Kết thúc một Giáo hội triều đình
Chỉ cần vài phút là người ta có thể xác định hình ảnh của một vị giáo hoàng mới. Khi xuất hiện lần đầu tiên tại ban công, đức Albino Luciani đã gây ấn tượng bằng nụ cười ngơ ngác và câu chào hỏi hầu như của trẻ em. Đức Gioan Phaolô I đã muốn nói chuyện với các bạn nhưng nghi thức đã lưu ý ngài rằng đó không phải là phong tục. Giáo hoàng Joseph Ratzinger đã từng gợi lên sự dịu dàng với chiếc áo len màu đen để lộ phía dưới ống tay áo giáo hoàng màu trắng. Đức Gioan Phaolô II đã từng lập tức chứng tỏ sự duyên dáng qua câu nói nổi tiếng: “Nếu tôi nói sai thì xin sửa dùm tôi”.
Bergoglio bối rối với dáng đi hơi lắc vai khi ngài tiến tới khung cửa sổ, ngài thinh lặng và kín đáo chào hỏi, dường như ngài nhìn thấy từ đằng xa một nhóm thân hữu gia đình hay bạn bè của ngài.
Cử điệu có vẻ rời rạc, chẳng phải là của một người ở vị trí cao. Lời nói của ngài không chỉ dừng lại ở việc giới thiệu một con người mà các hồng y đã đi tìm “hầu như ở mút chân trời”. Phanxicô ngay lập tức đã vẽ ra một viễn ảnh mới: “Chúng ta hãy bắt đầu con đường thế này nhé: giám mục và tín hữu”, ngài lặp lại hai lần, nhấn mạnh vai trò của cộng đoàn gồm những tín hữu, và “chúng ta hãy tin tưởng lẫn nhau”. Giáo hội Roma “đứng trước các Giáo hội khác trong đức ái1”, ngài tuyên bố.
Qua vài nét, ngài đã cho thấy một kiểu Giáo hội mang tính cộng đoàn. Giám mục và tín hữu cùng nắm tay nhau bước đi. Roma không phải là trung tâm bàn giấy của quyền lực, nhưng phải nối kết các cộng đoàn Công giáo trên khắp thế giới bằng sợi dây dựa trên tình yêu hơn là trên luật lệ. Đó chính là điều mà thánh Inhaxiô Antiôkia đã khẳng định ở thời đầu Kitô giáo. Bergoglio thích kiểu gọi “giám mục Roma” hơn. Buổi tối đầu tiên, ngài không xưng mình là giáo hoàng. Tại ban công không treo huy hiệu giáo hoàng có vương miện phía trên, biểu tượng của vương quyền, nhưng chỉ có một tấm vải đỏ sậm trên đó có hình chữ nhật màu trắng.
Ngày hôm sau, đức Phanxicô lấy lại ý tưởng con đường như đã được chia sẻ trong thánh lễ cử hành tại nhà nguyện Sixtine với hồng y đoàn. Khi giảng, ngài không ngồi trên ngai giáo hoàng nhưng đứng nói, giống như một cha xứ. Ngài lưu ý họ ba ý tưởng: lên đường, xây dựng đời sống tốt đẹp và phó thác cho đức Kitô. Cuộc đời là một con đường, ngài nói, và nếu ai dừng lại, “là có điều gì đó không ổn”. Bước đi với Thập giá, bởi vì nếu người ta loan báo Đức Kitô không thập giá, thì Giáo hội cũng chỉ là một tổ chức Phi chính phủ. Theo cách đó, “chúng ta không phải là những môn đệ của Chúa: chúng ta là những người trần tục, chúng ta là những giám mục, linh mục, hồng y, giáo hoàng, nhưng không phải là môn đệ của Chúa”1. Trong khi chia sẻ với các hồng y đã bầu mình, giáo hoàng ngừng lại lấy hơi liên tục. Chứng thần kinh toạ đang hành hạ ngài.
Kiểu cách của Bergoglio đã tỏ lộ ra ngay từ giai đoạn đầu tiên. Một kiểu nói thẳng thừng, có vẻ bình dân, một lòng đạo đức sâu xa, có ý tưởng về một Giáo hội năng động. Nhiều hồng y nhăn mặt khi so sánh kiểu nói của ngài với cách sử dụng từ ngữ trau chuốt của đức Bênêđictô XVI. Nhưng Bergoglio muốn sử dụng kiểu nói đơn giản và chân chất này để lay chuyển sự việc. Nhà văn Công giáo Hoa Kỳ Michael Novak bình luận rằng đó là một kiểu nói phá băng. Để cải tổ, cần phải phá vỡ cái khung sườn đã hóa đá. Giáo hoàng Phanxicô muốn một Giáo hội chuyển động, Giáo hội không khép kín do sợ tai nạn. “Tôi xin nói: tôi thích ngàn lần một Giáo hội bị tai nạn hơn là một Giáo hội bệnh hoạn! tôi thích một Giáo hội can đảm chấp nhận những rủi ro để lên đường1”, trong những tháng tiếp theo ngài đã nhiều lần lặp lại điều đó.
Y phục của ngài chỉ là chiếc áo dài trắng. Chính sự lựa chọn này đã gặp nhiều công kích. Sau khi đắc cử, khi mặc phẩm phục giáo hoàng, ngài đã nói với vị chưởng nghi Guido Marini đang đề nghị ngài mặc áo choàng đỏ: “Không, cám ơn. Cha có thể mặc áo đó cho cha đi […]. Lễ hội hóa trang đã kết thúc rồi !” Câu nói ẩn ý này đã bị các người phỉ báng ngài lấy lại. Thật khó tưởng tượng một vị giáo hoàng dòng Tên lại sử dụng thứ ngôn ngữ thiếu phong nhã đến như thế.
Hôm sau ngày bầu giáo hoàng, dân chúng ở Roma nhận thấy giáo hoàng không mang giầy đỏ cổ điển và vớ tím, là những trang phục đã từng gây phiền hà cho đức Ratzinger bởi các phương tiện truyền thông. Đức Phanxicô mang đôi giầy màu đen cũ kỹ, đã biến dạng. Đôi giầy linh mục đã được sửa lại mà ngài đã mang ở Buenos Aires, ở tòa tổng giám mục hay trong các khu phố nghèo. Ở cổ tay, ngài mang đồng hồ loại bình thường. Thánh giá trên ngực ngài là bằng sắt. Ngài không muốn đeo nhẫn vàng. Chiếc nhẫn ngư phủ, mà hồng y Sodano nhân danh hồng y đoàn tặng cho ngài, đơn giản là bằng bạc.
Hai mươi bốn giờ sau khi đắc cử, ngài đòi trở lại khách sạn Quốc tế ở đường Scrofa – nơi ngài trọ ở Roma trước khi vào mật nghị - để xếp valise và trả tiền phòng. Hình ảnh đó được truyền đi khắp thế giới. Giáo hoàng Roma đứng ở quày tiếp tân, mặc áo dài trắng, trong khi nhân viên lễ tân đang ghi hóa đơn. Cùng ngày hôm đó, để đi đền thờ Đức Bà Cả, ngài từ chối chiếc xe công sự mang biển số SCV1 để bước lên chiếc xe đơn giản của Sở cảnh sát Vatican. Ngày 14/11/2013, khi đến cung điện Quirini để chào chính thức tổng thống Ý, ông Giorgio Napolitano, ngài sử dụng chiếc xe Ford Focus. Không còi hụ, không mô tô dẫn đường, không lính cỡi ngựa làm hàng rào danh dự. Khi bước lên xe, ngài kéo áo dài lên, lộ chiếc quần tây màu đen.
Tháng Bảy 2013, ngài đến Lampedusa để gặp gỡ những di dân từ Phi châu và cầu nguyện cho những người bạn của họ đã chết trên biển. Tại đây, đức Bergoglio sử dụng chiếc Fiat Campagnola, do một người Milan sống trên đảo cho ngài mượn. Tháng Mười năm đó, tại Atxidi, ngài sử dụng chiếc Panda màu xanh. Khi một linh mục ở Verona tặng cho ngài chiếc 4L, ngài nhận, nhưng tặng lại cho bảo tàng xe hơi giáo hoàng. Nếu vì lý do an ninh, ngài phải từ chối đến Lampedusa bằng chuyến bay bình thường, như ngài mong muốn, thì ngài đã yêu cầu tránh đoàn tuỳ tùng quan chức: không có cả các quan chức trên đảo đón tiếp. Sau thánh lễ, ngài đứng ăn sáng chiếc bánh sandwich, và vì lịch sự, thưởng thức một miếng bánh ngọt.
Nhiều ngày trôi qua, nhưng vị giáo hoàng người Achentina không dọn đến ở trong căn phòng dành cho giáo hoàng. Ngài ở lại nhà khách thánh Matta, đây là khách sạn của Vatican, nơi ngài đã trọ trong những ngày mật nghị. Lúc đầu người ta nghĩ đây chỉ là một giải pháp tạm thời, chờ thời gian để trang bị lại căn phòng truyền thống của các giáo hoàng theo ý ngài. Có lúc, người ta đồn rằng ngài sẽ đến ở tại dinh thự Latran, trước đây là tòa giám mục Roma. Nhưng giáo hoàng Phanxicô từ chối khái niệm dinh thự. Sau hai tháng, các vị quan chức mới ngỡ ra: giáo hoàng Phanxicô ở luôn tại nhà khách thánh Matta. Một lựa chọn gây sốc đối với cánh bảo thủ, và ngay cả một số hồng y đã bầu cho ngài cũng càu nhàu về việc này. Mặc dù tinh tế, nhưng những dấu hiệu phản đối đầu tiên đã nổi lên. Một số người tố cáo ngài là đoạn tuyệt với truyền thống để mị dân, bằng cách chiếu một tia sáng tiêu cực vào các vị tiền nhiệm.
Giáo hoàng thích sống tại căn phòng nhỏ mang số 201 dành cho khách trọ, ăn trong phòng ăn chung, ngồi cùng bàn với những người khác, và để mặc ai muốn ngồi bên cạnh cũng được, “như thế sẽ dễ đầu độc họ” ở Buenos Aires người ta thường nói đùa như vậy. Ngài viết cho một linh mục người Achentina “tôi sống với mọi người và tôi sống một cuộc sống bình thường. […] buổi sáng dâng lễ cộng đoàn, rồi dùng bữa ở căn tin với những người khác […] như thế tôi không bị tách rời”.
Mỗi buổi sáng lúc 10g, giáo hoàng Phanxicô rời nhà để đến chỗ làm việc, nhưng buổi chiều, ngài làm việc trong văn phòng tại nhà khách thánh Matta. Người ta có thể gặp ngài trong thang máy, hay khi ngài đi uống café tại máy bán café, hay đang tìm tiền lẻ trong túi. Những ngày đầu khi ngài mới làm giáo hoàng, có hai linh mục gặp ngài trong thang máy, lắp bắp chào ngài, luống cuống không biết phải nên vội vàng rút lui hay hôn nhẫn.
Xa cách với thế giới không phải là điều tốt cho ngài: “Tôi không muốn sống cô đơn. […] Tôi không thể […] vì những lý do tâm lý”, ngài nói đùa. Nếu một người “yêu chính mình” thì không có tham vọng ngồi trên tòa thánh Phêrô, ngài kể trong một lớp học dòng Tên. Vì thế, ngài “không muốn làm giáo hoàng”.
Khi từ Braxin trở về, ngài lặp lại với các ký giả: “Tôi cần con người, tôi cần gặp gỡ con người, tôi cần nói chuyện với họ1.” Ngài giải thích một cách lịch sự hơn khi nói chuyện với cha Antonio Spadaro dòng Tên: căn hộ giáo hoàng “giống như cái phễu lật ngược […]: lối đi vào thì rất hẹp, người ta đi vào nhỏ giọt”2. Theo kiểu nói của Vatican, “căn hộ” là từ ngữ được sử dụng để nói về những cấp bậc cao. Việc giáo hoàng Phanxicô cư ngụ ở nhà khách thánh Matta đã phá vỡ cái nhóm ma thuật của các chuyên viên, những người mà dưới mỗi triều giáo hoàng, làm công việc truyền lại các mảnh tư tưởng của giáo hoàng cho đại chúng, do đó họ đòi được quyền tiếp cận – thực sự hay chỉ cảm nhận như vậy – các căn hộ của giáo hoàng. Với một giáo hoàng nói năng một cách trực tiếp có khi gây xì căng đan, thì chẳng còn chỗ cho việc nại đến “Thần Khí” (kiểu nói của giáo triều để nói về ý muốn của đức giáo hoàng).
Lối sống thanh đạm một cách bướng bỉnh của giáo hoàng đã làm đảo lộn cả truyền thống. Đôi khi ngài đến tham dự một nghi lễ long trọng mà cũng như các giám mục khác, cũng mang theo mũ giám mục đựng trong hộp. Khi cử hành thánh lễ đầu tiên tại nhà nguyện Sixtine, ngài còn đội chiếc mũ giám mục mang từ Buenos Aires. Trong khi giảng, nếu phải lau cặp kính, ngài cẩn thận rút chiếc hộp nhỏ trong túi áo, không cần vị thư ký khúm núm đưa cho ngài giống như thời vị tiền nhiệm. Khi đáp máy bay đi Rio de Janerio, ngài đi theo lối dẫn lên máy bay, tay xách chiếc cặp màu đen. “Tôi vẫn làm như thế. […] Trong cặp có dao cạo râu, cuốn sách nguyện, cuốn lịch và một cuốn sách để đọc.”
Ở Vatican, nếu muốn phê bình những kiểu sống mới lạ như thế, thì người ta gọi đó là kiểu của dân “Nam Mỹ”. Nhưng trường hợp này không phải thế. Ở Nam Mỹ, có đủ kiểu giám mục hoặc hồng y. Sống rất nghèo như giám mục Hélder Câmara, người đã nhường ngôi nhà của mình cho những người vô gia cư; cũng có những vị sống theo kiểu thường thường bậc trung, không kể những vị hồng y cao cả giống như những quí tộc vùng Castille ngày xưa. Sự khiêm tốn của giáo hoàng Phanxicô không phải là theo văn hóa dân gian. Kiểu sống khác thường phản ánh cá tính của ngài. Theo hồng y Ruini, cách sống đó giống như “sự đơn giản của các giáo sư dòng Tên, họ chẳng có gì ngoài những cuốn sách”.
Kiểu sống không theo truyền thống này trước tiên nhằm phục vụ cho một dự định có tính toán: loại bỏ tính cách triều đình trong giáo triều, tính độc đoán theo kiểu vua César, ví mình như một vị thần, còn được nuôi dưỡng bằng hào quang bất khả ngộ, những tính cách đó đã kết tụ trải qua hằng bao nhiêu thế kỷ tại giáo triều và gói ghém trong tước hiệu người kế vị thánh Phêrô: giáo hoàng tối cao.
Vài ngày sau khi được bầu, giáo hoàng Phanxicô giáng một cú rất mạnh xuống hình ảnh quyền lực Vatican. Giải thích việc chọn danh hiệu của mình là thánh Phanxicô Atxidi, giáo hoàng Bergoglio ngừng lại và thở dài: “Ồ, vì tôi muốn một Giáo hội nghèo, cho người nghèo1!” Lời đó đã được đón nhận bằng những tràng pháo tay nồng nhiệt. Tờ Osservatore Romano trích câu này và in ở trang nhất, chữ đậm. Theo các bản thăm dò ý kiến, Giáo hội cho người nghèo không phải là hình ảnh đầu tiên mà Giáo hội hiện nay đang gợi lên. Khán giả hiện diện trong thính phòng hôm đó nhớ lại tình cảm xúc động khi nghe những lời trên, những lời được vang lên như một chương trình hành động.
Những từ như “thánh thiêng” và các tước hiệu khác nghe có vẻ như gắn liền với vai trò đầu tiên của giám mục Roma thực ra chẳng liên hệ gì đến Kitô giáo cũng chẳng liên hệ gì đến Tin mừng. Sử gia Giovanni Filoramo đã viết về các nghi lễ thời hậu Đế chế Roma như sau: “Tất cả những gì liên hệ đến hoàng đế Dioclétien đều được gán cho là “thánh thiêng”: các sắc lệnh, phòng ngủ, lính gác, viên đại pháp quan triều đình. Người được vào yết kiến hoàng đế thì được gọi là “vào chầu màu đỏ”, tức là tôn kính tà áo choàng của hoàng đế”.
Từ đó mới có phong tục giầy và áo choàng giáo hoàng đều màu đỏ. Chẳng liên hệ gì với màu máu hay biểu tượng của việc sẵn sàng chịu tử đạo, nhưng là màu đỏ của quyền lực tuyệt đối. Việc các hồng y quì phục trước giáo hoàng là sự thần phục của chư hầu khi ra chầu hoàng đế Roma, vị vua các vua Ba Tư. Tòa “Thượng thẩm Rota thánh”, “tòa Điều tra Giáo hội thánh”, “tòa thánh”, “những cuộc tiếp kiến với cử chỉ hôn tay”, các “thánh bộ”, “hôn giày” giáo hoàng, đều gợi lại các phong tục chế độ quân chủ tuyệt đối ở Đông phương, nơi mà mỗi cử chỉ của quân vương cũng đều chính thức làm nên một qui luật tối cao.
Đức Phanxicô nói với Eugenio Scalfari, người sáng lập tờ La Repubblica, rằng “các người đứng đầu trong Giáo hội nhiều khi cũng có tính tự yêu mình quá đáng, lại được triều thần tung hô và phỉnh nịnh, triều đình là bệnh phong của giáo hoàng”.
Cách đây năm mươi năm, người ta còn thấy giáo hoàng ngồi trên kiệu khiêng, chung quanh là những cây quạt hình cành cọ, di sản từ thời các Pharaon Ai Cập. Đức Gioan Phaolô II đã loại bỏ kiệu khiêng, điều mà giáo hoàng Luciani vốn tính rụt rè đã không dám đụng tới. Giáo hoàng thông thái Bênêđictô XVI đã tiến thêm một bước nữa, khi thay thế vương miện trên biểu tượng giáo hoàng bằng hình chiếc mũ giám mục đơn giản. Theo cách của mình, giáo hoàng Phanxicô thúc đẩy nhanh hơn và rõ ràng hơn việc loại trừ những biểu tượng không thuộc Kitô giáo.
Vừa được bầu, đức Gioan XXIII cũng không chấp nhận khi ông Cesidio Lolli, phó giám đốc tờ Osservatore Romano, quì xuống trước mặt ngài, “Ông làm cái gì vậy?” ngài nói và mời ông ngồi. “Thưa đức thánh cha, con không được phép ạ, đây là nghi lễ ạ” ông Lolli trả lời. – người ta chỉ quỳ gối để cầu nguyện chứ không phải để làm việc1”, đức Roncalli nói lại, và đe dọa bỏ đi.
Giáo hoàng Bergoglio gây khó chịu các đấng bậc ở Vatican khi ngài hôn lên má bà tổng thống Cristina Kirchner và khoát tay từ khước việc công chúa Rainia nước Jordanie muốn hôn nhẫn ngài. Đây cũng là vị giáo hoàng đầu tiên để các tín hữu ôm hôn ngài một cách tự nhiên.
Mọi sự xem ra thuận lợi cho việc loại trừ những huyền thoại về một giáo hoàng-hoàng đế. Đức Gioan Phaolô II nhiệt tình, nhân bản, đôi khi vui vẻ, đôi khi nổi giận, nhưng ngài vẫn còn là “hoàng đế”. Giáo hoàng Phanxicô bỏ lại đằng sau cái hào quang quân chủ này một lần dứt khoát. Giáo hoàng là giám mục và phải nói năng như một linh mục. Sự thay đổi cũng được biểu lộ qua cuốn Niên giám giáo hoàng. Ở đầu cuốn niên giám, nơi trang nhất dành cho giáo hoàng, người ta ghi “Phanxicô, giám mục Roma”. Những tước hiệu khác theo phong cách Barốc – chẳng hạn như đại diện Chúa Giêsu Kitô, kế vị người đứng đầu các Tông đồ, Giáo hoàng tối cao của Giáo hội toàn cầu – đều được chuyển xuống trang sau.
Ba tháng sau khi được bầu, ngài không đến dự buổi hòa nhạc dành cho ngài nhân Năm đức tin. Trong thính phòng Phaolô VI, chiếc ghế dành cho ngài được để trống, và hình ảnh đó được truyền thông nhanh chóng chụp lấy. Ngạc nhiên, đức Rino Fisichella, chủ tịch Hội đồng Tân Phúc âm hóa và là người tổ chức sự kiện, đã giải thích sự vắng mặt của giáo hoàng là do ngài bận giải quyết “những việc khẩn cấp”. Cùng lúc đó, giáo hoàng Phanxicô đang nghiên cứu hồ sơ về Ngân hàng Vatican và từ nhà khách thánh Matta để lộ thông tin bằng một câu trả lời sấm sét : “Tôi không phải là một ông hoàng thời Phục Hưng.” Tháng Mười Một, giáo hoàng cũng đã đơn thuần hủy bỏ một buổi hòa nhạc nhân ngày bế mạc Năm đức tin. Những tháng tiếp theo ngài muốn đưa ra một hình ảnh về giáo hoàng khiến các người còn yêu mến một giáo hoàng-biểu tượng phải cảm thấy rất khó chịu, đó là giáo hoàng cũng là một con người bình thường, “cũng khóc, cũng cười, cũng ngủ êm ái và cũng có những người bạn như bao nhiêu người khác”.
Việc loại bỏ những vẻ hào nhoáng thời quân chủ còn được thể hiện trong nhiều chi tiết nhỏ nhặt khác. Không có tiền thưởng cho các nhân viên Vatican nhân dịp bầu giáo hoàng mới. Các nghi thức danh dự của giáo hoàng chỉ dành cho các nhà ngoại giao ngoại quốc. Bỏ tước hiệu Đức Thánh Cha. Không phong tước Đức Ông cho các linh mục dưới 65 tuổi.
Việc Đức Bênêđictô XVI về hưu cũng giúp giáo hoàng Phanxicô loại bỏ biểu tượng về một Giáo hội triều đình. Việc ngài thoái vị đã làm cho khuôn mặt giáo hoàng thành một con người hơn, và không thần thánh hóa các ngài. Khi còn là hồng y, Ratzinger đã từng thấy rằng một thể chế giáo hoàng quân chủ dưới hình thức truyền thống của nó là không còn hữu hiệu: “Một Giáo hội mang chiều kích toàn cầu và với một thế giới trong tình trạng đó, thì không thể được điều hành theo thể chế quân chủ1”, ngài đã nói như thế vài tháng trước khi được bầu làm giáo hoàng. Nhưng khi làm giáo hoàng, ngài không đủ can đảm thực hiện cuộc cải tổ đó.
Giáo hoàng Phanxicô chiến đấu với tận nguồn cội của vấn đề. Ngài điều chỉnh lại các chiều kích của Giáo hội vốn mang hình kim tự tháp không cân xứng. Trong đó, giáo triều Roma là tổng chỉ huy: trụ sở điều hành. Chính các cơ sở vật chất, do vẻ đẹp nguy nga lộng lẫy, làm người ta tưởng rằng đây là “trung ương”, và là “tất cả” của thế giới Công giáo. Một sự ngạo mạn lỗi thời, theo sử gia Giáo hội Alberto Melloni. Đối với giáo hoàng Phanxicô, đã đến lúc phải áp dụng “tính tông đoàn”, nguyên tắc đã được Vatican II đưa ra, theo đó giáo hoàng và các giám mục – cũng như thánh Phêrô và các tông đồ - chia sẻ một trách nhiệm lãnh đạo Giáo hội phổ quát. Giáo hoàng và các giám mục đều là “những đại diện Chúa Kitô”. Đây là điểm mới của công đồng: các giám mục không còn phải là những lãnh chúa dưới quyền một giáo hoàng-quốc vương, nhưng các ngài là những tông đồ chia sẻ với giáo hoàng trách vụ trên toàn thể Giáo hội.
Để đạt được mục đích này, cần phải tuyển chọn những giám mục không mang tham vọng tiến thân xã hội. Đức Bergoglio thông báo cho các sứ thần có trách nhiệm tiến cử các ứng viên giám mục thay mặt cho Giáo triều: “Đó phải là những mục tử gần dân chúng, yêu mến sự khó nghèo, không mang não trạng “ông hoàng”. Phải chắc chắn họ không phải là những người đầy tham vọng2.” Giám mục không phải là “ông hoàng cũng không phải là công chức”, ngài lặp đi lặp lại. Không phải là người ngồi bàn giấy “chỉ quan tâm đến kỷ luật, những qui định và những tổ chức máy móc”.
Các giáo hoàng nổi tiếng thường có trong đầu cả một chương trình hành động ngay ngày hôm sau khi được bầu. Đức Gioan XXIII ngay buổi tối hôm mật nghị, sau bữa ăn, đã gọi giám mục Domenico Tardini đến để thông báo đặt ngài làm Quốc vụ khanh. Gần mười tuần lễ sau, ngài nói với những người thân cận về ý định triệu tập công đồng. Khi làm sứ thần ở Thổ Nhĩ Kỳ, từ 1934-1944, ở chỗ riêng tư, ngài đã nhắc tới cơ hội triệu tập một cuộc họp.
Bốn ngày sau khi được bầu làm giáo hoàng, Bergoglio đã quyết định ai sẽ là Quốc vụ khanh, thay thế hồng y Bertone1. Người được chọn là Tổng giám mục Pietro Parolin, 58 tuổi, sứ thần tòa thánh tại Venezuela, và từ 2002 đến 2009 là Phó tổng thư ký Bộ ngoại giao Tòa thánh. Ngài xuất thân từ trường ngoại giao của các hồng y Casaroli và Silvestrini. Trước khi được gởi đến Venezuela vào năm 2009, ngài đã đảm nhận cuộc đối thoại giữa Tòa thánh và Việt Nam, thiết lập mối quan hệ ngoại giao giữa hai bên. Từ 2010, Vatican đã có thể bổ nhiệm các giám mục tại Việt Nam theo cách thức giới thiệu 3 ứng viên cho chính quyền (như trường hợp tại các nước Đông Âu trong thời gian chiến tranh lạnh). Đức Parolin được nhắm làm quốc vụ khanh của một giáo triều nhẹ nhàng hơn và cởi mở hơn, với sự cộng tác của các giám mục trên thế giới. Dưới con mắt giáo hoàng, Perolin có một ơn đặc biệt là dấn thân trong tác vụ linh mục. Ai quen biết ngài cũng đều nói đó là một linh mục tốt lành.
Giáo hoàng Phanxicô đã hoạch định mọi việc. Vì lý do ngoại giao, ngài để ra 7 tháng, trong thời gian đó, hồng y Bertone đã cố gắng để được triển hạn thêm một năm nữa, nhưng không kết quả. Ngay từ tháng Ba, giáo hoàng đã quyết định thay thế đội cận vệ, việc này sẽ bắt đầu sau mùa hè, và đã thực hiện như vậy. Tổng giám mục Parolin, sẽ được nâng lên hồng y, và sẽ đảm nhận chức vụ chính thức kể từ ngày 15 tháng Mười, trên thực tế, ngài chỉ nhận việc từ 18 tháng Mười Một, sau một cuộc giải phẫu gan.
Ba mươi ngày sau mật nghị, giáo hoàng bắt đầu cuộc cách mạng. Qua các phương tiện truyền thông, ngài thông báo thành lập một uỷ ban gồm 8 hồng y từ năm châu lục. Từ Mỹ Latinh, có hồng y Óscar Rodríguez Maradiaga, người Hondurat, được bổ nhiệm làm điều phối viên, hồng y Francisco Javier Errázuriz người Chilê; Bắc Mỹ có hồng y Sean Patrick O’Malley; Châu Âu có hồng y Reinhard Marx người Đức; Châu Á có hồng y Oswald Gracias, người Ấn Độ; Châu Phi có hồng y Monsengwo Pasinya người Congo; Châu Đại Dương có hồng y George Pell, người Úc. Bản đồ về các cố vấn đó đã phản ánh một Giáo hội toàn cầu như đức Phanxicô nghĩ. Trong nhóm này chỉ có một hồng y thuộc giáo triều, Giuseppe Bertello, chủ tịch Phủ thống đốc Vatican. Một người Ý khác, Marcello Semeraro, nguyên giám mục giáo phận Albano, làm thư ký. Uỷ ban này gồm nhiều nhân vật đã từng giữ vai trò tích cực trong mật nghị, trong số đó có hồng y Monsengwo.
Ý tưởng về một ban cố vấn bên cạnh giáo hoàng là rất mới, do đó, để không làm giảm thiểu vai trò của giáo triều, linh mục Lombardi, phát ngôn viên tòa thánh, phải xác định ngay rằng đây chỉ là một tổ công tác. Nhưng bản thông báo về việc bổ nhiệm ban cố vấn này còn nói nhiều hơn: tám hồng y này sẽ có trách nhiệm nghiên cứu việc cải tổ giáo triều cũng như “làm cố vấn cho giáo hoàng trong việc điều hành Giáo hội phổ quát”. Đó là sự khởi đầu cho tính tông đoàn.
Năm tháng sau, giáo hoàng Phanxicô tiến thêm một bước nữa. Ngày 28/09, ngài thể chế hóa sáng kiến này, và gọi là “Ban Hồng y Tư vấn”, ngài nói rõ nhiệm vụ của ban này là “giúp tôi trong việc điều hành Giáo hội hoàn vũ”. Ngài dành cho mình quyền tổ chức ban này tuỳ theo yêu cầu: số thành viên có thể thêm. Giáo hoàng Phanxicô muốn có chung quanh mình một ban cố vấn thường trực, đại diện trực tiếp cho các giám mục trên toàn thế giới. Theo ngài, đây là cách áp dụng những “gợi ý” trong các cuộc họp chung của các hồng y trước mật nghị.
Thực tế, đây là cơ sở cho việc loại bỏ những hình thức quân chủ độc đoán trong Giáo hội và đem lại cho Giáo hội một cấu trúc cộng đoàn trong đó giám mục đoàn cũng tham gia vào việc quyết định những chiến lược của Giáo hội trong thời đại hiện nay, nhất là về cách thức sống đức tin trong xã hội hiện nay. Sau kỳ hè, giáo hoàng đã đẩy nhanh tiến độ thay đổi. Ban Hồng y Tư vấn được triệu tập vào tháng Mười và tháng Mười Hai 2013, rồi tháng Hai 2014. Trong số những vấn đề được đưa ra thảo luận có việc soạn thảo qui chế mới cho giáo triều, gồm việc duyệt lại toàn bộ cơ cấu giáo triều và quyết định sẽ giải quyết những vấn nạn về gia đình trong một Thượng Hội đồng Giám mục, như vấn đề ngừa thai, tính dục, quan hệ tính dục đồng phái.
Giáo hoàng Phanxicô không phải chỉ là một nhân vật có sức lôi cuốn, ngài còn là một chính trị gia. Cách làm việc của ngài dựa trên việc lắng nghe và cẩn thận nghiên cứu các đề nghị khác nhau. Năm đầu tiên trong chức vụ giáo hoàng, ngài đã không có kỳ nghỉ hè. Ngài từ chối đi nghỉ trong các vùng núi Alpes, là nơi rất quen với giáo hoàng Wojtyla, cũng không có một thời gian thực sự nghỉ ngơi trong ngôi nhà giáo hoàng tại Castel Galdolfo vào tháng Tám. Dường như ngài cảm thấy không có nhiều thời gian nữa.
Ngài đã dùng những tháng đầu trong vai trò quản trị để tham khảo một cách có hệ thống tất cả các cơ quan trong giáo triều, cũng như những đại diện của các cơ quan Công giáo chính. Bà Maria Voce, chủ tịch Focolari, một phong trào Kitô hữu dấn thân thành lập từ năm 1943, đã được gặp giáo hoàng trong thời gian này, và sau cuộc gặp, bà có cảm tưởng rằng đây là một nhân vật “rất nhẹ nhàng, nhưng có cá tính rất mạnh. Ngài khôn ngoan, không liều lĩnh, nhưng nếu biết được đó là thánh ý Chúa, thì ngài theo đuổi đến cùng1”.
Một chính trị gia, một người quản trị, thì phải tỏ ra uyển chuyển. Giáo hoàng Phanxicô đã dành ưu tiên cho việc cải tổ giáo triều, nhưng khi đối diện với những sai lầm do các xì căng đan tài chánh đã nhiều lần gây ra cho Giáo hội, ngài giải quyết ngay vấn đề tiền bạc, không chậm trễ. Giữa mùa hè 2013, ngài thành lập nhiều tổ chức nhằm thiết lập tính minh bạch và duyệt lại những khoản chi tiêu. Ngày 24/06, ngài bổ nhiệm một uỷ ban điều tra Viện giáo vụ: ngân hàng Vatican phải “hòa điệu” với sứ vụ của Giáo hội. Trong uỷ ban này có bà Giáo sư người Mỹ, Mary Ann Glendon, người phụ nữ đầu tiên dẫn đầu phái đoàn ngoại giao tòa thánh tham dự Hội nghị quốc tế về phụ nữ tổ chức tại Bắc Kinh năm 1995, bà là cựu chủ tịch viện Hàn lâm Khoa học Giáo hoàng rồi làm Đại sứ Hoa Kỳ tại Vatican trong nhiệm kỳ thứ hai của tổng thống G. Bush.
Một tháng sau, ngày 18/07, ngài thành lập Uỷ ban “đơn giản hóa và hợp lý hoá” cơ cấu kinh tế và hành chánh của Tòa Thánh, nhằm giảm thiểu những khoản chi phí và số tiền chi phí. Ngày 08/08, ngài thành lập “Ban an toàn tài chánh” nhằm kiểm soát ngăn ngừa việc rửa tiền trong các ban ngành của Vatican. Tổ chức này được giao cho giám mục Brian Wells, người Mỹ, Phụ tá Phòng tổng hợp của văn phòng Quốc vụ khanh, và nối kết đại diện các văn phòng chính của Tòa Thánh: Phòng Kinh tế Sự vụ, Phòng quản trị, Phòng quản lý, Phòng thông tin tài chánh, Phòng an ninh.
Khi thành lập những cơ quan mới, giáo hoàng đã áp dụng một chiến lược toàn diện. Ngài không thành lập một nhóm gồm những người Achentina, dòng Tên, hay bạn bè của ngài. Ý thức về việc phải cải tổ sâu xa các cơ cấu và tổ chức của Giáo hội – đây là một cuộc cách mạng, dành cho các người ủng hộ mình cũng như những người không ưa mình -, giáo hoàng biết rằng mình phải đặt các sáng kiến trên nền tảng sự đồng thuận lớn nhất có thể. Việc điều hành Ban Tư vấn gồm 8 hồng y, được trao cho phe cải tổ là hồng y Maradiaga, nhưng cũng có phe bảo thủ là hồng y Pell của Sydney, phe Ratzinger như hồng y Marx của giáo phận Munich, và cả hồng y Bertello, người của giáo triều mà cho tới mật viện, vẫn được coi như thuộc phe Bertone. Thư ký uỷ ban cải tổ tài chánh là một người của Opus Dei, đức ông Lucio Angel Vallejo Balda, đang làm việc tại phòng Kinh tế sự vụ. Fernando Vérgez Alzaga – một thành viên Đạo binh Chúa Kitô không đồng loã trong những tội ác của người sáng lập là Marcial Maciel – trở thành Tổng thư ký Phủ thống đốc Vatican. Lưu ý tới những áp lực mạnh mẽ từ HĐGM Hoa Kỳ về hoạt động rửa tiền ở Vatican, hồng y người Mỹ Wells có mặt cả trong hai tổ chức: Uỷ ban chống rửa tiền và Uỷ ban cải tổ Viện giáo vụ (IOR).
Việc có nhiều thành phần phản ánh sự đa dạng của các khuynh hướng hiện nay trong Giáo hội. Đó chính là mục đích của giáo hoàng Bergoglio. Nhằm loại bỏ hình ảnh một Giáo hội triều đình, giáo hoàng muốn mời gọi các đồng minh cũng như các cộng sự viên đến từ mọi thành phần trong Giáo hội. Điều đặc biệt là theo cái nhìn của giáo hoàng Phanxicô, việc cải tổ giáo triều, vốn là con ngựa chiến của những hồng y đã bầu cho ngài, không thể chỉ giới hạn vào việc duyệt xét lại các công việc theo khía cạnh hiệu quả mà thôi.
Cho tới đời giáo hoàng Ratzinger, giáo triều luôn tỏ ra là một cơ cấu phục vụ cho việc quản trị của giáo hoàng. Giáo hoàng Phanxicô thay đổi các điều khoản liên hệ và tuyên bố ý định của ngài là cải tổ giáo triều thành cơ chế phục vụ cho việc nối kết giữa giáo hoàng và các giám mục. Ngài hoàn toàn ý thức khi đưa ra một tiến trình gây rắc rối như thế, bởi vì qua nhiều thế kỷ một giáo triều hoạt động nhân danh giáo hoàng, đã bị thần thánh hóa để trở thành một quyền lực điều hành các cộng đoàn Công giáo trên toàn thế giới.
Giáo hoàng Phanxicô bảo vệ và khen ngợi những dấn thân cá nhân của rất nhiều người đang làm việc tại giáo triều, nhưng ngài hiểu rõ những giới hạn của nó. Thất bại của cơ cấu này, ngài nói với Eugenio Scalfari, là “tập trung vào Vatican […], giáo triều chỉ lo lắng và bảo vệ cho lợi ích của Vatican mà đa phần là những lợi lộc trần thế”. Ban Tư vấn gồm 8 hồng y, ngài giải thích tiếp, “cho thấy Giáo hội bắt đầu có một cơ cấu không phải chỉ là hàng dọc, mà còn cả hàng ngang nữa”1. Những lời nói như thế quả là có trọng lượng, vì thật rõ ràng. Cuộc trao đổi giữa giáo hoàng Phanxicô và ông Scalfari đã được đăng trên tờ La Repubblica ngày 01/10 và xuất hiện trên tờ Osservatore Romano cũng như trên trang mạng chính thức của Vatican cùng ngày hôm đó. Tuy vậy, nó đã gây ra nhiều tức giận ngay trong Tòa thánh, và ngày 15/11/2013, bản tin trên trang mạng đã được lấy xuống. Phát ngôn viên tòa thánh, linh mục Lombardi cho biết bản tin “chưa được đọc lại từng chữ, và phải coi bài viết đó là “đáng tin cậy trong ý nghĩa chung, chứ không phải trong từng câu chữ”. Bài viết về cuộc trao đổi đó không được xếp vào các bản văn chính thức của giáo hoàng.
Sự kiện lạ lùng đó, diễn ra trễ một tháng rưỡi, là hồi chuông báo động và là một triệu chứng cho thấy những xung đột ngấm ngầm phát sinh xung quanh cuộc cách mạng của đức Bergoglio. Vị sáng lập tờ La Repubblica, đã trên 90 tuổi, ghi lại theo trí nhớ sau cuộc trao đổi với đức giáo hoàng (cũng như trước đây có trường hợp Alberto Cavallari, một ký giả của tờ Corriere della Sera, sau cuộc phỏng vấn đầu tiên với đức giáo hoàng Phaolô VI), đã kể lại một câu phản ánh rất đúng tư tưởng của giáo hoàng Phanxicô: “Giáo hội là, hay phải trở lại, một cộng đoàn dân Chúa. Các nhà xứ, các giáo xứ, các tòa giám mục [...] là để phục vụ dân Chúa.”
Qui mô cuộc cách mạng mà giáo hoàng Phanxicô có trong đầu được tỏ lộ rõ ràng qua cuộc phỏng vấn của tổng biên tập tờ báo dòng Tên La Civiltà Cattolica, mà không ai tranh cãi về tính chính xác của nó. Trong một số khía cạnh, phán quyết và ý định của ngài xem ra còn quyết liệt hơn nữa. Giáo hoàng Phanxicô còn muốn tránh sử dụng từ “giáo triều”, để tránh đề cao quá đáng cơ cấu này. Ngài nói như đinh đóng cột : “Các cơ quan tại tòa thánh là nhằm phục vụ giáo hoàng và các giám mục, các cơ quan đó cũng phải giúp đỡ các Giáo hội địa phương cũng như các Hội đồng Giám mục.” Ngài nhấn mạnh rằng nếu “các cơ cấu có chức năng giúp đỡ này mà bị hiểu sai, thì sẽ có nguy cơ trở thành những cơ quan kiểm soát”. Để nói rõ hơn, giáo hoàng Phanxicô xác định: “Các cơ quan tại tòa thánh có vai trò giúp đỡ hai bên chứ không phải là trung gian chuyển tiếp hay là những người điều hành”. Từ công đồng Triđentinô, chưa có giáo hoàng nào đụng đến quyền lực của giáo triều Roma một cách quyết liệt như thế.
Cuộc giải phẫu này không thể thực hiện trong thời gian vài tháng. Hồng y Maradiaga, chủ tịch ban Tư vấn, nói trước rằng việc soạn lại quy chế giáo triều “phải mất nhiều thời gian2” và đòi hỏi phải tham khảo nhiều, đặc biệt với những người đang làm việc trong các văn phòng thuộc giáo triều. Như người ta thấy những điều đáng tiếc nơi trường hợp ông Gorbatchev, không có cuộc đổi mới Perestroika nào có thể chống lại những cấu trúc bảo vệ cho tổ chức trong đó nó đã lớn lên.
Tại nhà thờ chính tòa Salerne, trong chiếc quan tài bằng kính, người ta có thể thấy hài cốt đức cố giáo hoàng Grégoire VII, qua đời cách đây gần một ngàn năm. Hài cốt được bọc trong áo choàng màu tím có chỉ vàng. Đôi giầy cũng màu tím. Dưới triều đại của ngài, đã ban hành văn kiện Dictatus Papae, có nghĩa là lời công bố của giáo hoàng là tuyệt đối. Trong đó viết: “Chỉ có giáo hoàng Roma mới đúng danh nghĩa là giáo hoàng trên toàn thế giới. [...], chỉ có ngài mới có quyền dùng những huy hiệu của vua chúa. [...] Danh hiệu ngài là duy nhất trên toàn thế giới. [...] Không ai được quyền sửa đổi án lệnh của ngài, nhưng chỉ có ngài là có quyền sửa đổi án lệnh của tất cả mọi người.” Có một mối liên hệ trực tiếp giữa ý kiến độc đoán này với thông điệp Pastor Aeternus ban hành năm 1870, trong đó giáo hoàng Piô IX đã muốn qui định thành tín điều nguyên tắc khi giáo hoàng phát biểu ex cathedra những vấn đề về đức tin và phong hoá, thì ngài có ơn không sai lầm và “do đó, những phán quyết của giáo hoàng Roma không thể bị thay đổi, trừ phi do chính nó, chứ không phải do sự đồng ý của Giáo hội”. Ai dám nói ngược lại sẽ bị vạ tuyệt thông.
Từ đó tính bất khả ngộ này đã tỏ ra rắc rối đến nỗi, ngoại trừ tín điều Đức Mẹ lên trời cả “hồn và xác”, được giáo hoàng Piô XII công bố năm 1950, thì các giáo hoàng tránh sử dụng quyền này. Nguyên tắc “tông đoàn” được công đồng Vatican II quy định, rõ ràng là để quân bình hóa quyền bính của giáo hoàng.
Ý tưởng về một phẩm trật toàn năng, không bao giờ sai lầm, là hoàn toàn bắt nguồn từ cách Giáo hội Công giáo quan niệm về chính mình. Trong việc hành sử quyền bính, đức Piô XII thích nói: “Tôi không muốn những người cộng tác, tôi chỉ muốn những người thi hành.” Hồng y Giuseppe Siri nói rằng: “Người kế vị tôi chẳng phải làm gì nữa, vì tôi đã sắp xếp hết rồi. […] Giáo phận Genoa có thể tự mình tiếp tục sinh hoạt.”
Trong lịch sử Giáo hội, 50 hay 100 năm cũng chỉ là nháy mắt. Ngôn từ thay đổi, nhưng cái quan niệm phẩm trật như kim tự tháp vẫn tiếp tục ngự trị trên cơ cấu Giáo hội. Cuộc cách mạng của giáo hoàng Phanxicô dự trù trả lại sức sống cho Thượng hội đồng Giám mục, một cơ quan đại diện đã được giáo hoàng Phaolô VI thiết lập với vai trò cố vấn, nhằm tiếp nối kinh nghiệm của công đồng. Trong suốt nửa thế kỷ tồn tại, cuối cùng Thượng hội đồng giám mục trở thành một cuộc họp lớn, thông thường được triệu tập ba năm một lần tại Vatican để bàn về những đề tài chung. Mỗi giám mục chỉ được phát biểu trong vài phút. Sau đó, các nhóm theo ngôn ngữ sẽ soạn thảo những đề nghị chung kết, cho tới nay những đề nghị đó chỉ là những chữ chết.
Giáo hoàng Phanxicô quyết định thay đổi tận gốc cách thức làm việc của Thượng hội đồng giám mục để trả lại cho nó đúng vai trò cố vấn. Trong cuộc họp tháng 10/2014, ngài muốn phải chuẩn bị chương trình rõ ràng để giúp cho các đại diện của các HĐGM đến từ các lục địa khác nhau, có cơ hội trình bày rõ ràng về những chủ đề cụ thể. Giáo hoàng Phanxicô rất tin tưởng vào việc cộng tác này. Khi nguy cơ xảy ra một cuộc tấn công từ phương Tây vào Syrie, giáo hoàng đã hỏi ý kiến nhiều vị trong giáo triều trước khi công khai phản đối chiến tranh. Giáo hoàng đã nói với bà Maria Voce thành viên phong trào Focolare: “Thiên Chúa không nói với một người mà thôi, Ngài nói khi người ta ngồi lại với nhau”. Ở giáo triều, không phải mọi người đồng ý như thế, một số người còn nại tới quyền trực tiếp quyết định. Giáo hoàng Phanxicô lặp lại: “Tôi nghe có vài người nói với tôi rằng ‘đứng hỏi ý kiến nhiều quá, ngài cứ quyết định đi.’ Nhưng tôi tin rằng việc hỏi ý kiến là quan trọng hàng đầu.”
Thế nhưng vị giáo hoàng người Achentina không quan niệm vai trò của mình là primus inter pares, người đứng đầu trong số những người bằng nhau, một kiểu chủ tịch đa quốc gia. Đó là điều mà ngài đã giải thích cho các ký giả trong chuyến trở về từ Braxin. Kiểu điều hành của ngài có vẻ tương tự như kiểu tổ chức của dòng Tên, theo đó, vị bề trên Tổng quyền điều hành với sự trợ giúp của 10 vị phụ tá do Tổng tu nghị chỉ định. Tuy nhiên, quyết định cuối cùng vẫn là thuộc bề trên tổng quyền.
Hồng y Parolin giải thích ý tưởng cộng tác của giáo hoàng Phanxicô như sau: “Người ta luôn nói rằng Giáo hội không theo thể chế dân chủ, nhưng thời gian này trong Giáo hội có một tinh thần dân chủ hơn theo nghĩa là có sự lắng nghe. […] Cách điều hành theo tính “tông đoàn” trong Giáo hội có nghĩa là người ta có thể trình bày mọi ý kiến. Sau đó, chính giáo hoàng sẽ đưa ra quyết định.”
Giáo hoàng Phanxicô rất kiên định, một hồng y quen biết ngài đã khẳng định như thế. Ngài tiến hành với một sự quyết tâm. Trong năm đầu tiên, ngài biết cách kiềm chế trong việc đổi mới những trách vụ tại giáo triều, những gì phải cải tổ tạm thời và những gì tạm gác qua một bên. Có nhiều vị đứng đầu đã được thay thế. Tháng 09/2013, ngài giải nhiệm Bộ trưởng Thánh bộ Giáo sỹ, hồng y Mauro Piacenza, mũi nhọn của phe bảo thủ tại giáo triều, người mà vẫn được cho là sẽ trở thành Quốc vụ khanh Tòa thánh nếu hồng y người Braxin Scherer được bầu làm giáo hoàng. Tại Vatican, ai muốn nhìn lên cao thì cuối cùng sẽ phải trả giá.
Hồng y Piacenza, 69 tuổi, - độ tuổi khá cao so với giáo triều – được chuyển sang làm Chủ tịch Tòa ân giải Tối cao, một văn phòng phụ trách về các ân xá, tha thứ và miễn chuẩn. Hồng y Bertone mất chức Quốc vụ khanh vào tháng Mười, đến tháng Giêng mất luôn vai trò trong Uỷ ban kiểm soát Giáo vụ viện IOR, vai trò tích cực cuối cùng của ngài tại Giáo triều. Cùng với ngài, hai hồng y khác cũng được giải nhiệm, đó là hồng y Domenico Calcagno, chủ tịch APSA (ngân hàng trung ương Vatican), và hồng y Scherer ứng viên giáo hoàng người Braxin nhưng không được bầu vì quá thân với hồng y Bertone.
Ngược lại hai ứng viên giáo hoàng khác được cất nhắc. Hồng y Ouellet người Canada được tái bổ nhiệm làm Bộ trưởng Thánh bộ các Giám mục, hồng y Erdó người Hungari được bổ nhiệm làm Báo cáo viên tại Thượng HĐGM mùa Thu 2014.
Giáo hoàng Phanxicô từng bước tháo gỡ hệ thống quyền lực của Bertone trong các ngành kinh tế trọng điểm. Một vị khác thân cận với hồng y Bertone, giám mục Giuseppe Sciacca, cũng bị cách chức khỏi vị trí tổng thư ký Phủ thống đốc Vatican. Năm sau đó, hồng y Antonio Canizares, rất gần với chủ trương thần học của Ratzinger, kết thúc nhiệm kỳ Bộ trưởng Thánh bộ Phụng tự, cũng được cho nghỉ việc. Hồng y Canizares đã từng là chủ tịch HĐGM Tây Ban Nha, nay không được bổ nhiệm làm giám mục giáo phận Madrid mà là giáo phận Valencia, một giáo phận ít quan trọng hơn.
Cuối cùng, vị đứng đầu văn phòng phụ trách các nghi lễ giáo hoàng, đức ông Franco Camaldo người từng tháp tùng giáo hoàng Phanxicô tại ban công Vương cung Thánh đường buổi tối 13/03/2013, cũng rút lui âm thầm. Các trang mạng coi đây là một vị trí béo bở cho ông. Người ta gán cho ông những mối liên hệ với những người sắp xếp lobby theo nhóm Diego Anemone và Angelo Balducci, người trước đây được “giáo hoàng trọng dụng”. Giáo hoàng Phanxicô không sử dụng nữa và bổ nhiệm ngài làm kinh sỹ Vương cung Thánh đường Vatican.
Giáo hoàng Phanxicô hiền lành, nhưng ngài không nói đùa đâu.