Vấn đề của người Ý
HĐGM Ý đã bị cuộc cách mạng của giáo hoàng người Achentina sờ gáy. Giáo hoàng Phanxicô gợi lên hình ảnh một Giáo hội nghèo, ít tính giáo lý, một giáo hội không can thiệp về mặt tinh thần vào đời sống con người cũng như vào sinh hoạt chính trị, dành vị trí cho phụ nữ, lắng nghe dân chúng và từ chối cám dỗ điểu khiển họ. Hình ảnh đó đã phá vỡ cái khung trong đó HĐGM Ý sinh hoạt từ nhiều thập niên qua.
Mặc dù có những khác biệt trong việc dấn thân xã hội, nhưng Giáo hội Ý luôn có thói quen coi mình trước tiên là một tổ chức truyền lệnh, về mặt đạo lý cũng như trong lãnh vực chính trị xã hội.
Được sinh ra trong một bầu khí ít quyền tự trị – khác với các HĐGM trên thế giới, HĐGM Ý không có quyền bầu chủ tịch – và cũng không dành chỗ cho giáo dân. HĐGM này luôn dập tắt những mưu toan muốn mở ra một không gian ở đó đại diện giáo dân có thể trình bày một cách tự do về những đề tài trong Giáo hội cũng như về mối tương quan giữa đức tin và những vấn đề kinh tế xã hội tại quốc gia này.
Nếu tại Đức, quê hương của đức Bênêđictô XVI, Uỷ ban trung ương người Công giáo Đức (ZDK), theo định kỳ, cho các Kitô hữu đầy sức sống được quyền lên tiếng bằng cách phát biểu về những đề tài nóng bỏng trong đời sống Giáo hội, thì tại Ý, Uỷ ban quốc gia các tổ chức giáo dân (trước đây là Ban cố vấn sứ vụ tông đồ giáo dân) cho thấy qua khoản 1 của bản Nội quy, một điều khoản gây khó khăn, rằng các giám mục sợ đối diện với một tổ chức tự trị. Điều khoản đó khẳng định rằng Uỷ ban này là nơi các tổ chức và các phong trào giáo dân công giáo Ý “liên đới trong tinh thần hợp nhất với HĐGM Ý, qua việc cung cấp cho HĐGM sự phong phú từ khả năng tông đồ của mình và đón nhận một cách hiệu quả những chương trình và chỉ dẫn mục vụ từ HĐGM”.
Trong những thập niên gần đây, vào những thời điểm khó khăn cho mối tương quan giữa đức tin và xã hội Ý – từ việc tham khảo ý kiến về vấn đề ly dị, phá thai, tạo sinh, cho tới dự luật về sống chung hay di chúc kết thúc sự sống -, chưa bao giờ Uỷ ban này được bàn luận công khai và cụ thể, cũng không được thi hành trách vụ đã được ghi trong bản Nội quy là cung cấp “những đề nghị nhằm giúp HĐGM Ý soạn thảo các định hướng cũng như đường lối mục vụ”.
Ngược lại, hàng giáo phẩm đưa ra một cách hệ thống những lệnh truyền và những hướng dẫn cho các sáng kiến công cộng, mà người công giáo Ý được mời gọi tham gia. Trong cuộc họp gần đây tổ chức tại Verona năm 2006, do sợ hãi những tiếng nói cho dù nổi lên một cách ôn hoà, khiến vị chủ toạ HĐGM phải ngăn cấm không cho phép các nhóm làm việc được bỏ phiếu bản văn.
Chính sự tự do của các giám mục cũng bị giới hạn từ cấp trên. Việc vị chủ tịch HĐGM gởi cho giáo hoàng bản tường trình mang tính hướng dẫn ngay hôm trước ngày khai mạc phiên họp thường niên vào tháng Năm, đã chắc chắn góp phần vào việc ngăn chặn những tranh luận ở phiên họp khoáng đại. Còn tranh luận làm gì nữa nếu bản tường trình đã được giáo hoàng chấp thuận trước, đôi khi có những sửa chữa quan trọng vào giờ phút chót? Tính hàng dọc tuyệt đối là một trong những nét đặc thù của HĐGM Ý. Cách đây mấy năm, giám mục Plotti, phó chủ tịch HĐGM Ý nhiệm kỳ từ 2000 đến 2005, đã ghi nhận: “Trong các diễn văn khai mạc, mọi người đều phát biểu rằng “điều này tốt điều này không tốt”, rồi cuối cùng, vị chủ tịch trả lời theo cách nhìn vấn đề của ngài”. Ngài còn thêm rằng điều đó là hợp pháp, “nhưng chỉ là ý kiến cá nhân, không được gạn lọc bằng việc tham khảo ý kiến. Người ta nghĩ rằng đó là tiếng nói của các giám mục Ý, trong khi các giám mục lại bị đặt ra bên lề”.
Tính tự trị của một HĐGM, vốn được thay thế bởi các chỉ dẫn của giáo hoàng cũng như của những vị thân tín của ngài, đã rất yếu ớt vào năm 2007 dưới thời hồng y Bagnasco giữ chức chủ tịch, lại càng bị giảm bớt khi mà hồng y Bertone, lúc đó là Quốc vụ khanh, gởi cho vị chủ tịch một lá thư chính thức trong đó quốc vụ khanh giữ lại cho mình thẩm quyền trao đổi với các tổ chức chính trị: “Tôi xin hứa với đức hồng y về sự cộng tác chân thành và sự hướng dẫn đáng kính của tòa thánh, cũng như của bản thân tôi.”
Người ta thấy hình thành một mối liên hệ có hệ thống giữa Vatican, HĐGM Ý và tổ chức chính trị. Đầu thiên niên kỷ này, chủ trương đường lối song hành, vốn xuất hiện từ thời hậu chiến với đảng Dân chủ Kitô giáo, cho tới khi đảng này suy yếu vào năm 1994, đã trở thành một mối liên hệ kín đáo hơn nhưng vẫn gần gũi với đảng Trung Hữu của Berlusconi. Trước tiên là dưới thời hồng y Rui chủ tịch HĐGM Ý, rồi đến thời có sự can thiệp của hồng y Bertone. Thời đó, người ta viện lý do là nhằm bảo vệ những nguyên tắc được gọi là nguyên tắc không thể thương lượng, liên hệ đến chủ đề về sự sống, hôn nhân, và tự do giảng dạy. Bản chất chính trị của những lý do đó là nhằm đến việc mọi người đồng ý cung cấp tài chánh cho các trường công giáo, và phản đối những đổi mới trong luật pháp về việc sống chung, hôn nhân đồng tính, di chúc kết thúc sự sống, ly dị chớp nhoáng, tạo sinh.
Do những thời điểm căng thẳng có lợi, nhất là qua vụ Boffo, nên liên minh giữa HĐGM Ý và phe Berlusconi của đảng Trung Hữu chỉ kết thúc vào năm 2011, khi ông Monti lên nắm chính quyền. Ông Hino Boffo, giám đốc nhật báo Avvenire, do đã tố cáo lối sống của Berlusconi nên đã bị ép từ chức vào mùa Hè 2009 sau một chiến dịch bôi nhọ do Il Giornale, một tờ báo thuộc gia đình Berlusconi, việc bôi nhọ này dựa vào một tài liệu giả mạo cho rằng Boffo có những mối liên hệ đồng tính.
Giữa năm 2011 và 2012, mặc dù đã ký hai hiệp ước tiếp nối nhau tại Todi, nhưng nỗ lực của các hiệp hội và các phong trào Công giáo nhằm thành lập một nền chính trị năng động, đã thất bại. Các phe nhóm ở Vatican, thân cận với quốc vụ khanh Bertone, bênh vực cho việc chấm dứt “ảnh hưởng của các nhóm di dân gốc Ý ở nước ngoài”, đề nghị cần có một “thủ lĩnh” của giáo dân công giáo, nhân vật này phải được nâng đỡ bởi một sự nối kết giữa “các giám mục, chính trị gia, kinh tế gia, luật gia, các phong trào và tổ chức dân sự” nhằm đưa ra một chương trình hành động thấm nhuần giáo lý xã hội của Giáo hội: một cơ cấu rất gần với cơ cấu của một phong trào chính trị. Hồng y Bagnasco, chủ tịch HĐGM Ý, rõ ràng tỏ ra cẩn thận hơn, khi dừng lại ở việc mong muốn có một tranh luận về “văn hóa và xã hội”. Tuy nhiên, không có dự án nào trong các dự án đó được thực hiện, và sau khi danh sách ứng viên của Monti bị thất bại trong cuộc bầu cử năm 2013, giới công giáo Ý bị trôi dạt, bị cắt đứt khỏi thế giới chính trị.
Bóng khuất chính trị xã hội lại kéo theo một sự im tiếng khó hiểu của giới trí thức công giáo, trừ vài trường hợp ngoại lệ hiếm hoi. Ấn tượng cho rằng tư tưởng công giáo là không phù hợp, được lan ra trong xã hội Ý, mặc dù có những phân tích và những đề nghị mạnh mẽ được nêu lên nhân dịp những Tuần lễ xã hội.
Vài tháng trước biến cố từ nhiệm của giáo hoàng Bênêđictô XVI, một tiếng nói vang lên trong Giáo hội Ý đòi hỏi phải thay đổi hoàn toàn hướng nhìn. Khi sắp qua đời, hồng y Carlo Maria Martini dòng Tên, nguyên tổng giám mục Milan đã tuyên bố: “Giáo hội đã chậm trễ mất hai trăm năm. Tại sao Giáo hội không chịu chuyển mình? Phải chăng vì chúng ta sợ hãi thay vì phải can đảm?”. Trong một bài phỏng vấn cuối cùng, được công bố ngày 01/09/2012, ngay hôm sau ngày ngài qua đời, đức hồng y lấy làm tiếc vì một “Giáo hội mỏi mệt” tại châu Âu và châu Mỹ. “Nền văn hóa của chúng ta đã già nua, các nhà thờ thì to lớn, các tu viện thì trống rỗng, bộ máy mang tính bàn giấy của Giáo hội Lêvi, nghi lễ và áo quần của chúng ta thì phô trương.” Hồng y Carlo Maria Martini mong ước một Giáo hội biết tự giải phóng khỏi gánh nặng của lối sống chạy theo vật chất dễ dãi, và thu hút được những người thân cận của những người nghèo nhất, cũng như những người trẻ có khả năng đưa ra những kinh nghiệm mới. “Tôi khuyên giáo hoàng và các giám mục phải chọn mười hai người ngoài những thành phần hiện có để đặt vào các vị trí điều hành”, ngài nói.
Hồng y Martini đúng là một vị tiền hô của giáo hoàng Phanxicô. Đề nghị đầu tiên của ngài là hoán cải Giáo hội, một Giáo hội “phải nhìn nhận những sai lầm của mình và đi theo con đường thay đổi tận gốc rễ, bắt đầu từ giáo hoàng và các giám mục”. Đức hồng y nhắc tới sự cần thiết phải đối diện với các vấn nạn về tính dục và thân xác, những câu hỏi mà một năm sau cái chết của ngài, giáo hoàng Phanxicô sẽ đưa ra trong bản câu hỏi chuẩn bị Thượng HĐGM tháng Mười 2014. “Chúng ta cần tự hỏi phải chăng người dân còn lắng nghe các lời khuyên nhủ của Giáo hội về vấn đề tính dục. Trong lãnh vực này, Giáo hội phải chăng vẫn còn có quyền để được qui chiếu hay chỉ là một bức biếm hoạ trên truyền thông?”
Martini không phải chỉ là một nhân vật tầm cỡ của giới công giáo Ý. Ngài còn là điểm qui chiếu của Giáo hội toàn cầu, thậm chí được cả người Tin Lành và Chính Thống lắng nghe. Không phải tình cờ mà trong Mật nghị năm 2005, mật nghị bầu giáo hoàng Ratzinger, nguyên tổng giám mục Milan đã được coi như biểu tượng đối đầu trước bộ trưởng thánh bộ Giáo lý Đức tin. Một số hình ảnh ngài đưa ra đã có âm vang trong suy tư của giáo hoàng Phanxicô. Chẳng hạn chuyện “một người phụ nữ bị chồng bỏ rơi, và gặp được một người chồng mới, người này chăm sóc bà và ba người con của bà. Tình yêu thứ hai là thành công. Nếu gia đình này mà bị phân biệt đối xử, thì không chỉ người mẹ bị loại trừ, nhưng cả các con của bà.” Các bí tích, ngài nhấn mạnh, không phải là một “dụng cụ mang tính kỷ luật, nhưng là một sự trợ giúp cho con người trước những yếu đuối của cuộc sống”.
Khi còn là tổng giám mục Milan, hồng y Martini đã đề xuất chương trình “giảng đài của những người không tin”, một sáng kiến nhằm tổ chức các cuộc tranh luận giữa những người tin và những người không tin về các đề tài khác nhau. Lý do sâu xa của cuộc đối thoại này được tìm thấy trong nơi sâu thẳm của mỗi cá nhân, ngài giải thích: “Tôi nghĩ rằng trong mỗi người chúng ta đều có một người tin và một người không tin đang nói chuyện với nhau, đang cật vấn nhau […]. Người không tin trong tôi thì làm cho người tin lo lắng, và ngược lại.” Theo ngài, thế giới không bị chia thành những người tin và những người không tin, nhưng chia thành những người suy nghĩ và những người không suy nghĩ.
Hồng y Martini là tiêu biểu cho những gì mà lãnh đạo Giáo hội Ý coi như chấp nhận hay không chấp nhận trong 30 năm qua. Ngài là người được giáo hoàng Wojtyla phát hiện – năm 1979 giáo hoàng muốn coi ngài như một nhà nghiên cứu của dòng Tên, lúc đó Martini nổi tiếng trong vai trò viện trưởng trường Kinh thánh giáo hoàng rồi viện trưởng Đại học Gregoriô -, hồng y Martini dần dần bị xa lánh khi bắt đầu trình bày những ý kiến khác biệt so với chủ trương can thiệp chính trị của HĐGM Ý (dưới thời hồng y Ruini làm chủ tịch), và đưa ra những đề nghị không phù hợp với dự định của giáo hoàng Gioan Phaolô II về việc tân phúc âm hòa xã hội hiện đại. Đang là chủ tịch hiệp hội các HĐGM châu Âu từ 1986 đến 1993, nổi tiếng vì uy tín của mình và cách ngài đối thoại với Hồi giáo và Do Thái giáo, cũng như với các Giáo hội Kitô khác, thì hồng y Martini phải rời chức vụ do quyết định của đức Wojtyla. Giáo hoàng thay đổi qui chế của tổ chức Hiệp hội các HĐGM Châu Âu, yêu cầu chỉ có các chủ tịch HĐGM quốc gia mới có thể được bầu làm chủ tịch liên hiệp các HĐGM Châu Âu.
Năm 1999, tại kỳ họp Thượng Hội đồng Giám mục với đề tài do đức Gioan Phaolô II gợi ra là bàn về tình hình châu Âu sau sự sụp đổ của bức tường Bá Linh, tổng giám mục Milan đã làm ngạc nhiên các đồng sự khi kể ra một “giấc mơ”. Ngài mơ tới một Thượng HĐGM mới, dám can đảm tranh luận về những đề tài gai góc nhất: chẳng hạn tính tông đoàn trong việc điều hành Giáo hội, tình trạng bi đát của việc thiếu các linh mục, vị trí của phụ nữ trong cộng đoàn giáo hội, sự tham gia của giáo dân, vấn đề tính dục, kỷ luật của giáo hội về hôn nhân, vấn đề đại kết. Một sự im lặng khó chịu từ các vị cấp cao trong hàng giáo phẩm khi nghe những đề nghị đó. Cả hai vị giáo hoàng Gioan Phaolô II và Bênêđictô XVI đều không muốn đụng chạm đến các câu hỏi này.
Năm 2002, do tới hạn 75 tuổi, hồng y Martini nghỉ hưu (vì lý do sức khoẻ, nhưng cũng để phần nào bớt gánh nặng cho Vatican). Ngài nghỉ hưu ít năm tại Giêrusalem rồi trở lại Lombardie ở Gallarate. Đối với ngài, đó là một thời gian tích cực. Ngài có cơ hội trao đổi lâu giờ với người bạn cùng dòng Tên là Georg Sporschill, về sau nội dung những cuộc trao đổi này được xuất bản thành sách, trong đó ngài gởi một tín hiệu.
Các Giáo hội Tây Phương, ngài giải thích, không thể tiếp tục nhập khẩu các linh mục từ nước ngoài. Phải mở ra cuộc đối thoại về những người mà thuật ngữ Giáo hội gọi là viri probati, tức là nhắm tới khả năng truyền chức linh mục cho những người đã kết hôn, với điều kiện là ứng viên đó phải có niềm tin và đời sống luân lý tốt. Hồng y Martini cũng cho rằng phải nghĩ đến việc truyền chức linh mục cho phụ nữ. Ngài kể lại cuộc gặp gỡ tổng giám mục George Carey, giáo phận Canterbury, vị đứng đầu Giáo hội Anh giáo từ 1991 đến 2002, thời kỳ mà Anh giáo gặp căng thẳng do vấn đề lần đầu tiên truyền chức linh mục cho phụ nữ, điều mà Vatican kịch liệt phản đối: “Để khích lệ đức tổng giám mục, tôi nói rằng sự can đảm này có thể giúp chúng tôi coi trọng phụ nữ hơn và biết phải làm gì để tiến lên phía trước.”
Trở về từ Giêrusalem, hồng y Martini bắt đầu phụ trách một mục trên tờ Corriere della Sera, hằng tuần ngài đối diện với ý kiến dân chúng về những chủ đề tế nhị nhất mà HĐGM Ý né tránh hay giải quyết bằng cách kết án: chẳng hạn việc di chúc kết thúc sự sống, quan hệ đồng tính, sống chung, những vấn đề liên hệ đến việc tạo sinh. Vatican nghi ngờ những bài viết của ngài. Ông Ferruccio De Bortoli, chủ nhiệm tờ báo, trong bài của ban biên tập tưởng nhớ cái chết của ngài ghi nhận rằng mục này “làm cho Roma không vừa lòng”. “Một ngôn sứ đã qua đời. Tôi lấy làm tiếc vì sự lạnh lùng của một số giáo sỹ […]. Tại sao hồng y Martini lại bị coi như một khuôn mặt kỳ dị, hầu như lạc giáo, gần với Tin Lành hơn?” Ông De Bortoli ước mong giáo hoàng Bênêđictô XVI hãy đến Milan để cử hành lễ an táng cho ngài. Đề nghị đó không được chấp nhận.
Trong dịp an táng vị hồng y dòng Tên, ngày 03/09, có ba bài chia sẻ của các hồng y sau: hồng y tổng giám mục Scola, hồng y Angelo Comastri với một sứ điệp của đức Bênêđictô XVI, và hồng y Tettamanzi, nguyên tổng giám mục Milan. Chỉ có bài chia sẻ của hồng y Tettamanzi là được vỗ tay nhiệt liệt khi ngài nhìn nhận: “Chúng tôi yêu mến ngài vì ngài có cái nhìn xa rộng.”
Bảy tháng sau, vị giáo hoàng đầu tiên thuộc dòng Tên trong Lịch sử lên ngai tòa Phêrô. Mặc dù không phải là học trò đúng nghĩa của hồng y Martini, nhưng sau khi được bầu, Bergoglio đã cho thấy nhiều điểm lấy từ tư tưởng của Martini.
Vừa lên ngôi, giáo hoàng Phanxicô thấy Giáo hội Ý đã bị lạc hướng, và các vị lãnh đạo của HĐGM Ý chỉ nhìn xoay quanh nguyên tắc những vấn đề không thể thương lượng. HĐGM Ý thì bị phân mảnh, một số còn gắn liền với quyền lực thống trị địa phương, trong khi số khác đang nỗ lực xây dựng một cộng đoàn giáo hội không có những thoả hiệp chính trị, có khả năng đối thoại với toàn thể cộng đồng xã hội. Giáo hội Ý là một Giáo hội không quen với tính minh bạch trong lãnh vực kinh tế, giáo hội công khai các báo cáo thuế nhưng lại giữ kín khoản thu chi của các giáo phận, nhất là trong lãnh vực địa ốc. Theo tờ Il Sole 24 Ore, gần 20% bất động sản trong nước Ý là thuộc về Giáo hội, với giá trị khoảng một ngàn tỉ euros. Đó là không kể tài sản của Vatican. Riêng thánh bộ Truyền bá Đức tin đã sở hữu tại Roma những tài sản tương đương với 9 tỉ euros.
Quen như thời còn là tổng giám mục Buenos Aires và là chủ tịch HĐGM Achentina, tự do phê phán những nhà lãnh đạo chính trị quốc gia, điều không thấy nơi các giám mục Ý, vị tân giáo hoàng đã không che đậy ý định đưa HĐGM Ý vào một con đường mới. Ngài phê chuẩn hồng y Bagnasco làm chủ tịch và ngay lập tức xác định rằng thời mà Vatican can thiệp vào sinh hoạt chính trị của nước Ý đã qua rồi. Hai tháng sau khi được bầu, trong bài nói chuyện ngắn với các giám mục Ý, ngài lặp đi lặp lại hai lần như sau: “Công việc của các đức cha là đối thoại với các tổ chức văn hoá, xã hội, chính trị […]. […] Đó là điều thuộc trách nhiệm của các đức cha”.
Trong cuộc tiếp kiến tổng thống Giorgio Napolitano lần đầu tiên tại Vatican, giáo hoàng không nhắc đến những nguyên tắc không thể thương lượng, nhưng ngài thích nhấn mạnh rằng làm sao để “người có tín ngưỡng và người không có tín ngưỡng cộng tác được với nhau để cổ võ một xã hội trong đó phải loại trừ mọi bất công, và mỗi người được đón nhận và có thể đóng góp vào công ích”. Lần đến thăm dinh tổng thống Quirinal tháng 11/2013, giáo hoàng đã tuyệt đối không nhắc đến những nguyên tắc không thể thương lượng, từ chối gợi lại cách khăng khăng về nguồn gốc Kitô giáo. Ngài cầu chúc nước Ý biết cách kín múc từ “gia sản phong phú của mình những giá trị dân sự cũng như thiêng liêng”. Trách nhiệm trước tiên của Giáo hội, ngài nói, là “làm chứng từ cho lòng thương xót của Thiên Chúa, và mời gọi sự đáp trả quảng đại của tình liên đới, nhằm mở ra một tương lai đầy hy vọng”. (Sau đó, đức Bergoglio tuyên bố với ông Ferruccio De Bortoli, chủ nhiệm tờ Corriere della Sera rằng: “Tôi không thể hiểu được kiểu nói “những giá trị không thể thương lượng”. Giá trị là giá trị. Thế thôi.”)
Thái độ của tổng thống Napolitano cũng rất ý nghĩa trong bầu khí mới này: ông khẳng định đức Phanxicô là một giáo hoàng “hoàn toàn không có tính giáo điều, giữ khoảng cách so với “những lập trường chưa có chút chắc chắn nào”, lời mời gọi gởi riêng cho những vị hướng dẫn dân Thiên Chúa là phải ‘dành chỗ cho sự nghi ngờ’”. Tổng thống còn ghi nhận ý định của giáo hoàng là “đối thoại với mọi người, ngay cả với những người ở xa nhất và cả những đối thủ”.
Cùng lúc đó, giáo hoàng đẩy mạnh việc soạn thảo qui chế mới cho HĐGM Ý, ngài yêu cầu một điều quan trọng là phải xác định lại cơ cấu tổ chức và chi phí quản trị của tổ chức này, tăng cường vai trò của các HĐGM địa phương, giảm bớt số giáo phận và duyệt lại cách thức bầu chủ tịch nhằm nối kết với các HĐGM khác trên thế giới.
Về phía giáo dân, từ nhiều năm nay, họ rất mong Giáo hội Ý có được một diện mạo mới. Bằng chứng là một số sách được xuất bản như những tiếng kêu đau thương vào năm cuối cùng của triều giáo hoàng Bênêđictô XVI. Trong cuốn Manca il respiro, sử gia Giorgio Campanini và linh mục Saverio Xeres, giáo sư phân khoa thần học Bắc Ý, nêu lên tình trạng nhiều giáo dân cảm thấy hết sức khó chịu do việc hàng giáo sỹ tự lấy mình làm điểm qui chiếu, coi nhẹ những bản văn công đồng, và những gì mà thần học gia Enzo Bianchi gọi là “đọc sự kiện hay hoàn cảnh theo kiểu được cấp trên áp đặt trước, áp dụng vào những vấn đề tại địa phương và trong giáo phận”.
Nguyên phó chủ nhiệm tờ Osservatore Romano, ông Gian Franco Svidercoschi, người ghi chép nhật ký của công đồng Vatican II, và là cộng tác viên của đức Gioan Phaolô II khi ngài soạn cuốn “Ơn gọi của tôi: một hồng ân và mầu nhiệm”, còn đưa ra một kết án nặng nề hơn nữa: “Số người rửa tội, ơn gọi, bí tích hôn nhân đều giảm, tình trạng bỏ đạo càng lúc càng nhiều, đời sống luân lý xuống dốc, và người Kitô hữu thì không có khả năng hiện diện trong thế giới. Người Công giáo phản ứng lại bằng cách rút lui vào cơ cấu tổ chức của mình, bám vào những đặc quyền của giáo sỹ, ẩn trốn trong các chủ nghĩa đoàn hội, nghề nghiệp, chủ nghĩa Roma tập quyền.” Trong cuốn Mal di Chiesa (Nỗi Đau của Giáo Hội) và bài viết Sự trở lại của giáo sỹ, phát hành vài tuần trước khi bầu giáo hoàng Phanxicô, ông tố cáo Giáo hội đã dựng lên trong cuộc chiến chống lại thời hiện đại, một hàng rào về căn tính, và Giáo hội không có khả năng đối đầu với tính tự do của xã hội hiện nay. Hàng giáo sỹ thì một số bị ảnh hưởng bởi chủ trương quá đáng về tính thánh thiêng nơi chức vụ của mình, nhưng đồng thời “nhiều linh mục trẻ lại rất yếu đuối và gặp nhiều khó khăn”. Trong bối cảnh của chủ nghĩa đồng bộ cực đoan, “linh mục không dám phát biểu vì ông muốn làm giám mục, giám mục thì lại mơ đến một giáo phận rộng lớn hơn, hồng y thì im lặng vì tham vọng của mình. Dĩ nhiên, không phải tất cả đều như vậy”. Theo tác giả này, thời đại này được ghi dấu bởi việc người ta sợ xung đột, “người giáo dân thì bàng quan đứng nhìn trước một hệ thống tự qui chiếu mà ở đó không có chỗ cho phản biện”.
Người ta hiểu lý do tại sao, trong cuộc gặp gỡ đầu tiên với tổng thống Giorgio Napolitano tại dinh Quirinal, giáo hoàng Phanxicô đã nhanh chóng đưa ra một trong những minh định vắt tắt của ngài dường như được viết bằng mực đỏ: “Giáo hội tiếp tục cổ võ sự dấn thân của tất cả mọi người.” Điều đó có nghĩa là Giáo hội không phải chỉ là hàng giáo sỹ, nhưng toàn thể dân Thiên Chúa.
Trong những năm qua, ngay cả chủ đề về sự khó nghèo, một chủ đề rất quen thuộc của giáo hoàng Phanxicô, cũng được đưa ra trong giới giáo sỹ gần với dân chúng nhất. Cha Andrea Gallo, vị linh mục đường phố, quen nói rằng “Giáo hội không phải là dành cho người nghèo, nhưng Giáo hội đi với người nghèo. Giáo hội nghèo và đồng hành với tất cả những ai đang đau khổ. Đó là một cánh cửa rộng mở.” Ngài qua đời gần hai tháng sau khi đức Bergoglio được bầu làm giáo hoàng.
Vị giáo hoàng Achentina tiến bước dần dần và có định hướng. Ngày 19/11/2013, ngài thay thế tổng thư ký của HĐGM Ý, đức cha Mariano Crociata. Đầu tháng Mười, khi tờ Avvenire phổ biến việc phê chuẩn tạm thời đức cha Crociata, coi đó như sự phê chuẩn chính thức, thì giáo hoàng nổi giận và buộc chủ nhiệm tờ báo phải đính chính thông tin đó, ngài xác định rằng việc bổ nhiệm chỉ có tính tạm thời.
Đức cha Crociata không nhận được tước hồng y như trường hợp các thư ký trước đây của HĐGM Ý, chẳng hạn các đức cha Betori (ở Florence), Tettamanzi (ở Gênes rồi Milan). Ngài chỉ được bổ nhiệm làm tổng giám mục Latina, ngoại ô Roma. Thay cho vị trí của ngài, giáo hoàng Phanxicô chọn một giám mục ở cực nam nước Ý, giáo phận Cassano allo Ioni, một giáo phận nhỏ nhất của vùng Calabre: đức cha Nunzio Galantino, một người đơn sơ nhưng học thức, gần với linh mục don Luigi Ciotti, và đã dạy môn nhân học tại phân khoa thần học miền Nam Ý, rồi khi được chọn làm giám mục, đã từ chối ở trong tòa tổng giám mục, nhưng ở trong chủng viện giáo phận để dễ dàng tiếp xúc với các linh mục và chủng sinh.
Giám mục Galantino đứng thứ ba trong danh sách ba ứng viên cho chức vụ thư ký do hồng y Bagnasco đề cử lên giáo hoàng Phanxicô. Khi đức cha Galantino xin đức giáo hoàng để được tiếp tục coi sóc giáo phận, đức giáo hoàng Phanxicô đã cầm bút trực tiếp viết thư xin giáo dân Cassano allo Ioni cho ngài được rút vị giám mục của họ bán thời gian: “Tôi biết anh chị em rất yêu mến giám mục của anh chị em, và tôi cũng biết rằng việc rút giám mục sẽ làm anh chị em không vui, tôi hiểu anh chị em […]. Tôi đã xin ngài ít là trong thời gian đầu, mặc dù ở Roma, nhưng thường xuyên đi về giáo phận cũ vài ngày để tiếp tục đồng hành với anh chị em trên con đường đức tin. Tôi xin anh chị em vui lòng hiểu cho tôi và tha thứ cho tôi về việc này.”
Tháng Mười Hai, khi cải tổ Thánh bộ các giám mục, đức Phanxicô đã miễn cho hồng y Bagnasco khỏi tham dự phiên khoáng đại, và mời vị phó chủ tịch của HĐGM là đức cha Gualtiero Bassetti, giám mục Pérouse. Hai tháng sau đó, ngài đã nâng đức cha Bassetti lên hàng hồng y, và như thế là giới thiệu vị hồng y này. Nhiều quan sát viên coi hồng y Bassetti như ứng viên cho chức chủ tịch HĐGM Ý và không loại trừ khả năng hồng y Bagnasco sẽ thôi chức này vào năm 2015. Trong khuôn khổ cải cách cơ cấu Giáo hội Ý, ông giám đốc kênh truyền hình TV 2000 của HĐGM Ý, cũng thôi việc: Dino Boffo là một trong những đại diện cuối cùng của thời đại hồng y Ruini.
Trong năm đầu tiên triều giáo hoàng, mối tương quan giữa giáo hoàng Phanxicô và HĐGM Ý diễn ra dưới dấu hiệu trái ngược nhau. Đức giáo hoàng sẵn sàng dành cho HĐGM Ý quyền bầu chủ tịch, nhưng một số đông giám mục lại từ chối đảm nhận trách nhiệm sẵn sàng đối đầu nhau một cách trong sáng về việc điều hành hội đồng giám mục, cũng như trách nhiệm bầu cử dựa trên danh sách ứng viên do cách điều hành đó. Tháng Giêng 2014, sự chống đối của phe bảo thủ được tỏ lộ qua một đề xuất ít phức tạp nhất: toàn thể các giám mục nêu danh tánh các ứng viên họ thích, sau đó “Hội đồng giám mục sẽ được triệu tập để đề nghị danh sách khoảng mười lăm vị trong số các ứng viên nổi bật nhất”.
Cuối cùng trong phiên họp vào tháng Năm, sau những bất đồng khiến mà không ý kiến nào đạt được số phiếu cần thiết, tức là hai phần ba số phiếu – 104 giám mục đề nghị bầu trực tiếp, 102 đề nghị gởi lên giáo hoàng danh sách ứng viên được chọn -, sau cùng họ quyết định bầu ra ba vị, và dành cho giáo hoàng lựa chọn vị chủ tịch. Những người từ chối việc chuyển cho hội đồng giám mục quyền trực tiếp chọn chủ tịch, cho rằng Giáo hội Ý và giáo hoàng có một “mối tương quan đặc biệt”, theo nghĩa là “việc bổ nhiệm chủ tịch HĐGM Ý phải được tiếp tục dành cho giáo hoàng, dựa trên danh sách các ứng viên” do các giám mục tuyển chọn.
Đó chưa phải là vấn đề duy nhất mà HĐGM Ý phải giải quyết. Về vấn đề chống nạn lạm dụng tình dục trẻ em, HĐGM Ý cũng chậm trễ so với các HĐGM khác ở châu Âu và châu Mỹ, các nơi này đã thiết lập cơ cấu cấp quốc gia để giám sát, can thiệp và đền bù thiệt hại cho các nạn nhân. Thời hồng y Bagnasco làm chủ tịch, ngài dứt khoát từ chối nhìn nhận trách nhiệm ở cấp độ quốc gia. Ngài dựa vào lập trường theo đó “HĐGM Ý không có thẩm quyền thiết lập bất cứ cơ cấu nào […]. Chúng tôi không có thẩm quyền thiết lập các cơ cấu, mỗi giám mục hành động tuỳ theo nhận định của họ”. Ngoài ra, HĐGM cũng từ chối trách nhiệm phải tố cáo các linh mục phạm tội cho cảnh sát hoặc tòa án, viện lý giám mục không phải là một nhân viên công chức. Tháng Ba 2014, bản Hướng dẫn của HĐGM Ý lấy lại lập trường này, sau khi tài liệu được soạn thảo năm 2012 để giải quyết trường hợp giáo sỹ lạm dụng tình dục trẻ em, bị Tòa thánh coi là không đầy đủ.
HĐGM Ý từ khước việc kiểm soát ở cấp quốc gia cũng như từ khước việc thành lập cơ cấu tiếp nhận ý kiến và tố cáo nhằm giúp đỡ các nạn nhân, họ tuyên bố rõ ràng: “HĐGM Ý không chịu bất cứ trách nhiệm nào, một cách trực tiếp hay gián tiếp, về những trường hợp lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên.” Chỉ có một điểm mới được ghi nhận so với văn kiện phổ biến hai năm trước, là thêm: “theo Pháp lệnh của nước Ý, giám mục không phải là một nhân viên nhà nước, cũng không có trách nhiệm về các dịch vụ công cộng, do đó không chịu trách nhiệm trước pháp luật – ngoài nghĩa vụ đạo đức là phải góp phần vào công ích – phải tố cáo cho các cơ quan tư pháp nhà nước những thông tin mà giám mục đã biết được, liên hệ đến các hành vi trái pháp luật được nói tới trong bản Hướng dẫn này.” HĐGM Ý không cung cấp một chi tiết cụ thể nào về “nghĩa vụ đạo đức”, mà chỉ để tuỳ các đấng bậc nhận định.
Tuy nhiên, một nạn nhân là chị Marie Collins, một người công giáo Ái nhĩ lan, bị hiếp dâm năm 13 tuổi và được giáo hoàng Phanxicô mời tham gia vào Uỷ ban quốc tế chống lạm dụng tình dục trẻ em do Vatican thành lập, đưa ra một yêu cầu không thể bàn cãi: “Nếu những trường hợp lạm dụng tình dục trẻ em được phát hiện, và nạn nhân đồng ý, thì phải tố cáo cho chính quyền dân sự1.” “Đó là một bước quyết định”, chị Marie Collins thêm.
Bản văn của HĐGM Ý thông báo cho các giám mục Ý rằng, dựa vào sự cải tổ bản Hiệp ước 1984, và theo Quy tắc tố tụng hình sự, “các giám mục được miễn trách nhiệm phải nộp hay trình bày những tài liệu liên hệ đến những gì mà các ngài biết, hay lưu giữ do chức vụ của mình”. Điều khoản này nhằm tránh trường hợp – như ở Hoa Kỳ - các cơ quan tư pháp có thể yêu cầu cung cấp bằng chứng về những ý đồ có thể có nhằm giấu tội, hay sự im lặng có tội.
Bản Hướng dẫn cũng khẳng định rằng, trường hợp một bản điều tra hay tố tụng hình sự do chính quyền tiến hành, thì “sự cộng tác của giám mục với chính quyền dân sự sẽ là quan trọng”. Tuy nhiên, việc thiếu vắng một cơ quan giám sát ở cấp quốc gia trực thuộc HĐGM Ý đã làm giảm bớt sức mạnh của khoản đề nghị tham gia khám phá tội phạm và cộng tác với các cơ quan nhà nước. Theo Giáo luật khi một giám mục được trình báo về tội lạm dụng tình dục trẻ em, thì phải lập một cuộc điều tra sơ khởi và rút nghi can khỏi mọi công tác mục vụ, nhưng ngay cả khoản luật đó cũng thường bị vi phạm tại Ý.
Trường hợp ì xèo nhiều nhất về sự không can thiệp của giám mục ở cấp giáo phận và không được sự quan tâm của hàng giáo phẩm cấp quốc gia là trường hợp Don Ruggero Conti, người này sau khi kháng cáo, đã bị kết án mười bốn năm hai tháng tù giam vì đã lạm dụng tình dục nhiều trẻ em trong những năm từ 1998 đến 2008: mặc dù vị giám mục liên hệ, đức cha Gino Reali (giáo phận ngoại ô Porto Santa Rufina) đã được báo cáo, nhưng không mở điều tra theo giáo luật và cho tới hiện nay – cho dù đã có hai bản án – vẫn chưa có sự xét xử công khai nào về phía giáo hội đối với linh mục Conti.
Trong lúc đó, thách đố chính đối với Giáo hội Ý là việc giảm sút rất nhanh số người trẻ gắn bó với một giáo hội Công giáo cơ cấu. Hình ảnh nước Ý như là “Giáo hội của dân chúng” đang bị mờ dần. Một bản điều tra đầu những năm 2000 tại giáo phận Venise về tình trạng giới trẻ tham dự thánh lễ vào một cuối tuần của tháng Mười Một. “Ít hơn 6% số người tham dự thánh lễ là giới trẻ từ 18 – 29 tuổi”, ông Alessandro Castegnaro, giám đốc viện quan sát tôn giáo và xã hội Triveneto cho biết. Thánh lễ vào giờ thuận lợi nhất cho giới trẻ, tối Chúa Nhật, con số đó cũng không quá 10%.
Vénétie là một thành phố có truyền thống công giáo rất mạnh, là một chỉ dấu cho cả nước. So sánh giữa thế hệ cha anh (giữa khoảng 48 và 56 tuổi) và thế hệ con cháu (16-26 tuổi) cho thấy một khoảng cánh đáng kể. Chỉ có 27% giới trẻ nhìn nhận mình thuộc về Giáo hội mà không chút dè dặt hay hơi dè dặt. Nếu 51% lớp đàn anh cảm thấy Giáo hội “xa cách” thì tỉ lệ đó là 73% nơi thế hệ con cháu.
Một khía cạnh quan trọng khác liên hệ đến cách sống đồng bộ giữa giới trẻ nam và nữ. Đã qua rồi thời đại mà phụ nữ đương nhiên là những người giữ đạo tốt hơn. “Ngày nay 14% các cô gái sinh những năm 1990 coi tôn giáo là việc rất quan trọng, so với 12% nơi con trai.” Trong số những phụ nữ học cao, sự xa cách này còn nỗi bật hơn. 58% phụ nữ có bằng cấp cho biết không chấp nhận Giáo hội, trong khi chỉ có 10% có ý kiến tích cực về Giáo hội.
Nếu việc truyền đạt tôn giáo vẫn được coi là lãnh vực của phụ nữ, thì Castegnaro dự báo rằng việc thay đổi thái độ nơi các phụ nữ trẻ sẽ kéo theo những hệ quả rất xấu cho mối liên hệ giữa các thế hệ tương lai với Giáo hội. Người ta đang chứng kiến một sự giảm sút càng ngày càng nhiều của Kitô giáo truyền thống, tự do hơn trong các lựa chọn, ngay trong việc tuyên xưng tôn giáo, chủ quan hơn trong việc sếp đặt các giá trị, luật lệ và ngay cả hình ảnh về Thiên Chúa, thường được diễn tả bằng những nét rất mơ hồ. Mặc dù một số ít bạn trẻ (chưa đến một phần tư) vẫn còn khẳng định mình có niềm tin.
Khi lên đường tham dự Mật nghị tại Rome, đức Jorge Mario Bergoglio đã nhắc nhở một nhóm tu sĩ rằng Giáo hội phải chấm dứt sai lầm cho rằng “có 99 con chiên trong đoàn và chỉ có một con chiên đi lạc. Ngược lại là đàng khác: chỉ có một con trong chuồng còn 99 con đi lạc”.
Cuộc xuất hành của Giáo hội truyền thống – không chỉ ở Ý, nhưng còn cả khắp Tây phương – là một hiện tượng có tầm ảnh hưởng lớn; và thách đố cho triều giáo hoàng Phanxicô là rất lớn. Sau khi lên ngôi giáo hoàng, ngài phát biểu rằng các quảng trường thì đầy người hồ hởi phấn khởi, còn trong các nhà thờ thì rất thiếu niềm vui mừng hân hoan. Độ tuổi 40, những người hơi xa rời việc sống đạo, người ta ghi nhận có một sự trở lại với tôn giáo. Theo một bản thăm dò vào tháng Ba 2014, nơi những người sống đạo gần gũi với các tạp chí dòng thánh Phaolô Credere và Famiglia cristiana, có một sự tăng trưởng rõ nét về đức tin, người ta đón nhận các bí tích nhiều hơn, cầu nguyện nhiều hơn. Đó là những nhóm nhỏ. Caritas Roma ghi nhận sự kiện có rất nhiều người thiện nguyện. Nhưng chung chung, không thấy có khuynh hướng nơi giới trẻ “trở về” với nhà thờ.
Đảo ngược khuynh hướng đó bằng cách thay đổi cơ cấu giáo hội trở thành một Giáo hội mới, đó sẽ là một cá cược đối với đức giáo hoàng Achentina.