ngồi bắt chí cho con gái, những con chó hoang chậm rãi lang thang hết ngã tư này đến ngã tư nọ. Đôi lúc, người ta bắt gặp một căn nhà có cửa sổ gắn song sắt với bảng hiệu đầy tự phụ “giải khát, kem, bánh mì, giặt ủi”. Xa hơn, phía trên một cánh cửa đóng kín, một bàn tay đưa ra với bảng hiệu “Internet”.
Đức cha Jorge biết rõ những hàng rào sắt đầy vẻ ám ảnh bao quanh các cửa đi, cửa sổ, ngay cả những lối đi tí xíu của các gia đình mới đến. Trong khu Ramón Carrillo, ngay cả cửa hàng mang tên Gaétan, vị thánh bổn mạng của nghề làm bánh, cũng phải được bảo vệ bằng những song sắt kín kẽ đến nỗi người ta không thể nhìn thấy bảng hiệu của quán. Trong các khu dân cư khác cũng thế. Đức cha Jorge quen thuộc với những dãy nhà nối tiếp nhau, vô trật tự, xây dựng cẩu thả, lầu một được tô phết, rồi phía trên đó lại dựng lầu hai bằng gạch, rồi lầu ba. Ban công thì chắp vá, phòng ốc xây dở dang, không có mái, những căn nhà lộ thiên như thế đã tồn tại vài ba năm, người ta sử dụng làm nơi phơi quần áo. Bi-đông nước, sắt vụn, khung bàn, giường chiếu vứt ngổn ngang trên đường phố. Phía bên kia giao lộ, là một làng khác còn bất ổn hơn, làng Esperanza. Đường xá nhỏ hẹp đến khó đi. Phía trên một căn nhà nhỏ bằng xi măng, có tấm bảng “nhà bán”.
Ở Buenos Aires, tổng giám mục luôn là một người có “quyền lực”. Quảng trường Mayo là biểu tượng cho quyền lực tại thủ đô: Dinh tổng thống, Nhà thờ chính toà, Tòa đô trưởng, Bộ kinh tế. Theo cha Di Paola, “giám mục Bergoglio không bao giờ nhìn vấn đề từ phía quảng trường Mayo, nhưng từ những hoàn cảnh đau khổ, đáng thương, nghèo khó, từ phía dân cùng đinh, các khu làng ổ chuột ở ngoại ô, hay từ phía bệnh viện”.
Đức cha Jorge dạy các linh mục rằng cha xứ không phải là một công chức, ngài phải biết đối xử với lương tâm của người dân từ tình trạng cụ thể của họ, “trong tòa giải tội, phải có lòng thương xót lớn lao”, phải sẵn sàng ban các bí tích, “phải lập tức trao ban những gì là của Thiên Chúa cho những ai xin”1. Và phải cho không, vì linh mục không phải là người sỡ hữu những gì của Thiên Chúa, họ chỉ là những máng chuyển mà thôi. Các linh mục hiểu điều đó. Đức cha Jorge tỏ ra cứng rắn với những linh mục nào có ý chậm trễ gặp gỡ giáo dân viện lẽ phải giữ luật lệ, bị trở ngại, hoặc do thói quan liêu bàn giấy giáo sỹ.
Vị tổng giám mục đi ra phố như một linh mục, ngài xác tín sâu xa rằng việc gặp gỡ người nghèo giúp tìm được sự phong phú thiêng liêng, bởi vì nơi người nghèo, người ta nhận ra tính thật thà và đơn sơ cách đặc biệt trong những mối tương quan với Chúa. Việc lựa chọn đứng về phía người nghèo – do các HĐGM Mỹ Latinh nêu lên từ năm mươi năm nay ở Medellin, Puebla, Santo Domingo hay Aparecida – luôn được ngài lưu tâm. Không phải vì ý thức hệ, nhưng hoàn toàn vì lý do tôn giáo. Theo kiểu nói của ngài, người chăn chiên “phải có mùi như đoàn chiên của mình1”. Trong cuộc sống, không bao giờ ngài quên ý tưởng đó.
Đức cha Jorge biết rằng các khu ngoại ô cũng là thế giới của bạo lực, ở đó, sự tàn bạo vẫn treo lơ lửng, cho dù bên ngoài có vẻ yên tĩnh qua hình ảnh những phụ nữ ngồi trước cửa nhà, hay cánh đàn ông sõng soãi trên ghế uống rượu, tán gẫu, hoặc hình ảnh những trẻ em vào dịp lễ Giáng Sinh, là kỳ hè ở Buenos Aires, chơi té nước trong các chậu bằng nhựa. Jorge biết rõ điều đó, nhưng ngài không trốn tránh, ngài không sợ.
Tại làng Ramón Carrillo, cách nhà xứ vài bước, là một căn nhà có mái hiên đen đủi, căn nhà này gợi lại cuộc hành quân trừng phạt do gia đình của một cậu bé bị bắn chết trong vụ đấu đá giữa các băng nhóm. Nơi khác còn tồi tệ hơn. Một gia đình tư sản ở Buenos Aires nhận nuôi một cô bé trong làng, sau khi xem xét các hình vẽ của cô bé, và với sự giúp đỡ của các chuyên viên tâm lý, họ nhận ra rằng cô bé đã trải qua một lần phá thai, và bào thai được quăng cho chó ăn1.
Cha Pedro còn nhớ như in về một ngày lễ rửa tội. Khi ngài cử hành bí tích bên cạnh bàn thờ, một tên trộm còn trẻ dừng lại trước cửa căn lều dùng làm nhà nguyện, thở hổn hển. Hắn bị người mà hắn ăn cắp đuổi theo bắt được, và bị đánh vào đầu một cách tàn nhẫn bằng báng súng. “Thằng bé quì gối, gào thét. Người ta nhắm thẳng súng vào nó la to: “Tao giết mày, tao giết mày”. Tôi để đứa trẻ sắp được rửa tội ở đó và chạy đến ngăn cản người cầm súng, trong lòng tôi cũng khiếp lắm.” Đứa trẻ đầu đầy máu, đã được cứu vào giờ phút chót, và được chở đến bệnh viện. Vũng máu còn lại trên cửa nhà thờ. “Đối với máu những người bị sida, chúng tôi phải mang bao tay để rửa”, vị linh mục nhớ lại.
Jorge đã nhiều lần bước qua cánh cửa sắt sơn màu xanh đó. Cha xứ không dám kể cho ngài câu chuyện này. Tuy vậy, vị tổng giám mục cũng đã nghe biết hết, ngài rất rõ những gì xảy ra trong các khu làng. Đây không phải là thế giới mà ngài khám phá qua báo chí, tivi, nhưng ngài biết mùi của chúng, khuôn mặt của chúng, đây là một phần cuộc sống của ngài.
Ngoài bạo lực, ma tuý cũng là vấn đề bám rễ ở các khu làng ngoại ô. Các ông chủ mafia sống ở nơi khác, trong những khu phố sang trọng. Còn tay chân của hệ thống buôn bán ma tuý thì sống ở đây. Đây là vương quốc của ma tuý với giá cắt cổ - hơn 5 pesos một liều – cái thứ chiết xuất từ chất cocain mà dân Buenos Aires quen nói là nó “làm nổ tung cái đầu”. Chẳng bao lâu nó biến người ta thành nô lệ cho nó. Người ta cho trẻ em hút, những đứa trẻ mười ba, mười bốn tuổi, có khi nhỏ hơn. Trong một dịp an táng, người ta đến ôm hôn trìu mến ông cha xứ, nhưng dưới áo vét của họ cồm cộm khẩu súng. Đám trẻ đi ăn trộm để mua một liều ma tuý, rồi do ảnh hưởng ma tuý, lại tấn công khách đi đường.
Ma tuý là một vấn nạn nát óc, vì nó mà người ta cung cấp súng ngắn cho trẻ vị thành niên. Năm 2009, các cha xứ ở đây đã can thiệp một cách rất mạnh mẽ vào cuộc tranh luận về dự luật không kết án kẻ buôn bán ma tuý, các ngài đã đưa ra một bản cáo trạng. Trong đó các ngài tố cáo “thực sự thì trong các khu ngoại ô, đã có một sự tự do và không kết án tội phạm ma tuý rồi”. Vấn đề không phải do những người sống trong khu ngoại ô, bản cáo trạng viết, nhưng là do đường dây sử dụng họ và làm giàu trên họ. Bài viết đã gây tiếng vang lớn trên công luận. Ngay lập tức các ông chủ ma tuý phản ứng: một buổi tối tháng Tư, một tên mua bán ma tuý bịt mặt, đón cha Pepe Di Paola trong con hẻm nhỏ, cảnh cáo ngài “ông biến đi, nếu không thì sẽ chết”.
Vị tổng giám mục không ngần ngại chấp nhận bài tố cáo đó và ngài lấy lại như ý kiến của mình. Hai ngày sau, trong thánh lễ cử hành trước sân Nhà thờ chính toà, ngài công khai chống lại “những tên buôn bán đầy thế lực trong bóng tối”, ngài kể lại câu chuyện người ta đe dọa vị linh mục của ngài. Cha Pepe, người đầu tiên soạn bản cáo trạng, cảm thấy mình cũng bi đe dọa như các bạn linh mục trong khu làng; Tổng giám mục nói với ngài: “Tôi muốn người ta giết tôi hơn là giết Cha”. Những tên buôn lậu ma tuý đã từ bỏ ý định ám sát, nhưng sau đó, cha Pepe buộc phải rời khu làng 21.
Đức cha Jorge nhớ điều đó, những khi đi métro hay đi xe bus, tay mang chiếc túi đen. Ngài không phải không lo lắng, cũng không phải theo thuyết định mệnh, chỉ xác tín rằng để thực thi vai trò một người “mục tử đi theo đàn chiên”, thì ngài không thể chọn sống trong lâu đài, đi xe hơi, có tài xế và cận vệ riêng. Ngài biết rõ những tên buôn lậu ma tuý không lùi bước trước bất cứ thế lực nào, ngay cả trước những nguyên tắc của Giáo hội. Năm 1993, hồng y người Mêhicô Juan Posadas Ocampo đã bị ám sát ngay tại sân bay Guadalajara trong một vụ thảm sát do những tay súng không thương tiếc thuộc nhóm “Cartel de Tijuana”. Theo kết quả điều tra chính thức, thì đây là một tai nạn bi thảm, và vì hồng y đã có mặt trong một cuộc đọ súng giữa hai nhóm thù địch nhau. Sau đó đã xuất hiện những yếu tố cho thấy chính quyền đề nghị gia đình hồng y Ocampo đừng công bố những thông tin liên hệ đến sự cấu kết của những tên buôn ma tuý với cảnh sát địa phương.
Tổng giám mục Bergoglio cũng đã nhận được những lời đe dọa. Năm 2012, các công đoàn đã cảnh báo ngài phải cẩn thận, bởi vì có những nhóm muốn hại ngài, và đừng bao giờ đi lại trong thành phố mà không có cận vệ. “Tôi sẽ không rời bỏ đường phố1” ngài trả lời. Ngài cũng trả lời như vậy khi các linh mục trong khu ngoại ô nhắc ngài cẩn thận kẻo bị bắt cóc.
Đức cha Jorge biết hai khuôn mặt của khu ngoại ô. Đó là một khu vực đầy bạo lực nhưng cũng đầy ắp tình người. Ngài thấy trong khu bất hợp pháp này tập trung những con người đơn sơ, khao khát hy vọng, rất tương trợ nhau, và có lòng đạo đức bình dân sâu xa, họ rất vui trong những dịp lễ. Cha Pepe luôn nói rằng việc thực hiện chương trình nồi cháo bình dân tại khu ngoại ô dễ hơn trong khu nhà giàu. “Phụ nữ thì lo nấu nướng, đàn ông thì mang vật liệu tới, giới trẻ thì đến giúp được gì thì giúp.” Những căn nhà nứt nẻ, hoặc chẳng bao giờ xây xong, ở đó nhà nước là một điều gì nghe rất mơ hồ, chính quyền muốn biết một người dân nào đó đang sống ở đâu, thì lại phải đến hỏi thăm các linh mục, trong bối cảnh đó, giáo xứ là một trung tâm trợ giúp và là điểm lui tới của người dân.
Tại làng 21, người dân đến giáo xứ để nhận thực phẩm: bánh, một ít thực phẩm và trái cây trong những chiếc túi đã chuẩn bị sẵn. Linh mục Toto De Vedia, đến thay thế cha xứ Pepe, đón tiếp mọi người trong căn phòng nhỏ tí, treo đầy hình ảnh, quà lưu niệm, những thông báo viết tay. Hai điện thoại di động, một bình trà không bao giờ cạn, loại trà phổ biến ở đất nước này có vị đắng và thơm, một cuốn sổ tay đầy ghi chú. Đoàn người xếp hàng không dứt. Một bà mẹ đến xin bánh cho con ăn giữa bữa học, bà mẹ khác lo lắng vì con mình sử dụng ma tuý và bỏ nhà đi, bà mẹ khác nữa đến tìm việc cho đứa con gái. Cha xứ còn phải tìm việc cho một chàng trai, tổ chức cuộc lễ ở trung tâm chăm sóc người già, thăm các gia đình và bệnh nhân, mua sắm lương thực khi cần, đi dâng lễ tại một bệnh viện tâm thần bên cạnh, xây dựng ngôi trường làng, một bà đang cần chiếc xe lăn, đi giải tội, dâng lễ.
Tại Buenos Aires, các Làng này không phải là những khu phố nhưng là những khu dân cư nhỏ, nơi đây Tổng giám mục đã đặt một vị đại diện của ngài. Làng 21 có bốn mươi ngàn người, “sáu mươi, bảy mươi mẫu đất thu hồi từ các tổ chức”, cha Toto De Vedia xác nhận. Dưới sự chăm sóc của Tổng giám mục, các làng đã xây trường cho học sinh cấp hai, những trung tâm nuôi dưỡng người già, trung tâm cai nghiện, trung tâm dạy nghề. Người ta tổ chức các sinh hoạt thể thao để giúp người nghiện ma tuý tránh môi trường đường phố, dạy kèm để trẻ em không bị bỏ rơi. Việc đặt một vị đại diện đã cho thấy Tổng giám mục rất quan tâm đến các khu dân nghèo này.
Mỗi khi đến thăm vùng ngoại ô, đức cha Jorge lại có sáng kiến mới. Bước xuống khỏi xe điện để chậm rãi đi bộ về giáo xứ Villa Ramón Carrillo, giáo xứ cuối cùng ngài đã thành lập, ngài nhìn thấy ngôi nhà nhô cao một chút bên cạnh nhà thờ, dành để đón tiếp các cuộc họp, các lớp dạy kèm, các lớp dạy nghề và có cả một nhà thuốc tây nho nhỏ. Những công việc đó do một nhóm khoảng ba chục sinh viên điều hành. Dưới sự dẫn dắt của một quản đốc, mỗi ngày thứ Bảy các em đi vào thành phố. Cô tình nguyện viên Mechi Guinle giải thích công việc của họ: “Một nhóm bạn trẻ Do thái và Rabbi của họ cũng giúp chúng tôi. Một người dân trong vùng, thuộc hệ phái Phúc âm, giúp cho mượn chiếc xe tải. Thực ra, các tín hữu hệ phái Phúc m có một đền thờ và nhiều phòng cầu nguyện trong khu nhà ổ chuột này, họ ở chung với ông cha xứ mà chẳng có vấn đề gì. Trước nhà thờ, treo một băng rôn màu xanh, trên đó ghi: “Lạy Mẹ Maria, xin giúp chúng con tin rằng Thiên Chúa làm được những điều không thể.”
Đức cha Jorge cảm thấy thoải mái trong các giáo xứ ở vùng ngoại ô tuyệt vọng này. Những ngôi nhà thờ đó, ngài nhìn thấy mọc lên hay chính ngài xây dựng. Đối với di dân từ những vùng bị bỏ rơi nhất, thì nhà thờ là một góc hy vọng cho họ. Ở làng 21, số người di dân từ Paraguay rất đông, giáo xứ được dâng kính Đức Trinh Nữ Caacupé của họ. Nhà thờ trông giống như một nhà để xe xây bằng xi măng, trong đó có rất nhiều tượng Đức Mẹ. Mỗi bức tượng mang một câu chuyện và sự can thiệp riêng, đầu tiên là tượng Đức Bà Guadalupe. Phía cuối căn phòng, một bức hình lớn chụp đám đông đang vui vẻ đi hành hương đền thánh Caacupé. Người ta cũng thấy bức tranh kính tròn vẽ hình Chúa Giêsu. Một thánh giá lớn. Một bức tượng Chúa Kitô đang chỉ vào trái tim nhân từ của ngài. Một bức chân dung thánh Don Bosco. Một tấm hình cha Carlos Mugica, vị linh mục trí thức của Làng 31 de Retiro, cha đã từng dấn thân trong Phong trào “Linh mục thế giới thứ ba”, bị ám sát năm 1974 do nhóm liên minh chống cộng Achentina. Một bức tượng thánh Rocco với con chó của ngài. Trong góc phía sau bàn thờ, là một hang đá trưng hoa giấy màu sặc sỡ, có hài nhi Giêsu đứng trước thánh giá, chung quanh là hình giáo hữu trong giáo xứ.
Dân chúng hết sức nhiệt tình, điều đó làm đức cha Jorge phấn khởi, ngài mỉm cười khi đứng nhìn tấm bia bằng gỗ ghi nhớ “khánh thành nhà thờ ngày 8/10/2009 do Đức giám mục Jorge Mario Bergoglio”. Đức cha Jorge yêu mến hình ảnh những phụ nữ thinh lặng cầu nguyện trên các ghế dài trong nhà thờ, trong khi trẻ con chạy nhảy dưới những mái hiên nhà bên cạnh. Ngài luôn nhắc nhở các linh mục: “Giáo hội không phải được thành lập để kiểm soát người dân, nhưng để đồng hành với họ bất cứ nơi nào họ hiện diện.” Trước khi ngài đến đây, các cha xứ phụ trách một họ đạo trung tâm thành phố cũng kiêm luôn một khu nghèo ngoại ô. Bây giờ tình thế ngược lại, mỗi linh mục ở khu ổ chuột cũng được giao cho một giáo xứ khu trung lưu.
Đến tuổi về hưu, đức cha Jorge vẫn không biết rằng cuộc đời mình bước sang một khúc quanh mới. Mỗi người được “sinh ra” vào một thời kỳ cụ thể. Karol Wojtyla được hun đúc trong cuộc chiến thầm lặng chống sự chiếm đóng của Đức Quốc Xã, rồi công việc tại các mỏ đá và nhà máy ở Solvay. Bênêđictô XVI được huấn luyện trong các giảng đường đại học. Piô XII và Phaolô VI lớn lên trong các văn phòng Quốc vụ khanh Vatican. Gioan XXIII trưởng thành giữa các anh em Chính Thống tại Bulgary và Hồi giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ.
Jorge Mario Bergoglio được tái sinh bằng những quãng đường trên xe métro, nhìn thành phố bằng chính tấm lòng của mình, đo khoảng cách giữa các doanh trại quân đội bằng chính đôi chân của mình.