Cái chết trước đền thánh Vatican
Hằng tuần giáo hoàng Phanxicô đều nhận một bản tường trình về Achentina do viện nghiên cứu Poliarquía gởi tới. Tháng 12/2013, ngài theo dõi rất kỹ làn sóng cướp bóc từng làm rung chuyển đất nước này tiếp theo cuộc đình công của cảnh sát. Cảnh sát đòi tăng lương. Ngay khi các trụ sở Cảnh sát vừa đóng cửa, là cả một cảnh hỗn độn khắp nơi. Người ta bắt đầu tấn công vào các siêu thị, cửa hàng, nhà riêng.
Tại tỉnh Córdoba (1,2 triệu dân), bạo lực bùng nổ vào ngày 3/12. Sau 24 tiếng đồng hồ, đã có một người chết và 130 người bị thương. Trong vòng hai ngày, các cuộc tấn công bạo lực lan ra các tỉnh khác của Achentina: El Chaco, Tucumán, Jujuy, Entre Ríos, Santa fe. Một tình trạng vô chính phủ điên cuồng của những người đói khát lương thực và tài sản, được tăng cường bởi những băng đảng có tổ chức, họ chạy xe môtô hàng đoàn và tấn công các siêu thị. Người ta nghi có sự xâm nhập của mafia trong đám đông đó, hơn nữa các cuộc tấn công còn được sự hỗ trợ của một số cảnh sát nghĩ rằng nhà nước lo sợ mất an ninh mà buộc phải tăng lương cho họ.
Ngày 12/12 sau những tàn phá ghê gớm và những cơn giận giữ phá hoại đã có 12 người chết. Những nhóm người thiếu kiềm chế tràn ngập các siêu thị, mang ra những giỏ hàng đầy ắp, họ dùng gậy sắt tấn công các cửa hàng nhỏ, ăn cắp máy móc điện tử, dụng cụ thể thao, đủ mọi thứ hàng hóa. Những cuộc tấn công do cá nhân ngẫu hứng, giữa nhà nầy nhà kia, những cuộc đọ súng giữa kẻ cắp với chủ nhà, những tên trộm chạy trốn bị bắn chết. Cũng có những nhóm thương gia được võ trang. Bà Claudia kể cho phóng viên tờ La Nación rằng bà trải qua nhiều đêm cùng với chồng và nhân viên tiệm tạp hóa trong khu San Miguel de Tucumán, với súng ống và đủ loại bom xăng thô sơ. Trước đây 12 năm bà cũng đã từng bị mất tất cả, trong một làn sóng cướp bóc. Một trong rất nhiều vụ cướp bóc như thế. Sự điên loạn và thất vọng giữa một đất nước phát triển. Cho tới khi việc tăng lương được chấp thuận.
Phải chăng đó là một sự kiện riêng lẻ? Có lẽ báo chí Âu châu, ngoài trừ truyền thông Tây Ban Nha, chẳng chút quan tâm tới những sự kiện như thế. Hay nó phản chiếu những gì có thể xảy ra nơi khác nếu khế ước xã hội bị phá vỡ? Đó chính là điều mà đạo diễn John Carpenter đặt ra trong cuốn phim khoa học giả tưởng New York 1997, phát hành đầu những năm 1980: một đô thị của Mỹ rơi vào tay những băng đảng gây tội ác, trong một cuộc đấu tranh không thương tiếc của tất cả mọi người chống lại tất cả mọi người.
Các nhà xã hội học Achentina đã đặt tên cho tình trạng đe dọa các quốc gia có nguy cơ rơi vào tình cảnh trong đó những mối liên hệ xã hội, cơ chế và ngay cả liên hệ gia đình bị tan rã. Họ gọi là “vô kỷ luật”, tình trạng không có luật lệ, coi thường các nguyên tắc. Ở đâu ngự trị lý của kẻ mạnh, ở đó con người chỉ sống cho chính mình.
Giáo hoàng Phanxicô hết sức nhạy cảm với vấn nạn xã hội. Không có tuần nào mà ngài không nói tới sự bất công, đói kém, nghèo khổ, tình trạng bất bình đẳng xã hội rõ ràng, những thứ đó sẽ đẻ ra bạo lực. Thật vô ích nếu kêu gào sự an toàn mà lại trao phó nó cho công an hay cho sự khôn ngoan, ngài đã viết như thế trong tông huấn Niềm vui Tin Mừng. Cái “xấu đã kết tinh vào những cơ cấu bất công của xã hội” nó mang trong mình một tiềm năng bạo lực, chết chóc, và phá huỷ. “Bao lâu vẫn còn tình trạng con người bị loại trừ ra khỏi xã hội và tình trạng bất công xã hội, trong đời sống xã hội cũng như giữa các dân tộc, thì không thể diệt trừ bạo lực. Người ta cho rằng bạo lực phát xuất do người nghèo và những dân tộc bị thiệt thòi nhất, nhưng nếu không có công bằng trong các cơ hội, thì các hình thức tấn công khác nhau và chiến tranh vẫn còn tìm được mảnh đất phì nhiêu và sớm muộn gì cũng sẽ bùng nổ.” Tình trạng đó không phải chỉ “do tình trạng bất công xã hội khiến những người bị loại trừ ra khỏi hệ thống phản ứng lại bằng bạo lực, nhưng bởi vì hệ thống xã hội và kinh tế đã bất công từ gốc rễ của nó”.
Không ai được cho rằng mình miễn khỏi những ưu tư của người nghèo. Không ai được quên sự công bằng xã hội, giáo hoàng đã nói mạnh như thế trong văn kiện trên, một văn kiện được coi như bản tuyên ngôn cho triều đại giáo hoàng của ngài. “Không ai có quyền ép buộc chúng ta phải giới hạn tôn giáo vào lãnh vực riêng tư cá nhân, không có ảnh hưởng trên đời sống xã hội và quốc gia. […] mọi Kitô hữu, và cả các mục tử, đều được mời gọi quan tâm đến việc xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.” Bởi vì khắp nơi vang lên tiếng kêu của người nghèo, nhưng ít có ai lắng nghe họ. Vấn đề căn bản là hiện đang tồn tại một sự cách biệt không thể chấp nhận được giữa kinh tế và lợi ích chung.
Thành phố Roma đầy khách du lịch, nhưng bên cạnh đó cũng có những người nghèo, những người khốn khổ và thất nghiệp, giáo hoàng nhắc điều đó trong thánh lễ trọng thể tại Vatican ngày 31/12/2013. “Roma năm mới này sẽ tốt đẹp hơn nếu người ta không chỉ đứng nhìn nó “từ xa”, như xem hình ảnh trên những tấm thiệp, không chỉ đứng nhìn đời sống của nó chỉ từ ban công “nhà mình”.
Giáo hoàng rất rõ ràng. Người ta không thể giải quyết vấn đề nghèo khổ mà không chịu từ bỏ giáo điều về “quyền tự do tuyệt đối trong thị trường cũng như trong lãnh vực đầu cơ tài chánh”. Trong tông huấn Niềm vui Tin Mừng, ngài đã mạnh mẽ lên án chủ nghĩa lạc quan mang tính ý thức hệ của thuyết tân tự do man rợ, mà đức Gioan Phaolô II cũng đã từng chỉ trích. Giáo hoàng Phanxicô nói rất rõ: “Chúng ta không thể tiếp tục tin tưởng vào những thế lực mù quáng và vào bàn tay vô hình của thị trường.” Việc giải quyết một cách có bài bản vấn nạn về sự bất bình đẳng bất công “đòi hỏi phải có những quyết định, những chương trình, những cơ cấu” rõ ràng nhằm hội nhập người nghèo vào trong xã hội, chứ không phải chỉ là những sự trợ giúp.
Rush Limbaugh, bình luận viên đài phát thanh Hoa Kỳ rất thành công, một người theo chủ nghĩa tân bảo thủ, đã tố cáo giáo hoàng là đưa ra một diễn văn “hoàn toàn mácxít”. Thật là đáng buồn và không thể tin được, ông giận giữ. “Giáo hoàng không biết mình nói gì trong lãnh vực tư bản và xã hội. […] tôi đã nhiều lần đến Vatican: Vatican không thể tồn tại mà không có hàng tấn tiền bạc. Ngoài ra, chắc có một ai đó đã viết cho ngài bài diễn văn này? […] Phải chăng chủ nghĩa tư bản là không có giới hạn? […] Đó là một kiểu nói của xã hội chủ nghĩa nói về nước Mỹ.” Trên Fox News, một kênh truyền hình cánh hữu của Mỹ và chống chính quyền, người ta đã trình bày giáo hoàng như Obama của Công giáo. Jonathon Moseley là đại diện cho phong trào Tea Party, phong trào này, từ tháng 9/2013 đã cản trở Quốc hội châu phê ngân sách của chính quyền, nhưng ông còn đi xa hơn nữa. Trong tờ World Net Daily, ông nói rằng “Đức Giêsu đang khóc trên thiên đàng vì những điều giáo hoàng nói. […] Đức Giêsu chỉ nói với từng con người, chứ không bao giờ nói với chính quyền hay với chính sách của chính quyền. Ngài là một người theo chủ nghĩa tư bản, chứ không theo chủ nghĩa xã hội, ngài giảng vì trách nhiệm của cá nhân”.
Trong Tông huấn trên, giáo hoàng không bao giờ sử dụng từ “tư bản chủ nghĩa” hay “xã hội chủ nghĩa”. Về phương diện này, đức Gioan Phaolô II đã có kiểu nói mạnh hơn nhiều. Sau biến cố bức tường Bá Linh sụp đổ, ngài đã tấn công rất mạnh vào chủ nghĩa tư bản man rợ và “ý thức hệ tư bản cực đoan”, như ngài xác định vào năm 1996 trong chuyến viếng thăm Paderborn, nước Đức. Trong thông điệp Bách Chu Niên ban hành năm 1991, Đức Wojtyla đã chỉ trích những ai cho rằng những vấn nạn về công bằng xã hội có thể được giải quyết bằng cách tin vào “[…] sự phát triển tự do của các sức mạnh thị trường”. Ngài phân biệt rõ ràng giữa hiện tượng tích cực của “nền kinh tế tự do” và thực tại tiêu cực của một “chủ nghĩa tư bản”, hiểu như là “một hệ thống trong đó sự tự do trong lãnh vực kinh tế không bị điều khiển bởi một khung pháp luật chắc chắn nhằm đưa nó vào việc phục vụ tự do của con người toàn diện […], mà trục chính của khung này là thuộc về đạo đức và tôn giáo”.
Những can thiệp của giáo hoàng Phanxicô là nằm trong khung cảnh học thuyết vững chắc của Giáo hội về vấn đề xã hội, học thuyết này từ một thế kỷ qua, vẫn càng ngày càng cho thấy tính sắc bén của nó. Từ thông điệp Tân Sự, thông điệp đầu tiên về vấn đề xã hội, do giáo hoàng Leô XIII ban hành năm 1891, cho tới thông điệp Phát Triển Các Dân Tộc của giáo hoàng Phaolô VI, đều tố cáo “sự bất công kêu lên tận trời” của những tình trạng trong đó “toàn thể một dân tộc thiếu những điều cần thiết, đang sống trong sự lệ thuộc, do đó họ không được quyền có những sáng kiến và trách nhiệm, cũng không có khả năng phát triển văn hóa và tham gia vào các sinh hoạt xã hội và chính trị”.
Trong thông điệp Caritas in veritate, đức Bênêđictô XVI cũng đã nhấn mạnh đến những bổn phận đạo đức của thế giới kinh tế và tài chánh, trong những lãnh vực bị ngài tố cáo, có việc “nhân quyền của những người thợ” càng ngày càng bị xúc phạm trong cả thế giới thứ nhất và thế giới thứ ba. Vị giáo hoàng người Đức đã đề nghị thành lập một “quyền bính chính trị toàn cầu” nhằm bảo đảm một trật tự có tính quốc tế, luật pháp và kinh tế, hướng tới việc phát triển tương trợ các dân tộc.
So sánh với các giáo hoàng trước, qua các văn kiện và các diễn văn của các ngài, người ta nhận thấy giáo hoàng Phanxicô có một điểm đặc biệt: dấu ấn của kinh nghiệm cá nhân. Giáo hoàng Bergoglio đã từng sống trong những nơi các khu ổ chuột sát bên cạnh nhà cao tầng. Ngài đã hít thở mùi khốn khổ do chủ nghĩa cá nhân hung dữ của những giai cấp thống trị. Kinh nghiệm sẽ làm cho người ta có nét khác biệt. Đức Karol Wojtyla đã nếm mùi chiến tranh; tiếng xe tăng gầm rú xâm chiếm thành phố, sự hung dữ của kẻ chiếm đóng, các sinh hoạt văn hóa được coi như hình thức phản kháng tinh thần, sự sợ hãi trước các cuộc bố ráp và bắt trục xuất, sự tiếp nối của hai chế độ độc tài. Đức Joseph Ratzinger thì khác, ngài đã trải qua phần lớn thời chiến tranh trong ngôi làng Bayern và chỉ chứng kiến sự xung đột trong vài tháng, khi chiến tranh kết thúc. Kinh nghiệm trực tiếp giải thích lý do tại sao giáo hoàng Gioan Phaolô II quyết định tích cực chống lại cuộc xâm lăng Irak, qua tiếng kêu thảm thiết ngày 16/03/2003, từ cửa sổ phòng làm việc của ngài: “Đừng bao giờ có chiến tranh nữa!” Chứng Parkinson khiến khuôn mặt ngài sưng phù và cử chỉ khó khăn.
Đức Phanxicô cũng thế. Khi nói về nghèo khổ và bóc lột, thì không phải ngài đã đọc được những điều đó trong các hồ sơ. Ngài từng đi dọc theo những con đường khu ổ chuột, ngài đã phát biểu tại quảng trường Hiến Pháp của Buenos Aires để tố cáo tình trạng nô lệ trong các nhà máy bí mật, tình trạng xâm hại trẻ vị thành niên, bắt cóc phụ nữ ép bán dâm do những nhóm mafia, trong sự im lặng đồng loã của một số tổ chức địa phương. Đói nghèo, bạo lực, hung hãn, giận giữ liên tục, nhân phẩm bị coi thường, cuộc sống bất an, những người bị suy nhược do ma tuý hay chết trên hè phố… tất cả những hình ảnh đó, đức Bergoglio đã chứng kiến tận mắt, năm này qua năm khác, khi ngài đi bộ hoặc bằng các phương tiện di chuyển công cộng trong thủ đô Achentina.
Đó là lý do tại sao ngài lớn tiếng khi nói về các di dân chết trên biển, hoặc phải vượt biển sang Ý trên những chiếc thuyền của bọn buôn bán thân xác con người. “Có ai khóc cho cái chết của những người anh chị em này không? Có ai khóc cho những con người trên những chiếc thuyền này không? Khóc cho những bà mẹ trẻ ra đi ôm theo những đứa con của mình? Cho những người đàn ông mong muốn có cái gì đó nuôi sống gia đình riêng của mình? Chúng ta là một xã hội vốn quên đi những kinh nghiệm về nước mắt, kinh nghiệm về việc ‘cùng đau khổ với người khác’1.”
Một cách mầu nhiệm, Giáo hội Công giáo thường bầu một giáo hoàng phù hợp với những đổi thay của thời đại. Đức Gioan XXIII vào thời điểm đỉnh cao của sự tan băng giữa khối Tây phương và khối Sô viết, đức Phaolô VI với thời điểm của phong trào toàn thế giới đang phi thực dân hóa. Đức Gioan Phaolô II ghi điểm kết thúc của bức màn sắt. Đức Phanxicô làm giáo hoàng vào giữa cuộc khủng hoảng toàn cầu. Các quốc gia thuộc thế giới thứ ba không phải là những nước duy nhất phải chịu những tình trạng trầm trọng vì mất quân bình kinh tế, đói nghèo, loại trừ, tham nhũng, bạo lực, sự cách biệt không thể chấp nhận giữa những người giàu có nhất và những người chết đói.
Cuộc khủng hoảng bắt đầu vào năm 2008 với sự sụp đổ tài chánh toàn cầu, đã đụng chạm đến các quốc gia phát triển, những nước tưởng rằng mình được an toàn, cuộc khủng hoảng đã bào mòn tầng lớp trung lưu vốn là giai cấp chính yếu ở đó. Trong nhiều quốc gia, bắt đầu từ Hoa Kỳ, chiếc thang máy đưa xã hội đi lên nay đã bị hỏng. Liên minh châu Âu trải qua cơn khủng hoảng trầm trọng và Thủ tướng Đức, bà Angela Merkel lo sợ một sự sụp đổ trong đó chúng ta có thể trượt dốc như những “người mộng du”, do coi thường và vô ý thức như trường hợp năm 1914, khi những quốc gia châu Âu bị ném vào cuộc thảm hoạ trận Thế chiến thứ nhất. Hy Lạp sắp phá sản, Tây Ban Nha đang gượng dậy. Tại Ý, dân số sáu mươi triệu, thì gần chín triệu rưỡi người sống dưới ngưỡng nghèo, trong số đó gần năm triệu sống trong tình trạng hết sức khó khăn1.
Tại Hoa Kỳ, xuất hiện tình trạng phân hóa xã hội trầm trọng. Đầu thập kỷ này, hồ sơ của Cục điều tra dân số ghi nhận hơn 46 triệu người sống dưới ngưỡng nghèo, nghĩa là có thu nhập dưới 22.314 đô la một năm cho một gia đình bốn người. Gần 50% được coi như “rất nghèo”, vì họ thu nhập ít hơn một nửa của mức nghèo, và thậm chí không được 11.000 đô la một năm cho chi phí bốn người2.
Sự tăng trưởng mạnh tổng sản phẩm nội địa của Hoa Kỳ giữa những năm 2000 đến 2007 đã không giúp tăng thu nhập trung bình của các gia đình ở Mỹ nhưng chỉ đem lại phúc lợi cho 1% dân số. Năm 2012, thu nhập trung bình của các gia đình tuột xuống mức của năm 1995. Chính Barak Obama đã tuyên bố báo động vì tình trạng một nửa lợi tức quốc gia rơi vào tay của 10% dân số ở Hoa Kỳ.
Ngay tại một ông lớn về kinh tế như Trung Hoa, nơi ba mươi năm qua đã giúp hàng trăm triệu người thoát khỏi cảnh cực nghèo, thì khoảng cách giữa giàu nghèo không ngừng tăng thêm. Tại Ấn Độ, nơi số tỷ phú đã tăng lên gấp mười lần trong thập niên vừa qua nhờ vào mức thuế thuận lợi, nhưng đất nước này vẫn xếp hàng cuối trên bảng xếp hạng thế giới trong lãnh vực tiếp cận chế độ dinh dưỡng lành mạnh. Kinh tế gia Stefano Zamagni giải thích rằng “tình trạng toàn cầu hóa đã chắc chắn giúp giảm bớt hoàn cảnh cực nghèo, những người thu nhập dưới hai đô la một ngày, nhưng lại làm gia tăng một cách đáng lo lắng con số những người nghèo, tức là những người có thu nhập ít hơn một nửa thu nhập trung bình trong nước”. Một con số rất ý nghĩa: giữa những năm từ 1980 đến 2007, “trong nhiều quốc gia trên thế giới, phần lợi tức từ lao động trong tổng sản lượng quốc gia đã giảm xuống hơn 9 điểm trung bình, và việc tập trung của cải đã đạt tới những đỉnh mới1”. Theo báo cáo của Oxfam tháng Giêng 2014 (working for the few), thu nhập của 85 người siêu giàu tương đương với thu nhập của một nửa dân số thế giới.
Một vết thương khác cũng đang xói mòn mối kết nối xã hội, đó là tính bấp bênh đang lan rộng trong các nước công nghiệp phát triển. Ngay cả trong các quốc gia thịnh vượng, vững chắc như nước Đức, đầu tàu của châu Âu, vẫn có hàng triệu người có mức lương dưới trung bình, điều đó làm phát sinh “thế hệ 500 euro” mỗi tháng. Năm 2012, một bản điều tra của tạp chí Der Spiegel đã cho thấy việc giảm bớt thất nghiệp lại kéo theo việc tăng gia một cách bất bình thường số người không an toàn do thu nhập thấp, những người không biết tuần sau họ sẽ thoát khỏi hoàn cảnh đó như thế nào. Tài liệu trên giải thích rằng 1,4 tỉ người có thu nhập dưới 5 euro một giờ, nếu tính thêm nữa thì 8 triệu người thu nhập dưới 9,15 euro một giờ: một sự khác biệt rõ ràng so với những người lãnh lương cố định với cùng một công việc. Chính vì thế mà tháng 12/2013 liên minh giữa hai đảng Dân chủ Kitô giáo và Dân chủ Xã hội đang nắm chính quyền tại Đức đã dự trù tăng mức lương tối thiểu lên đến 8,5 euro một giờ vào năm 2015.
Khi giáo hoàng Phanxicô nói đến tình trạng bất bình đẳng không thể chấp nhận được, ngài không chỉ nói một cách trừu tượng, nhưng là nói tiếng nói của hàng triệu gia đình. Ngài đi vào trong nhà người dân với cung cách gần gũi như khi ngài chúc họ “ngày Chúa nhật tốt lành”. Sử gia Eric Hobsbawm người Anh, cho rằng với lời kết án dành cho chủ nghĩa tự do man rợ, người ta có thể coi giáo hoàng Gioan Phaolô II như người cuối cùng của thế kỷ XX theo Chủ nghĩa Xã hội. Tờ Neues Deutschland, trước đây là cơ quan ngôn luận của đảng CS Đông Đức, đã đăng một bức hoạ nhỏ có hình giáo hoàng Phanxicô bên cạnh hình Karl Marx và Engels.
Trong thực tế, quan điểm của giáo hoàng không có gì là ý thức hệ cả. Bergoglio luôn chống lại thứ thần học giải phóng theo Macxít. Cái nhìn của ngài thực sự tập trung vào tình trạng phân cách giữa thành phần thiểu số giàu có với thành phần đa số càng ngày càng ở xa phúc lợi xã hội. Ngài giải thích một cách đơn giản và thực tế về những thiếu sót trong lý thuyết nổi tiếng về tự do, theo thuyết này, nếu người ta cứ để mặc cho các thế lực kinh tế tự do hoạt động, không cần sự can thiệp của nhà nước, thì cuối cùng sẽ đi đến hình thức thị trường bảo đảm cho cuộc sống của giai cấp thấp trong dân chúng: “Người ta hứa hẹn rằng khi chiếc ly được đổ đầy, thì nó sẽ tràn phúc lợi xuống cho người nghèo. Thực tế, khi chiếc ly đầy, nó sẽ phình ra một cách ma quái, và không bao giờ tràn ra chút gì cho người nghèo.”
Tôi không thể coi lập trường của Bergoglio như một nhà Macxít được (thực sự thì lập trường chính trị trước đây của ngài gần với phong trào xã hội Péronisme hơn). Ngài chống ý thức hệ Macxít, nhưng không che đậy việc đã thường xuyên tiếp xúc với nhiều nhà Mácxít mà ngài cho là những “người tốt”, bắt đầu là người phụ nữ đứng đầu phòng thí nghiệm hóa học nơi thời trẻ ngài đã làm việc: bà Esther Ballestrino, bà đã bị bắt cóc và ám sát năm 1977 sau khi cảnh sát mật vụ của chế độ độc tài bắt cóc con gái và hai con rể của bà. Đối với giáo hoàng Phanxicô, mệnh lệnh là thuộc về tôn giáo. Có một mối liên hệ không thể phân ly giữa Tin Mừng của Kitô giáo và tình huynh đệ cụ thể. Đức Giêsu đã luôn kêu gọi phải có sự công bình và lòng thương xót đối với người nghèo. Tại sao lại che đậy điều vốn rất sáng tỏ như thế? Một cộng đoàn tôn giáo mà chủ trương sống bình lặng, không quan tâm một cách thực sự tới việc hội nhập người nghèo, thì rốt cục sẽ bỉ hủ hóa trong một thứ “trần thế linh thiêng, được che đậy dưới những hình thức sinh hoạt tôn giáo, với những cuộc họp vô bổ và những bài diễn văn trống rỗng”.
Mùa Chay 2014, giáo hoàng Phanxicô chuẩn bị một sứ điệp trong đó ngài làm sáng tỏ mối liên hệ chặt chẽ giữa sự nghèo khổ tinh thần và sự nghèo khổ về thể lý, tình trạng đang đụng chạm tới “những ai bị tước đoạt những quyền căn bản và những phúc lợi cần thiết nhất như lương thực, nguồn nước và những điều kiện vệ sinh, việc làm, khả năng tự phát triển chính mình và được thăng tiến về mặt văn hoá”. Sự nghèo khổ không chỉ ở tình trạng kinh tế thiếu thốn, ngài giải thích. Đó còn là “nghèo khổ vì không có niềm tin, không có tình liên đới, không có hy vọng”. Sự nghèo khổ tinh thần do tình trạng trên sẽ là “khởi đầu cho việc con người tự sát”.
Những lời thật mạnh mẽ, tiếp theo, ngài còn kêu gọi rằng mùa Chay thúc đẩy các lương tâm phải hoán cải trở về với công lý, bình đẳng, điều độ, và chia sẻ. Biết rằng giúp đỡ người khác đòi hỏi phải chịu trả giá, giáo hoàng nghiêm khắc: “Tôi cảnh giác những sự bố thí mà chẳng phải trả giá chút nào cả, chẳng gây cho người ta chút khó khăn nào cả1”. Ngài không ngừng lập đi lặp lại: những ngẫu thần quyền lực, xa xỉ, tiền bạc, luôn đi ngược lại với sự phân phối của cải cách bình đẳng. Giáo hoàng xác tín rằng vấn nạn về việc hội nhập người nghèo vào xã hội là đề tài chủ chốt của thế kỷ XXI. Đằng sau những thành công do việc phát triển một cách ngoạn mục trong lãnh vực khoa học và kỹ thuật, vẫn còn thứ kinh tế loại trừ. “Chính kinh tế này đang giết chết chúng ta2.”
Giáo hoàng Phanxicô không thích nói những điều trừu tượng. Hằng tuần, ngài trình bày bằng thứ ngôn ngữ thường nhật. Nếu một chiếc máy vi tính bị vỡ, đó sẽ là một thảm kịch, ngài nói như thế trong một buổi yết kiến chung tại quảng trường thánh Phêrô. “Nếu một đêm mùa Đông, ở sát đây, trên đường Ottaviano chẳng hạn, có một người nằm chết, thì đó chẳng phải là một tin tức quan trọng. Nếu ở rất nhiều nơi trên thế giới, có những đứa trẻ không có gì ăn, […] điều đó có vẻ là chuyện bình thường.
[…] Cứ như thế, con người bị coi như phế liệu, như rác thải1.” Rồi giáo hoàng cũng viết trên Twitter: “Chúng ta không thể ngủ yên trong khi có những đứa trẻ chết đói và những người già không được trợ giúp về y tế.” Tài khoản của ngài với 9 ngôn ngữ @ Pontifex đã vượt con số mười một triệu người thăm.
Ngày 12/12/2013, thực tế đã phản ánh đúng như tư tưởng cứng rắn của giáo hoàng. Một người vô gia cư 63 tuổi, bất tỉnh sát ngay quảng trường thánh Phêrô, gần bãi đậu xe Janicule. Ông chết sau khi được đưa vào bệnh viện. Báo chí tuyệt nhiên không đả động gì. Đức Phanxicô lặp đi lặp lại trong Tông huấn Niềm vui Tin Mừng: “Không thể có chuyện một người cao tuổi, cuộc đời chỉ là đường phố, chết trong lạnh lẽo mà lại không phải là một tin tức, trong khi việc thị trường chứng khoán hạ xuống hai điểm lại là một thông tin quan trọng.” Ban đêm có nhiều người nghèo khổ nằm dọc theo đại lộ Hòa Giải, giáo hoàng Phanxicô thường nhờ cha Konrad Krajewski, tuyên uý phủ giáo hoàng, đến giúp họ, việc này lặp lại một công việc có từ thời Trung Cổ. Ngài muốn đích thân đến gặp những người tứ cố vô thân như ngài đã từng làm khi còn ở Buenos Aires, những người bị gạt ra bên lề xã hội đang che tạm cho mình chỗ trú bằng những thùng giấy, nhưng mới đây, dịch vụ an ninh của Vatican đã ngăn cản ngài làm điều đó. Theo ý nguyện của giáo hoàng, tổng giám mục Krajewski đã cử hành lễ an táng cho người đàn ông vô gia cư đó trước sự hiện diện của hồng y Fernando Filoni.
Một cách biểu tượng, các hàng cột ở hành lang Bernin chung quanh quảng trường thánh Phêrô đã trở thành nơi trú ẩn cho những người thất vọng. Dường như sự gần gũi với giáo hoàng Achentina sẽ tăng thêm tiếng vang cho lời kêu gọi giúp đỡ. Vài ngày sau đó, một người bán hàng rong tự thiêu ngay lối vào quảng trường thánh Phêrô. “Tôi mệt mỏi vì không tìm được việc làm”, người ta tìm được trong túi áo của ông những lời đó, họ đưa ông vào bệnh viện, và ông đã qua đời.
Trong cuộc chiến chống lại “nền kinh tế phế liệu”, giáo hoàng Phanxicô rất bị cô lập trước những quyền lực kinh tế và chính trị. Tháng Giêng 2014, diễn đàn kinh tế ở Davos đã lịch sự mời ngài gởi một sứ điệp, bởi vì ý tưởng cho rằng có một sự mất quân bình quá đáng trong xã hội là mối nguy hiểm, đã có kết quả. Quỹ tiền tệ quốc tế cũng có ý tưởng như thế. Bà Christine Lagarde, tổng giám đốc tổ chức này, cho rằng con số người trẻ thất nghiệp tại một số nước châu Âu là “không thể chấp nhận” được, vì nó sẽ đưa đến nguy cơ của một “thế hệ bị hư hỏng”. Nhưng cách thay đổi như giáo hoàng đề nghị là điều mà các tổ chức kinh tế và tài chánh không chấp nhận.
Trong bối cảnh chính trị tại Ý, không một đảng nào đưa ra được chương trình hành động như giáo hoàng Achentina mong ước. Trong các nước Tây phương khác cũng vậy, ngay cả sự suy thoái tận gốc của giai cấp trung lưu đôi khi cũng làm người ta lo lắng.
Tuy nhiên, việc bầu đảng Dân chủ của Bill De Blasio làm thị trưởng New York là một dấu hiệu cho thấy, trên một số lãnh vực, giáo hoàng đã nắm bắt được cảm nghĩ sâu xa của công luận. Cho dù chỉ có 24% cử tri đi bầu, De Blasio đã thắng với một chương trình có tính huyết mạch trong nền văn hóa chính trị của Hoa Kỳ: đánh thuế những người có thu nhập trên 500.000 usd, để trả tiền cho những căn nhà xã hội, nhà trẻ, một mức lương tối thiểu cho người địa phương, những kỳ nghỉ bệnh có trả lương.
Tiếng kêu báo động từ tông huấn Niềm vui Tin Mừng thường được đón nhận với một thái độ thù địch. Trên trang kinh tế của tờ tuần báo nổi tiếng tại Đức Die Zeit, giáo hoàng Phanxicô đã trở thành đối tượng của một cuộc tấn công trực diện vì ngài đã tố cáo “bạo chúa vô hình” chuyên đầu cơ tài chánh và những ý thức hệ chủ trương quyền tự chủ vô hạn trong thị trường. Bình luận viên chỉ trích ngài là đã viết cuốn sách đó trễ một thế kỷ rưỡi; một cách nhạo báng, ông hỏi ngài rằng, nếu chế độ tư bản là nơi chứa chất đủ mọi thứ tệ hại, thì phải chăng giáo hoàng nghĩ rằng Cuba, Venezuela, Arập Saoudi hay chế độ tư bản-đạo tặc của Nga là tốt đẹp hơn.
Tại Anh, tờ Financial Times tố cáo giáo hoàng phạm những lỗi lầm về phân tích. Mặc dù khoảng cách giữa người giàu và người nghèo là lớn, mặc dù điều kiện sống của giai cấp trung lưu tại Tây phương là xấu đi, tờ nhật báo tiếng Anh thêm, nhưng phải nhìn nhận rằng tình trạng toàn cầu hóa và sự chuyển dịch sản xuất sang thế giới thứ ba đã giúp cho “hàng trăm triệu người tại Trung Hoa và Ấn Độ thoát cảnh nghèo” cũng như tại nhiều quốc gia khác nơi thiết lập các cơ sở sản xuất của Tây phương.
Khác với con sói thành phố Gubbio của thánh Phanxicô, các con sói của chủ nghĩa ích kỷ không có ý hôn bàn tay của Phanxicô người Achentina. Bergoglio không chùn bước. Đối với ngài, sự nghèo khổ, tình trạng bị loại trừ, chủ nghĩa nô lệ là những tội xã hội mà đối diện với nó, không thể nhắm mắt làm ngơ. Theo Liên Hiệp Quốc, hai chục triệu người nô lệ mới đang phải lao động cưỡng bách, hay lao động bất hợp pháp, và con số này mỗi năm một nhiều hơn. Giáo hoàng Phanxicô muốn rằng tình trạng đối xử này, vốn không được các chính quyền quan tâm, phải bị trừng trị như “một tội ác chống lại nhân loại”. Trong dịp tổng thống Obama viếng thăm Vatican, giáo hoàng đề nghị ông hãy có một cam kết cụ thể. Những người nô lệ mới vẫn có tại Ý, cho dù mọi người cố gắng để xoá khỏi ký ức chung về các nhà máy của người Hoa tại Prato, các xưởng dệt chui tại Bangalo, tình cảnh bóc lột thợ hái cà chua tại Rosarno.
Bergoglio nhấn mạnh để kêu gọi xã hội thời nay về những sự thật đang làm cho người ta bực mình khó chịu. Người ta không thể đóng khung sứ điệp của thánh Phanxicô hay của Mẹ Têrêxa trong khuôn viên nhà thờ. Một đức tin chân chính không bao giờ chấp nhận thoải mái hay theo chủ nghĩa cá nhân, giáo hoàng nhắc lại. Đức tin đòi hỏi người ta phải mong muốn thay đổi thế giới và “để lại một điều gì tốt hơn sau hành trình của chúng ta trên trần gian này”.