Cuộc chiến của các hồng y
Giáo hoàng Bergoglio cần một cuộc đối đầu công khai. Ngài cũng cần một nhóm cải tổ giúp cho tiếng nói của ngài được nhiều người biết đến. Chiến lược của vị giáo hoàng Achentina là muốn cho những thay đổi cần thiết không phải chỉ được chấp nhận trong sự cô độc của một mình ngài rồi được thông báo qua khung cửa sổ phòng giáo hoàng.
Ngài xác tín rằng những quyết định nền tảng trong chương trình của ngài phải được thực hiện trong khung cảnh có sự tham gia của tính tông đoàn trong Giáo hội. Điều đó có nghĩa là trước tiên phải đưa hàng giám mục trên toàn thế giới tham gia vào những quyết định quan trọng, trong khi vẫn thúc đẩy người tín hữu là dân của Chúa. Bởi vì, theo ngài, đôi khi đoàn chiên đi trước cả người chăn chiên. Đường hướng ngài phác thảo ra trong một năm, qua các bài nói chuyện của ngài, đòi hỏi phải thiết lập một lần nữa bầu khí công đồng trong Giáo hội.
Vatican II thực sự đã là một trường học về tính tự do của giới Công giáo: các giám mục có thể được nói một cách tự do, không phải chờ đợi những chỉ đạo từ cấp cao hơn. Đồng thời đó cũng là một trường học về sự tham gia: các giám mục học biết cách đối đầu nhau, nói ngược nhau, viết bài, bỏ phiếu, tu chính, tìm những người hợp tác để soạn một bản văn được đa số chấp thuận và đưa ra đường hướng cho Giáo hội trong xã hội mới. Những kết quả thu lượm được từ Công đồng là hoa trái của một sự đồng thuận sau khi đã tích cực tìm kiếm. Đối với hàng giáo phẩm, thì đó là một thời gian có những bước tiến vượt bực.
Trong những năm 1990, những người đã từng tham dự công đồng Vatican II mất dần, do đó, các cuộc tranh luận công khai trong nội bộ Giáo hội Công giáo cũng giảm bớt. Tại Công nghị 2005, chỉ còn hai hồng y đã từng là chứng nhân trực tiếp của biến cố công đồng: Joseph Ratzinger và hồng y người Mỹ William Wakefield Baum, hai vị này đã tham dự công đồng Vatican II với tư cách là chuyên viên.
Giai đoạn công đồng cũng là một thời điểm quan trọng để các thần học gia chín mùi hơn, họ là những người đồng hành với công đồng qua những nghiên cứu của họ, thời gian diễn ra công đồng cũng quan trọng để hàng ngũ giáo dân tham gia nhiều hơn vào những cuộc tranh luận về những đề tài lớn và trong việc thực thi những đường hướng rút ra từ các bản văn công đồng.
Bergoglio thuộc thế hệ giám mục hậu công đồng, đối với họ, Vatican II là một thực tế không cần tranh cãi, và câu hỏi được đặt ra – vốn rất quen thuộc với Ratzinger – kiểu như công đồng đưa đến những yếu tố đoạn tuyệt hay liên tục, thì đối với các ngài câu hỏi này không thích hợp mấy. Quan điểm của giáo hoàng về vấn đề này là rõ ràng: Vatican II đã đem lại “những hoa trái […] đáng kể […] và cách đọc Tin Mừng bằng cách hiện tại hóa Tin Mừng, là điểm riêng biệt của công đồng này, là điều tuyệt đối không thể đảo ngược”. Ngày 16/04/2013, sinh nhật giáo hoàng Bênêđictô XVI, trong thánh lễ tại nhà khách thánh Matta, giáo hoàng Phanxicô phát biểu: “[Công đồng] là một tuyệt tác của Chúa Thánh Thần. […] Đức Gioan XXIII […] đã nghe theo tiếng của Chúa Thánh Thần. Một số người muốn đi lùi lại. Họ là “những người có cái cổ cứng”, và cũng được gọi là những người muốn “điều khiển Chúa Thánh Thần”, hay là “những người có con tim chậm chạp và không thông minh”.”
Vào thời đức Bênêđictô XVI, người ta đề cao một lối tiếp cận hoàn toàn khác. Tháng 10/2012, khai mạc Năm Đức Tin và Thượng HĐGM về Tân phúc âm hoá, bài diễn văn của hồng y Donald Wuerl đã vẽ ra những hậu quả tiêu cực của công đồng, những “sai lệch trong phụng vụ” và việc loại bỏ những cách thức truyền thống trong việc truyền đạt đức tin. Vị hồng y người Mỹ giải thích bằng thứ ngôn ngữ khải huyền rằng dường như đã có “một trận sóng thần của các ảnh hưởng trần tục tàn phá cả một quang cảnh văn hoá, trên cuộc tàn phá đó, nó cuốn đi những dấu chỉ xã hội như hôn nhân, gia đình, quan niệm về ích chung, và sự phân biệt giữa thiện và ác”.
Vài ngày trước khi rời ngai giáo hoàng, phát biểu với hàng giáo sỹ Roma, đức Bênêđictô XVI đã đột xuất nói tới những thiệt hại do cái mà ngài gọi là “công đồng truyền thông”, thế lực đã lấn át cả công đồng thực sự đang diễn ra tại tòa thánh Vatican. Theo đức Ratzinger, các kỷ giả đã tường thuật công đồng theo một cái nhìn ở bên ngoài đức tin, điều đó đưa tới những thảm hoạ, một trong những thảm hoạ đó là việc “đóng cửa các chủng viện và tu viện”. Đó là một phát biểu bi quan, trong số những phát biểu đáng buồn nhất của đức Ratzinger, vì ngài không hiểu sâu xa về mối liên hệ không tránh khỏi giữa một bên là hành động của Giáo hội – như của mọi chủ thể xã hội khác – và bên kia là truyền thông đại chúng.
Giáo hoàng Phanxicô không muốn bị trói tay bởi những lời lẽ công kích quá khứ, ngài muốn tiến lên phía trước. Và nếu, như một câu ngạn ngữ cổ, “Ecclesia semper reformanda” (Giáo hội luôn phải được cải tổ), thì không thể thiếu việc toàn thể cơ cấu Giáo hội phải vận động để tiến lên. Tiến bước và xây dựng là hai ý tưởng đang hướng dẫn Giáo hội, như ngài đã trình bày trong thánh lễ đầu tiên cử hành với các hồng y tại nhà nguyện Sixtine.
Trong năm đầu tiên triều giáo hoàng Phanxicô, các HĐGM quốc gia đã tỏ ra khá yên lặng và thụ động trước cuộc cách mạng đang diễn tiến. Vì thế mà đức Phanxicô đã phải ghi vào lịch làm việc của năm thứ hai một chủ đề cụ thể, gây nhiều tranh cãi, mà các tín hữu đang yêu cầu phải có một quyết định, ngài đã chọn chủ đề gia đình là đề tài của thượng HĐGM bất thường vào mùa Thu 2014. Trong thực tế, ý kiến chung của giới công giáo là : người ta sẽ quyết định cho phép những người tái hôn được rước lễ.
Không cần phải làm gì để châm ngòi nổ. Vị kế nhiệm đức Ratzinger tại Thánh bộ Giáo lý Đức tin, hồng y Gerhard Ludwig Muller, đã phổ biến một tài liệu bằng bảy thứ tiếng và được đăng trên tờ Osservatore Romano, xác định cấm không được cho người tái hôn rước lễ. Trong văn kiện đó, ngài lập lại một cách quyết liệt rằng giữa một người đàn ông và một người phụ nữ đã rửa tội, hôn nhân “đương nhiên là bất khả phân ly”. Đây là một điểm giáo lý của Giáo hội dựa trên lời của Đức Giêsu, và đã được các giáo hoàng Gioan Phaolô II và Bênêđictô XVI xác nhận trong hai văn kiện. Những ai tái hôn thì không thể rước lễ. Họ cũng không thể rước lễ viện lý do là “nhận định theo lương tâm của mình”, Thánh bộ Giáo lý Đức tin đã nói như thế năm 1994.
Người đứng đầu Thánh bộ Giáo lý Đức tin không dừng lại ở việc tái lập vấn đề này theo khía cạnh lịch sử. Ngài còn tranh luận về một nguyên tắc quan trọng của giáo hoàng Phanxicô : lòng thương xót. Nhắc tới lòng thương xót đối với những người tái hôn theo lập luận là Đức Giêsu đã liên đới với những người đau khổ, “đó là một lập luận không đủ về mặt thần học bí tích, vì tất cả các bí tích là một công trình của lòng thương xót Thiên Chúa”. Do đó luật cấm này không thể bị đặt lại.
Giáo hoàng Phanxicô đã không nháy mắt. Chỗ riêng tư, ngài nói rằng “đó là ý kiến của cá nhân hồng y ấy”. Tháng Hai 2014, ngài cất nhắc Muller lên hàng hồng y, đó là một cách khẳng định chiến lược của ngài là đón nhận mọi lập trường vào phong trào cải tổ mà ngài đang thực hiện. Tuy nhiên, hồng y Marx, tổng giám mục Munich và vị đồng hương là hồng y Muller, lên tiếng: “người đứng đầu thánh bộ Giáo lý Đức tin không có quyền kết thúc cuộc tranh luận” về đề tài này, nhưng vấn đề sẽ được bàn thảo trong Thượng hội đồng giám mục. Hồng y Marx là thành viên uỷ ban hồng y cố vấn do giáo hoàng thiết lập như một cơ quan tư vấn thường trực. Mấy ngày sau đó, Muller đáp lại rằng giáo huấn của Đức Kitô và của Giáo hội không thể là đối tượng để tranh luận, vì đức tin không phải là “chương trình của một đảng phái mà người ta có thể thay đổi tuỳ theo ý muốn của những người đăng ký thành viên”.
Chính khi đó vị điều phối viên uỷ ban cố vấn của giáo hoàng là hồng y Maradiaga lên tiếng. Bằng một chút hài hước, vị hồng y người Honduras tuyên bố: hồng y Muller “là người Đức, và nhất là một giáo sư thần học người Đức, đối với ngài chỉ có điều gì đúng điều gì sai. Nhưng với tôi thì tôi sẽ nói, thưa anh, cuộc đời không giống như thế, và anh phải tỏ ra mềm mỏng hơn một chút khi nghe những tiếng nói khác. Để tránh khỏi phải nghe và chỉ trả lời là không, ở đây có một bức tường”.
Hồng y Maradiaga còn thêm, ngài đã trực tiếp hỏi giáo hoàng lý do tại sao ngài lại muốn tổ chức Thượng HĐGM một lần nữa về đề tài gia đình trong khi đã có một thượng HĐGM về đề tài này vào năm 1980. “Thượng hội đồng đã qua 30 năm rồi, giáo hoàng trả lời. Đối với đa số người dân, khái niệm gia đình của thời đại đó không còn hiện hữu nữa… có những cặp ly dị, các gia đình bảy sắc cầu vồng, các gia đình chỉ có cha hoặc mẹ, trường hợp mang thai hộ, các cặp không có con, các cặp đồng giới… chắc chắn là giáo lý truyền thống vẫn còn đó, nhưng những thách đố mục vụ đòi hỏi phải có những câu trả lời hợp thời đại, những câu trả lời không do chủ nghĩa độc đoán hay chủ nghĩa luân lý.”
Như thế giáo hoàng Phanxicô đã đặt nền tảng cho một thượng hội đồng có nhiều vấn đề sôi động. Đúng như điều ngài muốn. Trong khi đó, một hồng y quan trọng khác tại giáo triều bước ra đấu trường, hồng y người Mỹ Raymond Leo Burke, đứng đầu tòa án tối cao của Tòa thánh. Vị hồng y này nói: “Phổ biến ý tưởng cho rằng sẽ có một thay đổi căn bản và cho rằng Giáo hội sẽ không còn tôn trọng tính bất khả phân ly của hôn nhân là điều vừa sai lầm vừa gây thiệt hại2”. Quan điểm đó ngược lại với đề nghị của hồng y Walter Kasper, người trước đây chịu trách nhiệm Hội đồng Hiệp nhất Kitô hữu, và cho rằng có khả năng có những luật trừ. Theo hồng y Kasper, đối với những người đã thất bại trong hôn nhân, hiện nay nhận ra lỗi lầm của mình và hoán cải, thì “phải có một cách thức để họ lại được tham dự một cách trọn vẹn vào đời sống của Giáo hội”. Kể cả việc rước lễ. Hồng y Bagnasco, chủ tịch HĐGM Ý, đưa ra một quan điểm thận trọng: “suy nghĩ lại về những đề tài gia đình không phải là thay đổi, nhưng đúng hơn là suy nghĩ dưới ánh sáng của hoàn cảnh lịch sử mà chúng ta đang sống.”
Ở giáo triều có một cái hạt cứng nằm trong những rào cản do các giáo hoàng Gioan Phaolô II và Bênêđictô XVI thiết lập, về một số vấn nạn phát xuất từ mối tương quan giữa Giáo hội với văn hóa thời đại, chung quanh cách thức quan niệm về các mối liên hệ, vai trò của phụ nữ, trách vụ của linh mục.
Được giáo hoàng Bênêđictô XVI gọi năm 2008, hồng y Raymond Burke tham gia giáo triều. Khi còn là tổng giám mục giáo phận Saint Louis, ngài đã xác nhận trách nhiệm phải từ chối trao mình thánh cho ông John Kerry, ứng viên tổng thống thuộc đảng Dân chủ, vì ông này ủng hộ luật phá thai. Ngài cũng đã chỉ trích hồng y O’Malley của Boston vì đã cử hành lễ an táng trong nhà thờ cho ông Ted Kenedy. Ngài khẳng định: “Không được trao mình thánh và cử hành lễ an táng cho những chính trị gia ủng hộ phá thai”. Ngược lại, hồng y O’Malley đã tuyên bố: “Chúng ta sẽ không thay đổi con tim nếu bỏ rơi những người đang trong tình trạng thiếu thốn và tang chế.”
Tháng Năm 2013, hồng y Burke muốn đích thân tham dự cuộc đi bộ phò sự sống được tổ chức tại Roma do các nhóm Công giáo cực đoan nhất. Vị hồng y người Mỹ phản đối điều mà ngài gọi là “lobby của các tỉ phú” được cho là những người phổ biến nền văn hóa ngừa thai, phá thai, biến chất gia đình. Ngài nói, “chương trình nghị sự bàn về đồng tính” là kết quả của “những dối trá do ma quỷ”. (Chính hồng y Bergoglio cũng nói tới ma quỷ khi ngài chống đối luật hôn nhân đồng tính tại Buenos Aires.)
Tháng Mười Hai 2013, hồng y Burke công khai thách đố giáo hoàng Phanxicô. Giáo hoàng vừa mới khẳng định trong cuộc trao đổi với tờ La Civiltà Cattolica rằng Giáo hội không thể “chỉ nhấn mạnh đến những câu hỏi liên hệ đến phá thai, hôn nhân đồng tính và sử dụng các biện pháp ngừa thai”. Trong cuộc phỏng vấn của đài tuyền hình Công giáo Hoa Kỳ EWTN, hồng y Burke lặp lại rằng chẳng có gì là “thiết yếu” hơn luật tự nhiên trong luân lý. “Chúng ta sẽ không bao giờ nói cho đầy đủ bao lâu trong xã hội chúng ta một sự sống của người vô tội và không có gì tự vệ đang bị tấn công một cách man rợ nhất.”
Yếu tố thứ hai của cái hạt vốn là điểm tựa cho việc bảo vệ giáo lý của Ratzinger là hồng y Mauro Piacenza, người mà giáo hoàng đã miễn nhiệm chức vụ điều hành thánh bộ các giáo sĩ và đặt vào thánh bộ Xá giải. Hồng y Piacenza là một người không nhượng bộ, được đào tạo bởi hồng y Siri, người phản đối ngoan cường đối với công việc cải tổ của công đồng. Piacenza đưa ra mẫu hình cho hàng giáo sỹ là thánh Gioan Maria Vianney, cha xứ Ars, vị thánh sống vào đầu thế kỷ XIX trong một ngôi làng nước Pháp, hoàn toàn tách rời khỏi những vấn đề của thời đại. Hồng y Piacenza thẳng thừng từ chối xét lại luật độc thân linh mục và truyền chức linh mục cho phụ nữ, mặc dù trước khi đức Phanxicô được bầu làm giáo hoàng, ngài không loại trừ việc “một kinh tế gia phụ nữ” có thể trở thành “người đứng đầu trong việc quản trị tòa thánh hay là người phát ngôn của Vatican”. Đối với tính tông đoàn trong giáo hội, Piacenza vẫn còn mơ hồ. Phẩm trật trong Giáo hội là “một cơ chế trực tiếp từ Thiên Chúa” và bản chất của tính tông đoàn không thuộc trật tự chính trị xã hội, nhưng nằm ở chỗ “được nuôi dưỡng bằng duy nhất một lương thực (thánh thể) và sống bằng duy nhất một niềm tin”.
Hồng y Muller cũng thuộc nhóm những người bảo vệ giáo lý. Nổi tiếng là người có tính độc đoán khi làm giám mục Ratisbonne, ngài đã đến Vatican năm 2007 theo lời mời của giáo hoàng Ratzinger để điều hành thánh bộ Giáo lý Đức tin. Tháng Mười Hai 2013, ngài có một bài thuyết trình khẳng định những nguyên tắc sinh học đã được đưa ra từ thời của các giáo hoàng Wojtyla và Ratzinger, mà không biết tới những nhịp đập từ gần một năm nay dưới triều giáo hoàng Phanxicô. Lập trường của ngài đi theo điều mà, một cách độc đoán, được giáo hoàng Bênêđictô XVI nhiều lần lặp đi lặp lại: “ngành đạo đức sinh học đề xuất và xác nhận các nguyên tắc luân lý cho thái độ kỹ thuật và khoa học đối diện với sự sống nói chung và sự sống con người nói riêng.” Giáo huấn của Giáo hội không bảo vệ cho lợi ích riêng của người Công giáo nhưng bảo vệ phẩm giá của mọi người và “những điều kiện sống cũng như cùng chung sống của nhân loại”.
Để nhấn mạnh đến các khía cạnh khác nhau về tính cách của các đấng bậc ở giáo triều, chúng tôi lưu ý rằng đối với các vấn đề khác thì hồng y Muller tỏ ra cởi mở hơn. Là học trò của thần học gia giải phóng Gustavo Gutiérrez, ngài đã cùng soạn chung với Gustavo một cuốn sách để phổ biến nền thần học đứng về “phía người nghèo”. Là thần học gia, Muller khẳng định trong phần tín lý rằng việc Đức Maria đồng trinh ngay cả “trong khi sinh con” (tín điều này đã được công đồng Constantinô II tuyên bố năm 553), không thể được hiểu là “một sự khác thường về mặt sinh lý trong tiến trình tự nhiên của việc sinh sản”, như cho rằng màng trinh không bị rách, nhưng phải hiểu trong bối cảnh ơn cứu độ tuôn tràn từ Đấng Cứu chuộc. Trong cuốn sách viết về thánh lễ, ngài chống lại mọi cách hiểu vật chất về mình và máu Đức Kitô trong bí tích Thánh thể. Và điều cho thấy biên cương của giáo triều có thể biến động đến mức nào, là việc chính giáo hoàng Phanxicô đã viết đề tựa cho nghiên cứu mới nhất của Muller về sự khó nghèo và sứ vụ của Giáo hội.
Trong nhóm liên hệ chặt chẽ với việc làm khô cứng thần học trong 30 năm qua, có Rino Fisichella - chủ tịch viện Hàn lâm về sự sống từ 2008 đến 2010, sau đó được đức Bênêđictô XVI bổ nhiệm làm chủ tịch Hội đồng tòa thánh về Tân Phúc âm hóa – tỏ ra là một trong những người bảo vệ mạnh mẽ nhất các nguyên tắc không thể thảo luận do đức Joseph Ratzinger khẳng định. Những nguyên tắc đó, ngài đã bảo vệ không chỉ về mặt thần học, nhưng qua những hoạt động tích cực để điều đình trong giới chính trị, chủ yếu nhắm đến đảng Trung Hữu (Centre-droit) của Berlusconi.
Trong những năm hồng y Ruini là chủ tịch HĐGM Ý, Fisichella tỏ ra rất tích cực trong việc tổ chức các chiến dịch đề nghị bỏ phiếu trắng để làm chệch việc trưng cầu dân ý vào năm 2005 về việc tạo sinh có can thiệp, và trong cuộc vận động ngày gia đình để ngăn cản Quốc hội chấp thuận luật nhìn nhận các cặp sống chung không hôn nhân do chính quyền Prodi đề nghị vào năm 2007, và trong cuộc đấu tranh chống di chúc kết thúc cuộc sống.
Điểm đặc biệt của nhóm này là độ tuổi còn tương đối trẻ đối với Giáo hội – hồng y Burke 66 tuổi, Piacenza 70, Muller 67, Fisichella 63 – và đều được đức Bênêđictô XVI đưa về giáo triều làm việc. Mặc dù một số có khả năng được đặt làm tổng giám mục, nhưng họ vẫn là là điểm quy chiếu cho khuynh hướng bảo thủ, tại giáo triều cũng như nơi khác, vì các HĐGM quốc gia cũng phân thành khuynh hướng khác nhau như tại giáo triều.
Hồng y Tarcisio Bertone, nguyên Quốc vụ khanh, từng là cộng tác viên gần gũi với đức Ratzinger tại thánh bộ Giáo lý Đức tin từ 1995 – 2001, cũng theo lập trường trên, mặc dù do tuổi cao, gần 80 tuổi, do đó ngài cũng mất dần ảnh hưởng.
Giáo hoàng Phanxicô chọn đề tài về gia đình không phải do tình cờ. Việc ngừa thai, ly dị, phá thai, là những vấn đề mà cảm xúc và cách sống của người tín hữu tỏ ra khác biệt so với mệnh lệnh của hàng giáo phẩm từ gần nửa thế kỷ nay. Giáo hoàng Phanxicô không muốn điều chỉnh giáo lý, nhưng ngài nghĩ rằng việc thay đổi cách thức tiếp cận mục vụ là điều không thể thiếu. Vấn đề không cho phép người tái hôn rước lễ là một chủ đề được đề nghị xét lại từ hơn 10 năm nay. Năm 1993, khi mà các hồng y Karl Lehmann và Walter Kasper còn là giám mục, đã thất bại trong việc thỉnh cầu hồng y Ratzinger lúc đó là bộ trưởng thánh bộ Giáo lý Đức tin, chấp nhận một điều khoản lương tâm là cho phép ít là người bị ly dị trong các đôi hôn nhân mà không phải lỗi của họ, và sau đó họ tái hôn cũng được rước lễ. Thủ tướng Đức Helmut Kohl cũng đã nêu lên vấn đề này trong một thư riêng gởi đức Gioan Phaolô II. Trong chuyến thăm Bá Linh của giáo hoàng Bênêđictô XVI, tổng thống Christian Wulff đã cảm thấy cần phải gợi vấn đề này trong bài diễn văn chào mừng giáo hoàng tại Đức.
Trao phó đề tài gia đình một lần nữa cho thượng hội đồng giám mục, điều đó có vẻ như một sự trả thù mang tính lịch sử. Thực vậy, trong thượng hội đồng giám mục 1980, đa số các giám mục đã bỏ phiếu chấp thuận việc phải nghiên cứu hệ thống hiện hành trong các Giáo hội Chính thống, trong đó người ta có thể tái hôn – mặc dù nghi lễ đơn giản hơn, như dấu hiệu của sự sám hối – mà vẫn được tiếp tục rước lễ. Các ngài đã đi tìm một giải pháp. Giáo hoàng Gioan Phaolô II không chấp thuận ý kiến của thượng hội đồng giám mục vì một năm sau đó, ngài đã công bố một văn kiện trong đó khẳng định ngược lại : “Việc cho những người tái hôn rước lễ […] là không được phép”. Ngài còn lưu ý các linh mục : “Cấm […] cử hành “dưới bất cứ hình thức nào” một nghi lễ cho những người ly dị và tái hôn dân sự”.
Hơn ba mươi năm sau, giáo hoàng Phanxicô lại trao cho thượng hội đồng giám mục khả năng tìm ra một giải pháp mục vụ cụ thể. Theo cách của mình, ngài chuẩn bị vấn đế này một cách mới mẻ, bằng những kiểu nói mang ý nghĩa hơi đặc biệt: “Tôi nghĩ tới người đàn bà đã phải chịu đựng sự thất bại cuộc hôn nhân mà trong thời gian đó bà đã phá thai; tiếp theo bà tái hôn và hiện nay bà sống thanh thản với năm người con. Việc phá thai đã làm bà đau khổ vô cùng và bà đã thành tâm hối cải. Bà muốn sống đời sống Kitô hữu mật thiết hơn: trong trường hợp đó, cha giải tội phải làm gì cho bà?”; “Nếu một người đồng tính và thành tâm đi tìm Thiên Chúa, thì tôi là ai mà dám kết án họ?”; “Tôi nhớ lại trường hợp một bé gái rất buồn, em đã thú nhận với cô giáo về lý do khiến em buồn: người bạn gái hôn thê của mẹ em không yêu em.” Mỗi lần như thế, vấn nạn có vẻ vén mở cho người ta hiểu rằng lập trường giáo lý cũ của Giáo hội không còn đứng vững. Cha Spadaro của tờ La Civiltà Cattolica nhận xét: “Giáo hoàng mở ra những cánh cửa sổ, và ngài đi khỏi những cánh cửa đó mà không đưa ra câu trả lời trực tiếp”. Việc đưa ra câu trả lời là của các giám mục, dưới dấu chỉ của tính tông đoàn.
Tuy nhiên, giáo hoàng Phanxicô biết rằng cần phải đánh thức bộ máy giáo quyền. Chính vì thế mà không cần thông báo trước, cũng không cần tham khảo ý kiến của Hội đồng giáo hoàng về Gia đình, ngài đưa ra một thăm dò để xem người tín hữu nghĩ thế nào về tất cả các vấn nạn liên hệ đến họ, đặc biệt đến cuộc sống hằng ngày của họ. Một sự kiện chưa từng có. Cuộc cách mạng được thể hiện trong 39 câu hỏi, và trong việc giáo hoàng muốn những câu hỏi đó được đặt ra. Đó là những câu hỏi mà các vị giáo hoàng trước đây không bao giờ muốn đặt rõ ràng lên bàn tranh luận, vì người ta luôn coi ý kiến của tín hữu là không thích hợp – và cũng không cần họ chấp thuận hay không. Tốt nhất là phải dạy cho họ vâng phục.
Bảng câu hỏi chuẩn bị thượng hội đồng giám mục đã vén mở bức màn che trên nhiều vấn đề. “Ý niệm về luật tự nhiên trong hôn nhân giữa một người nam và một người nữ có phải là được những người đã rửa tội chấp nhận một cách chung như ý nghĩa của nó? […] Việc sống thử có phải là một thực tế mục vụ quan trọng trong Giáo hội địa phương của quý vị? Có bao nhiêu phần trăm thực hành điều đó? […] Những người ly thân và ly dị tái hôn có phải là một thực tế mục vụ quan trọng trong Giáo hội địa phương của quý vị? Có bao nhiêu phần trăm? […] Người đã rửa tội sống hoàn cảnh bất thường của mình như thế nào? Họ có ý thức điều đó không? […] Họ có cảm thấy xa cách và đau khổ vì không được lãnh nhận các bí tích không? […] Có thể có quan tâm mục vụ nào đối với những người lựa chọn kiểu kết hôn đồng tính không? Trong trường hợp kết hôn đồng tính và nhận con nuôi, thì phải có thái độ mục vụ nào nhằm truyền đạt niềm tin?” Cuối cùng, câu hỏi đặt ra từ nửa thế kỷ nay, từ khi giáo hoàng Phaolô VI cấm sử dụng biện pháp ngừa thai trong thông điệp Humanae Vitae: “Đâu là những khía cạnh bị đặt thành vấn đề nhất, khiến đa số các cặp hôn nhân khó chấp nhận giáo lý này?”
Tài liệu này đã được gởi cho các HĐGM vào tháng Mười 2013, kèm theo lời mời gọi cung cấp câu trả lời từ đó cho tới tháng Giêng 2014. Nếu giáo hoàng Phanxicô muốn biết được phản ứng của các HĐGM, thì kết quả sẽ có ngay lập tức. HĐGM Anh đưa bảng câu hỏi lên mạng. Ở Ý không như vậy. Các giám mục Anh đề nghị giáo dân trả lời theo cá nhân, trong khi HĐGM Ý gởi bảng câu hỏi cho các giám mục và xin tham khảo ý kiến của các hội đoàn trong giáo xứ, như thế người ta ít nói hơn. Các HĐGM khác trên thế giới cũng theo một trong hai hướng đó. Nhiều giáo phận khảo sát câu hỏi theo hàng dọc, qua mối liên hệ giữa giám mục và các đại diện mục vụ hay các hội đoàn. Một số đưa bản câu hỏi lên internet, và công khai xin ý kiến giáo dân. Tại Vienna, Lyon, Malta, Baltimore và Chicago, đó là mới chỉ kể ra một số nơi tiêu biểu, các giám mục vẫn thích mối liên hệ cá nhân với người công giáo. Trong nhiều giáo phận khác tại Đức, Pháp và Hoa Kỳ cũng vậy.
Tại Ý, tờ nhật báo của các giám mục Avvenire không phổ biến bản câu hỏi trên mạng của mình, ngay cả vào tháng Giêng, thời điểm cuối cùng phải trả lời, mặc dù vị tổng thư ký thượng hội đồng giám mục, đức giám mục Lorenzo Baldisseri, tuyên bố trong một cuộc họp báo ngày 5/11/2013 rằng mỗi giáo dân cũng có thể gởi câu trả lời cho tòa thánh Vatican. Phong trào “Chúng tôi là Giáo hội” tố cáo hàng giáo phẩm Ý đã hành động “một cách rõ ràng là ngần ngại”.
Ý tưởng của bản câu hỏi đã trở thành yếu tố nhân rộng các sáng kiến. Giới báo chí công giáo đã soạn lại và tăng sức cho tài liệu này, các nhóm giáo dân thì động viên người giáo dân gởi đề nghị cho các giám mục. Tại Thuỵ Sĩ, HĐGM soạn lại các câu hỏi thăm dò dư luận nhằm mục đích bản thăm dò được nhiều người biết đến, và họ đã nhận được khoảng
25.000 bản trả lời. Tại Đức, một nhóm mười bảy giáo sư thần học đã đưa ra một lời kêu gọi xin Giáo hội hãy “từ bỏ truyền thống thần học luân lý vốn bị ám ảnh bởi hành vi tính dục và muốn qui định hết mọi vấn nạn về tính dục1”. Một bản điều tra của hiệp hội giới trẻ công giáo Đức (BDKJ) cho biết 90% giới trẻ công giáo không quan tâm đến giáo lý của giáo hội về vấn đề tính dục. Kết quả cứ lặp đi lặp lại, với ít nhiều thay đổi, trong khắp Phương Tây.
Sáng kiến gởi bảng câu hỏi làm cho nhiều giáo dân phấn khởi. Phong trào Redes Cristianas của Tây Ban Nha tuyên bố rằng “Giáo hội đang xuống đường”. Ông Arnd Bunker, giám đốc viện mục vụ xã hội Saint-Gall Thuỵ Sĩ, bình luận: “Nhiều người cho biết họ ngạc nhiên một cách thích thú khi thấy giáo hoàng quan tâm đến hoàn cảnh đặc thù của họ”. Đài BBC từ Luân Đôn cũng nhận được nhiều phản ứng. Clare viết: “Tôi là người công giáo rất chăm và cũng là người đồng tính rất mạnh. Đức Phanxicô có quyền để làm thay đổi thế giới, trong đó có trường hợp của tôi, và tôi hãnh diện tham gia vào một phong trào đón nhận và thông cảm trong lòng Giáo hội Công giáo.” Sam bình luận: “Đó là cách hành động mà tôi mong đợi với tư cách là một người công giáo trẻ”. Arthur Croker bảo vệ: “Giáo hội Công giáo không cần được cải tổ”. Ngược lại, Paula Thomson lại nói: “đó là một ý tưởng tuyệt vời”.
Giáo hội Công giáo đi một con đường mới. Bằng chứng là sự khác biệt nơi phản ứng của các hồng y. Hồng y Baldisseri, tổng thư ký thượng hội đồng giám mục tuyên bố một cách cẩn thận: “Đây không phải là một cuộc trưng cầu dân ý cũng không phải là áp dụng những nguyên tắc dân chủ vào sinh hoạt nội bộ của Giáo hội, nhưng là một bản thăm dò nhằm đưa ra những câu trả lời có suy nghĩ chính chắn, dựa vào các đề nghị”. Hồng y Philippe Barbarin, người Pháp, khẳng định với giáo dân: “Cần nghiên cứu các đề tài này trong vai trò những người kiến tạo hòa bình, không sợ chân lý, chân lý đưa chúng ta đến tự do”.
Hồng y Péter người Hungari, báo cáo viên của thượng hội đồng giám mục khẳng định: “Có rất nhiều hoàn cảnh, mà chúng tôi có thể tìm được giải pháp cụ thể, những giải pháp đi theo đường hướng giáo lý và sứ điệp Đức Kitô […]. Chứ không phải là ý kiến công chúng”. Giám mục Bruno Forte, người Ý, được giáo hoàng giao cho vai trò thư ký đặc biệt của thượng hội đồng giám mục, còn thêm rằng không có chuyện đưa ra những quyết định dựa trên dư luận xã hội, nhưng cũng không thể “không biết đến những suy nghĩ của đa số và suy tư về những ý kiến đó”.
Đức cha Vincent Nichols, tổng giám mục Westminster, chủ tịch HĐGM Anh và xứ Galles, tóm lại bằng một câu hẳn làm vui lòng đức Bergoglio: “Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một cái miệng và hai cái tai. Nghe những điều làm chúng ta khó chịu sẽ là điều tốt.”
Những kết quả đầu tiên đến từ một số giáo phận tại Đức, khẳng định rằng có khoảng cách rất lớn giữa giáo lý của Giáo hội và kinh nghiệm sống của con người. Giáo phận Mayence – địa bàn của hồng y Lehmann, bốn nhiệm kỳ là chủ tịch HĐGM Đức, trong một thông báo nói rằng có một “hố sâu”. Đây là một hoàn cảnh nghiêm trọng, “và chúng ta đã biết điều đó từ lâu, hồng y Lehmann thẳng thắn nhìn nhận. Nhiều điều đã từng bị dồn nén. Giáo hoàng Phanxicô cho chúng ta cơ hội để làm việc một cách rõ ràng”.
Hồng y Lehmann kết thúc nhiệm kỳ ở tuổi 76, người kế nhiệm trong vai trò chủ tịch HĐGM Đức, đức cha Robert Zollitsch, đã có một sáng kiến giật gân: văn phòng mục vụ giáo phận Fribourg của ngài đi tiên phong bằng việc phổ biến một tập hướng dẫn để cho phép những người ly dị được rước lễ sau một số cuộc trao đổi với vị linh mục, một thứ duyệt xét lương tâm một cách sâu xa và chân thành ăn năn sám hối. Ngay lập tức, Roma lên tiếng cảnh báo qua hồng y Muller, bộ trưởng Thánh bộ Giáo lý Đức tin.
Trước những kết quả của cuộc thăm dò ý kiến được thực hiện theo ý giáo hoàng Phanxicô, người ta có cảm tưởng rằng thời đại của quyền phủ quyết đang tàn lụi dần. HĐGM Thuỵ Sỹ là đơn vị đầu tiên công bố các kết luận của mình, những kết luận này làm thành một giải pháp cấp thời có giá trị ít là trong một phần lớn của Tây Phương. Người giáo dân Thuỵ Sĩ đa số không chấp nhận giáo lý cấm người ly dị tái hôn được rước lễ. Gần 60% các câu trả lời đề nghị nhìn nhận và có nghi thức chúc lành cho các cặp đồng tính (không nói tới hôn nhân). Việc cấm sử dụng viên thuốc ngừa thai hoàn toàn không được nói tới. Các giám mục Thuỵ Sỹ đã giao cho viện mục vụ xã hội Saint Gall soạn thảo bản thông cáo báo chí, trong đó có nói: “Việc cấm sử dụng những phương pháp ngừa thai nhân tạo là rất xa vời đối với cuộc sống và suy nghĩ của đa số người công giáo”.
Đánh giá của viện Saint Gall thật là xúc tích, nhằm gióng lên tiếng chuông đặc biệt cách nào đó, đối với thượng hội đồng giám mục. “Giáo hội phải chấm dứt việc gán một giá trị tuyệt đối cho một số qui định và chỉ dẫn, trước những kinh nghiệm và hoàn cảnh sống cụ thể của con người. Khi Giáo hội đòi hỏi người công giáo phải tuân thủ những qui định và chỉ dẫn cụ thể, một cách vô điều kiện và không được phê phán, thì Giáo hội đang làm thiệt hại cho ước vọng của mình là truyền lại cho họ những khía cạnh quan trọng nhất và căn bản nhất của sứ điệp mình loan truyền.”
Đài truyền hình Hoa Kỳ bằng tiếng Tây Ban Nha nhờ công ty Bendixen & Amandi International thực hiện cuộc thăm dò ý kiến trong giới công giáo Hoa Kỳ, Achentina, Braxin, Columbia, Mêhicô, Pháp, Ý, Ba Lan, Tây Ban Nha, Cộng hòa Dân chủ Côngô, Ouganda, Philippines. Kết quả bản thăm dò cho thấy 58% những người được hỏi đều không chấp nhận luật cấm người tái hôn rước lễ. 57% chấp nhận phá thai trong một số trường hợp; 78% chấp nhận việc ngừa thai – tuy nhiên biên giới địa lý cũng cho thấy người công giáo Phi châu và Á châu đi theo việc tuân thủ giáo lý truyền thống.
Hiện nay, mọi sự đang chuyển động trên mặt trận này. Cuộc chiến cho thấy còn nhiều khó khăn. Trong chiến lược chính trị của mình, giáo hoàng Phanxicô tiên liệu rằng những quyết định không thể được đưa ra lập tức trong thượng hội đồng giám mục tháng Mười 2014. Trong dịp đó người ta mới chỉ lượng giá tình hình. Còn phải chờ thêm một năm nữa để sự tham gia được phát triển nhiều hơn trong Giáo hội, để các giám mục theo hướng cải tổ có thời gian được tăng cường mạnh mẽ hơn và giáo dân lên tiếng nhiều hơn. Năm 2015, một thượng hội đồng giám mục thứ hai sẽ bỏ phiếu cho những đề nghị dứt khoát.
Giáo hoàng Phanxicô đang giữ vai trò người cải tổ đáng tin cậy, cũng như quyền bính của mình trong Giáo hội.