SỐNG CÁC BÍ TÍCH CỨU ĐỘ
Tại vùng đất Galilê, Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ vụ công khai [Mt 4, 12-17]. Cũng tại vùng Galilê này, Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng. Thế nhưng, dù có “ba đầu sáu tay”, một ông Giêsu lịch sử cũng không thể làm cho xuể những công việc, ngay chỉ với những công việc của một hoàn cảnh, hoàn cảnh Galilê lúc ấy. Công trình cứu độ của Chúa Giêsu không thể bị đóng khung trong hoàn cảnh lịch sử. Chính vì vậy, Ngài muốn lên Giêrusalem, trung tâm của tôn giáo, Ngài muốn chọn lễ vượt qua, một biến cố trọng đại nhất trong lịch sử của dân tộc, để “gởi gắm” công cuộc giải phóng dân nghèo vào trong một chiều kích siêu thời gian và vượt mọi hoàn cảnh. Chính khung cảnh phượng tự của Giêrusalem trong dịp lễ Vượt Qua, một cách nào đó, đã giúp cho công trình cứu độ, giải phóng của Ngài trở thành một biểu tượng vĩnh cửu. Công cuộc loan báo Tin Mừng cho người nghèo tại Galilê được nối kết với cuộc “tế tự” tại Giêrusalem và tìm thấy sức mạnh, ý nghĩa toàn vẹn, ý nghĩa phổ quát, trong cuộc hy sinh mạng sống vì yêu thương, vì tuân phục Thánh Ý Chúa Cha, và chiến thắng các thế lực thù nghịch. Cuộc tử nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu trở thành một biểu tượng vĩnh cửu của sức mạnh giải phóng, của tình yên thắng hận thù, của lời cam kết của tình yêu Thượng Đế đối với con người.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
I. Ý nghĩa Phụng vụ
1. Nẻo đường của Đức Giêsu
Tại vùng đất Galilê, Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ vụ công khai [Mt 4, 12-17]. Cũng tại vùng Galilê này, Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng. Thế nhưng, dù có “ba đầu sáu tay”, một ông Giêsu lịch sử cũng không thể làm cho xuể những công việc, ngay chỉ với những công việc của một hoàn cảnh, hoàn cảnh Galilê lúc ấy. Công trình cứu độ của Chúa Giêsu không thể bị đóng khung trong hoàn cảnh lịch sử. Chính vì vậy, Ngài muốn lên Giêrusalem, trung tâm của tôn giáo, Ngài muốn chọn lễ vượt qua, một biến cố trọng đại nhất trong lịch sử của dân tộc, để “gởi gắm” công cuộc giải phóng dân nghèo vào trong một chiều kích siêu thời gian và vượt mọi hoàn cảnh. Chính khung cảnh phượng tự của Giêrusalem trong dịp lễ Vượt Qua, một cách nào đó, đã giúp cho công trình cứu độ, giải phóng của Ngài trở thành một biểu tượng vĩnh cửu. Công cuộc loan báo Tin Mừng cho người nghèo tại Galilê được nối kết với cuộc “tế tự” tại Giêrusalem và tìm thấy sức mạnh, ý nghĩa toàn vẹn, ý nghĩa phổ quát, trong cuộc hy sinh mạng sống vì yêu thương, vì tuân phục Thánh Ý Chúa Cha, và chiến thắng các thế lực thù nghịch. Cuộc tử nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu trở thành một biểu tượng vĩnh cửu của sức mạnh giải phóng, của tình yên thắng hận thù, của lời cam kết của tình yêu Thượng Đế đối với con người.
Như thế, Galilê là vùng đất của cuộc sống trần gian, Juđê [Giêrusalem] là vùng đất của trung tâm tôn giáo, của phượng tự. Chúa Giêsu rao giảng tại Galilê, nhưng về Giêrusalem để chịu chết. Cái chết của Chúa Giêsu ở Giêrusalem là chiều kích “biểu tượng” của những gì diễn ra ở Galilê; cái chết và sự Phục sinh của Chúa Giêsu tỏ hiện sự chiến thắng của Chúa trong chiều kích vĩnh cửu, trong chiều kích phượng tự, của những gì Chúa đã và đang làm ở Galilê.
Chính vì đó, sau khi một hoàn cảnh cụ thể đã tìm được sức mạnh và ý nghĩa nơi “cái phổ quát”, sau khi đã gắn liền với nguồn mạch của vĩnh cửu, thì cuộc chiến thắng ấy liền được đưa trở về với hoàn cảnh cụ thể của không gian và thời gian lịch sử. Chính vì thế niềm vui mừng của các môn đệ phải là niềm vui ở Galilê; và việc gặp lại Chúa Phục Sinh, trong chiều kích hiện sinh sẽ chỉ được tỏ hiện trong những vấn đề, trong công cuộc giải phóng “còn bỏ dở” tại Galilê. Chính vì thế, Chúa Giêsu hẹn gặp các ông ở Galilê, và chính ở Galilê. Vùng đất Galilê, vùng đất của dân ngoại, đó là vùng đất của sứ vụ, và là vùng đất của ơn cứu độ, đặc biệt với những “bệnh nhân cần tới thầy thuốc”, với những ”người bé mọn”, với những người đau khổ, với những người tội lỗi, thu thuế và đĩ điếm …; và chính ở Galilê ấy, Chúa Giêsu đã hiện ra long trọng với các ông để chính thức sai các ông đi rao giảng Tin Mừng đến tận cùng thế giới [Mt 28, 16-20].
2. Cử hành phụng vụ hôm nay
Đức Giêsu luôn khởi ơn cứu độ của Ngài từ nhu cầu thật của cuộc sống con người, từ bánh mì trần thế đến Bánh Trường Sinh, từ nước uống cho đến Nước Hằng Sống… Hơn nữa, Chúa Giêsu cũng mời gọi các môn đệ "Các con hãy cho họ ăn", và cùng với các ông, Chúa ban bánh cho con người được no lòng. Khởi từ kinh nghiệm cu thể ấy, Chúa mới tỏ bầy Bách đích thực trong bí tích Thánh Thể.
Nhưng cách thức trình bầy trong Giáo Hội hiện nay hình như lại biến hồng ân lớn lao đó trở thành điều không dính dáng gì đến nhu cầu thật của cuộc sống hằng ngày. Bí tích Thánh Thể không phải chỉ là một hồng ơn lớn lao xét theo giá trị tự tại, theo kiểu Thiên Chúa, Đấng cao cả vô cùng, đã hóa thân để ở với loài người… Tính cách giá trị như thế cũng giống như người chết đói có được một mỏ vàng. Mỏ vàng thật quí nhưng không ăn được trong lúc đói lòng.
Hình như là các bí tích, xét như là những biểu tượng, dù là biểu tượng tái thực hiện, phải luôn luôn là những biểu tượng có khả năng gợi lại chính thực tại. Người tham dự bí tích là người sống thực tại qua những biểu tượng. Thế mà bí tích hiện nay, được cử hành và được tham dự, hình như lại đưa người ta vào một thế giới khác, thế giới thuần biểu tượng, thế giới của những ý niệm, hơn là bắt nhịp cầu cho con người trở lại với thực tại.
Khi tham dự nghi thức bẻ bánh chẳng hạn, các tông đồ sống lại việc mình đã từng được đồng bàn với đức Giêsu; khi cử hành bí tích Thánh Tẩy, các Tông đồ sống lại sống tử nạn của Chúa Giêsu.... Người Kitô hữu hiện nay cũng vậy, họ cần sống lại thật với ơn cứu độ, với những biến cố cứu độ, với những việc Thiên Chúa làm trong cuộc đời của mình một cách sống động và có thực. Nếu không, người ta cứ mãi phải ép mình vào thế giới biểu tượng xa lạ với cuộc sống thực, mà cứ phải nỗ lực đưa tâm trí đến một kỷ niệm mà mình không được sống, không được kinh nghiệm...
Như thế nghĩa là, trong khi bí tích cử hành mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa trong “bầu khí” của những ý nghĩa không có thời gian và không gian, thì “nhiệm cực cứu độ” của Thiên Chúa cũng phải vượt qua mọi giới hạn của không gian và thời gian của thời đức Giêsu và tiếp tục diễn tiến, tiếp tục sống trong thời đại hôm nay và trong lúc này [hic et nunc].
Một các nào đó, ta có thể hiểu rằng trong khi ngày thứ Năm Tuần Thánh, Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể và chức linh mục [để cử hành tích] thì ngày Thứ Sáu Tuần Thánh lại không có bí tích nào được cử hành. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày của thực tại. Nếu không có ngày Thứ Sáu, thì ngày Thứ Năm vô nghĩa. Cũng thế, nếu không có thực tại của nhiệm cục cứu độ trong cuộc sống thực thì những biểu tượng chỉ là lớp vỏ. Nếu không có thực tại của Nhiệm cục Cứu độ trong cuộc sống thực của mỗi Kitô hữu, thì bí tích [dù là tái hiện thực tại cuộc tử nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu lịch sử] luôn luôn là chuyện bên lề cuộc sống của cuộc sống con người hôm nay.
Chúng ta dễ rơi vào tình trạng cử hành phụng vụ như thể cử hành một biến cố của quá khứ. Đúng ra, đây phải là việc cử hành một biến cố mang tầm vóc “sử tính”, một lịch sử đã, đang và sẽ còn lưu chuyển, một “Lịch Sử” nằm sâu và hiện diện trong mọi diễn biến của dòng thời gian. Nói cách khác, đó là “sử tính” của ơn cứu độ. Như thế, thực sự chúng ta đang cử hành một biến cố của “hiện tại”, một hiện tại của mọi thời điểm trên chặng đường lịch sử.
Biến cố Đức Giêsu chịu chết và Phục Sinh sẽ không còn ý nghĩa khi nó chỉ còn là một biến cố quá khứ, hoặc ngầm chứa thái độ đầu hàng, trốn chạy trước cuộc sống và chỉ còn là một ước mơ tương lai. Ngược lại, biến cố Đức Giêsu Chết và Sống lại phải là sức sống chống lại sự chết trong mọi thời đại. Nói cách khác, chúng ta không để lòng mình cắt đứt với hiện tại rồi trôi vào dĩ vãng, nhưng phải công bố Tin Mừng cho ngày hôm nay, mang lại sức sống phục sinh cho những cái chết, những thứ chết của ngày hôm nay.
Như thế, khi ta cử hành phụng vụ, ta không được “chia trí” về biểu tượng, những phải cầm trí về thực tại cuộc sống; không được quên những con người trong cuộc sống hôm nay để đi vào một thế giới thuần túy phụng vụ. Khi ta dâng của lễ, ta không được “chia trí” vì bánh rượu, nhưng phải cầm trí về những mảnh đời; khi linh mục truyền phép, ta không được “chia trí” vì chuyện “biến đổi bản thể”, nhưng phải cầm trí về ơn cứu độ Chúa cho những mảnh đời ấy, cho những con người hôm nay; khi ta rước lễ, ta không được “chia trí” về một Đức Giêsu xa xưa của lịch sử, nhưng phải cầm trí về một Đức Giêsu đã đón nhận con người hôm nay và đã thánh hoá cuộc đời hôm nay trong tình yêu hy hiến của Người.
Đức Giêsu trong thập giá hôm nay, Đức Giêsu trong Thánh Thể hôm nay, Đức Giêsu trong Lời Chúa hôm nay… không phải là một Đức Giêsu của lịch sử, một thứ lịch sử đã trôi vào dĩ vãng nhưng chính là một đức Giêsu trong diễn tín lịch sử, một Đức Giêsu đang sống, trong Thánh Thần, và trong cuộc đời của tôi, của anh; một Đức Giêsu đang hẹn gặp chúng tai ở vùng đất Galilê của dân ngoại.
II. Tầm mức của giao ước
Thiên Chúa muốn cứu độ con người, đó là một huyền nhiệm mà con người không sao hiểu thấu. Hơn nữa, cách thức Thiên Chúa thực hiện ơn cứu độ của Ngài lại càng là một điều mà con người khó có thể hiểu được. Thiên Chúa cứu độ con người không phải như một người bố thí ơn phước, và không bao giờ biến con người thành kẻ ăn xin ơn thánh. Thiên Chúa cứu độ con người như một "Đấng có trách nhiệm" và Ngài chờ đợi con người cũng thể hiện tự do và trách nhiệm của mình. Tất cả những điều ấy được thực hiện trong huyền nhiệm giao ước giữa Thiên Chúa với con người.
Kitô giáo là đạo Giao Ước, điều đó cho thấy đời sống Kitô giáo không phải là một đời sống dựa theo một bộ luật vô hồn, một lẽ khôn ngoan vô ngã, nhưng là sống trong mối tương quan chặt chẽ với Thiên Chúa. Ý nghĩa giao ước bao hàm toàn bộ đời sống Kitô giáo mà ta có thể thấy thể hiện trong các bí tích và trong đời sống cầu nguyện Kitô giáo.
1. Bí tích Kitô giáo
Bí tích Kitô giáo thường được định nghĩa là : “Những dấu chỉ hữu hình để thông ban ơn sủng vô hình”; hoặc “Những dấu chỉ hữu hình để thông ban ơn sủng của Thiên Chúa”. Định nghĩa như thế có vẻ như đặt con người vào trong mối liên hệ với một thứ ân huệ “vô ngã”, máy móc, thiếu tính chất của một mối tương quan hiện sinh.
Tất cả mọi bí tích đều là tái hiện một giao ước hiện sinh giữa hai chủ thể. Trong mỗi bí tích, Thiên Chúa nhìn tới con người, nhìn tới điều gì đang xẩy ra trong con người ấy và trong cuộc sống của con người ấy. Chẳng hạn trong bí tích hôn nhân, Đức Giêsu lại tiếp tục chịu chết và Phục Sinh để nói lên rằng ngài cùng liên đới với cô dâu chú rể về tình yêu của hai người, về mái ấm gia đình của hai người…; trong bí tích Thánh Thể, chính Chúa Giêsu chịu chết và phục sinh cho những mảnh đời được dâng lên qua tấm bánh và chén rượu…
Tất cả những lần tái hiện giao ước qua các bí tích như thế đều đặt nền trên giao ước căn bản là giao ước Thánh Tẩy, tức việc con người chấp nhận chịu chết trọn vẹn, chết cho đời sống và vận mạng của mình để sống một đời sống mới thuộc hoàn toàn về Chúa, có liên đới trọn vẹn với Chúa; về phía Thiên Chúa, Ngài cho Con của Ngài chịu chết để cam kết bằng máu rằng Ngài không bỏ rơi con người. Trên nền tảng của một sự liên đới trách nhiệm cách trọn vẹn như thế, Chúa sẽ tiếp tục đồng hành với ta trên từng bước đường đời, qua những bí tích cứu độ.
Với cái nhìn về bí tích Kitô giáo trong mối tương quan ngôi vị, trong những khía cạnh cứu độ hiện sinh hơn, ta có thể nói rằng : bí tích là việc Đức Giêsu Kitô chịu chết và sống lại cho những vấn đề cụ thể của cuộc sống con người, được cử hành cách biểu tượng, nhưng là biểu tượng tái hiện thực tại.
Như thế, bí tích Kitô giáo không phải là một chiếc máy ban ơn, ban những ơn như nhau và cho mọi người đến xin đúng cách. Ngược lại, bí tích Kitô giáo là nhắc lại giao ước của mỗi người [trong Bí Tích phổ quát là Giáo Hội] với Thiên Chúa. Mỗi bí tích đều hàm chứa ý nghĩa chính yếu là : Chúa Giêsu lại một lần nữa chịu chết và phục sinh cho “vấn đề” của anh/chị để thể hiện giao ước mà Ngài và anh/chị đã ký kết với nhau.
2. Giao ước với “ngôi vị” con người
Trong 07 bí tích Kitô giáo, bao trùm toàn bộ những thực tại nhân sinh, ta thấy có những bí tích trực tiếp gắn liền với bản vị mỗi người, gắn liền với ngôi vị của một con người : bí tích Thánh Tẩy là việc Thiên Chúa nhận một con người làm con của của Ngài trong Đức Kitô; bí tích Thêm Sức là việc Thiên Chúa hứa ban Thánh Thần ở cùng một con người trong những trách nhiệm được trao phó; bí tích Truyền chức là việc Thiên Chúa cam kết chọn một người nào đó để thi hành tác vụ linh mục thừa tác. Một khi cam kết, Thiên Chúa không bao giờ rút lại lời cam kết của mình; do đó nếu Ngài đã cam kết với một ngôi vị nào, Ngài không bao giờ phá hủy lời cam kết với con người ấy.
Điều này thường được trình bầy một cách “mầu nhiệm” như là những ấn tích do Thiên Chúa ghi khắc trong tâm hồn con người và chỉ cử hành một lần mà thôi. Tuy nhiên, ta có thể thấy được một ý nghĩa khác của “ấn tích”, đó là việc Thiên Chúa, một khi đã tuyển lựa một con người, giao ước với một ngôi vị con người, thì về phía Ngài, Thiên Chúa sẽ không bao giờ rút lại. Điều này diễn tả một sự dứt khoát về phía Thiên Chúa. Một khi đã ký giao ước bằng chính việc Đức Giêsu Kitô chịu chết và Phục Sinh, thì Ngài chấp nhận con người ấy tới cùng, tin tưởng con người ấy tới cùng, hy vọng vào con người ấy đến cùng.
Nếu Thiên Chúa có tuyển chọn tôi là con của Ngài qua bí tích Thánh Tẩy, thì đối với Ngài, tôi mãi mãi là con của Ngài, dù tôi có tội lỗi đến đâu đi nữa; cũng vậy, nếu Thiên Chúa đã giao ước trao ban Thánh Thần cho tôi qua bí tích Thêm Sức, thì Thánh Thần của Ngài vẫn chờ đợi để trợ giúp tôi trong những trách nhiệm mà Ngài đã trao phó cho tôi; nếu Ngài đã chọn tôi làm linh mục, thì dù tôi có tệ hại đến đâu, Ngài vẫn trao ban quyền cử hành bí tích cứu độ cho tôi [khía cạnh thành sự].
Điều này quả thực là một nền tảng vững chắc để con người có thể vững lòng trông cậy nơi Thiên Chúa trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
3. Đảm nhận những vấn đề trong đời sống con người
Với những bí tích khác, chúng ta thấy Thiên Chúa giao ước lo toan cùng với con người về những sự việc xẩy ra trong đời sống : tội lỗi [Sám Hối], bệnh tật [Xức Dầu], tình yêu gia đình [hôn phối] và tất cả mọi vấn đề khác, từ những chuỵên nhỏ nhất cho đến những chuyện quan trọng nhất [Thánh Thể].
Khi mỗi bí tích được cử hành, thì Thiên Chúa lại tỏ lòng yêu thương con người bằng cách cho Con của Ngài chịu chết và Phục Sinh, để nhắc lại lời giao ước Thiên Chúa ở cùng con người cho đến tận thế.
Như thế, với lòng tin, bí tích là một nguồn cậy trông cho con người trên mọi bước đường đời. Mỗi khi cử hành bi tích, Thiên Chúa và con người cùng “nhắc lại” lời giao ước, cùng “hâm nóng” lên lòng tin tưởng, tình yêu và niềm hy vọng vào nhau. Qua các bí tích, Chúa Giêsu luôn là người bạn đồng hành với con người, Ngài tỏ bầy ơn cứu độ cho con người, trước hết, bằng việc cam kết liên đới với con người bằng cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Người.
Ơn cứu độ như thế không làm cho con người ỷ lại vào Thiên Chúa, cũng không phải là một thứ tương quan tôi tớ với chủ, làm cho con người trở nên hèn hạ, khiếp sợ và mưu tính lợi lộc một cách khôn khéo.
Kết
Từ căn bản, các bí tích là nguồn mạch chính yếu của đời sống Kitô hữu. Tuy nhiên, chính vì sợ hãi những tư tưởng “không chính thống” của anh em Tin Lành trong thế kỷ XVI, mà việc cử hành bí tích đã dần dần trở nên những khuôn khổ cứng nhắc và mất mối liên hệ với cuộc sống.
Việc trở về với nguồn mạch bí tích có thể giúp chúng ta nhận ra đường lối cứu độ của Thiên Chúa dành cho những người nghèo, tức những người đang phải sống thật với cuộc đời mình, đang phải đương đầu với bể khổ của đời người. Thiên Chúa đã không muốn lôi con người ra khỏi cuộc sống cách dễ dàng, những muốn con người đảm nhận cuộc sống thật của mình; và chính trong cuộc sống ấy, con người tìm thấy ơn cứu độ đã khởi đầu, đang trở nên viên mãn, con người nhìn thấy ánh sáng cuộc chiến thắng của chính mình nhờ tình yêu thương của Chúa Giêsu.
Sống các bí tích cứu độ
* Suy niệm Tin Mừng Lc 22,19-20 :
“Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói : “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy. Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và nói : “chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em”
1. Tầm mức của giao ước
Thiên Chúa muốn cứu độ con người, đó là một huyền nhiệm mà con người không sao hiểu thấu. Hơn nữa, cách thức Thiên Chúa thực hiện ơn cứu độ của Ngài lại càng là một điều mà con người khó có thể hiểu được. Thiên Chúa cứu độ con người không phải như một người bố thí ơn phước, và không bao giờ biến con người thành kẻ ăn xin ơn thánh. Thiên Chúa cứu độ con người như một "Đấng có trách nhiệm" và Ngài chờ đợi con người cũng thể hiện tự do và trách nhiệm của mình. Tất cả những điều ấy được thực hiện trong giao ước của Thiên Chúa với con người.
Kitô giáo là đạo Giao Ước, điều đó cho thấy đời sống Kitô giáo không phải là một đời sống dựa theo một bộ luật vô hồn, một lẽ khôn ngoan vô ngã, nhưng là sống trong mối tương quan chặt chẽ với Thiên Chúa. Ý nghĩa giao ước bao hàm toàn bộ đời sống Kitô giáo mà ta có thể thấy thể hiện trong các bí tích và trong đời sống cầu nguyện Kitô giáo.
2. Bí tích Kitô giáo
Bí tích Kitô giáo thường được định nghĩa là : “Những dấu chỉ hữu hình để thông ban ơn sủng vô hình”; hoặc “Những dấu chỉ hữu hình để thông ban ơn sủng của Thiên Chúa”. Định nghĩa như thế có vẻ như đặt con người vào trong mối liên hệ với một thứ ân huệ “vô ngã”, máy móc, thiếu tính chất của một mối tương quan hiện sinh.
Tất cả mọi bí tích đều là tái hiện một giao ước hiện sinh giữa hai chủ thể. Trong mỗi bí tích, Thiên Chúa nhìn tới con người, nhìn tới điều gì đang xẩy ra trong con người ấy và trong cuộc sống của con người ấy. Chẳng hạn trong bí tích hôn nhân, Đức Giêsu lại tiếp tục chịu chết và Phục Sinh để nói lên rằng ngài cùng liên đới với cô dâu chú rể về tình yêu của hai người, về mái ấm gia đình của hai người…; trong bí tích Thánh Thể, chính Chúa Giêsu chịu chết và phục sinh cho những mảnh đời được dâng lên qua tấm bánh và chén rượu…
Tất cả những lần tái hiện giao ước qua các bí tích như thế đều đặt nền trên giao ước căn bản là giao ước Thánh Tẩy, tức việc con người chấp nhận chịu chết trọn vẹn, chết cho đời sống và vận mạng của mình để sống một đời sống mới thuộc hoàn toàn về Chúa, có liên đới trọn vẹn với Chúa; về phía Thiên Chúa, Ngài cho Con của Ngài chịu chết để cam kết bằng máu rằng Ngài không bỏ rơi con người. Trên nền tảng của một sự liên đới trách nhiệm cách trọn vẹn như thế, Chúa sẽ tiếp tục đồng hành với ta trên từng bước đường đời, qua những bí tích cứu độ.
Với cái nhìn về bí tích Kitô giáo trong mối tương quan ngôi vị, trong những khía cạnh cứu độ hiện sinh hơn, ta có thể nói rằng : bí tích là việc Đức Giêsu Kitô chịu chết và sống lại cho những vấn đề cụ thể của cuộc sống con người, được cử hành cách biểu tượng, nhưng là biểu tượng tái hiện thực tại.
Như thế, bí tích Kitô giáo không phải là một chiếc máy ban ơn, ban những ơn như nhau và cho mọi người đến xin đúng cách. Ngược lại, bí tích Kitô giáo là nhắc lại giao ước của mỗi người [trong Bí Tích phổ quát là Giáo Hội] với Thiên Chúa. Mỗi bí tích đều hàm chứa ý nghĩa chính yếu là : Chúa Giêsu lại một lần nữa chịu chết và phục sinh cho “vấn đề” của anh/chị để thể hiện giao ước mà Ngài và anh/chị đã ký kết với nhau.
2.1 Giao ước với “ngôi vị” con người
Trong 07 bí tích Kitô giáo, bao trùm toàn bộ những thực tại nhân sinh, ta thấy có những bí tích trực tiếp gắn liền với bản vị mỗi người, gắn liền với ngôi vị của một con người : bí tích Thánh Tẩy là việc Thiên Chúa nhận một con người làm con của của Ngài trong Đức Kitô; bí tích Thêm Sức là việc Thiên Chúa hứa ban Thánh Thần ở cùng một con người trong những trách nhiệm được trao phó; bí tích Truyền chức là việc Thiên Chúa cam kết chọn một người nào đó để thi hành tác vụ linh mục thừa tác. Một khi cam kết, Thiên Chúa không bao giờ rút lại lời cam kết của mình; do đó nếu Ngài đã cam kết với một ngôi vị nào, Ngài không bao giờ phá hủy lời cam kết với con người ấy.
Điều này thường được trình bầy một cách “mầu nhiệm” như là những ấn tích do Thiên Chúa ghi khắc trong tâm hồn con người và chỉ cử hành một lần mà thôi. Tuy nhiên, ta có thể thấy được một ý nghĩa khác của “ấn tích”, đó là việc Thiên Chúa, một khi đã tuyển lựa một con người, giao ước với một ngôi vị con người, thì về phía Ngài, Thiên Chúa sẽ không bao giờ rút lại. Điều này diễn tả một sự dứt khoát về phía Thiên Chúa. Một khi đã ký giao ước bằng chính việc Đức Giêsu Kitô chịu chết và Phục Sinh, thì Ngài chấp nhận con người ấy tới cùng, tin tưởng con người ấy tới cùng, hy vọng vào con người ấy đến cùng.
Nếu Thiên Chúa có tuyển chọn tôi là con của Ngài qua bí tích Thánh Tẩy, thì đối với Ngài, tôi mãi mãi là con của Ngài, dù tôi có tội lỗi đến đâu đi nữa; cũng vậy, nếu Thiên Chúa đã giao ước trao ban Thánh Thần cho tôi qua bí tích Thêm Sức, thì Thánh Thần của Ngài vẫn chờ đợi để trợ giúp tôi trong những trách nhiệm mà Ngài đã trao phó cho tôi; nếu Ngài đã chọn tôi làm linh mục, thì dù tôi có tệ hại đến đâu, Ngài vẫn trao ban quyền cử hành bí tích cứu độ cho tôi [khía cạnh thành sự].
Điều này quả thực là một nền tảng vững chắc để con người có thể vững lòng trông cậy nơi Thiên Chúa trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
2.2 Giao ước với những sự việc xẩy ra trong đời sống con người
Với những bí tích khác, chúng ta thấy Thiên Chúa giao ước lo toan cùng với con người về những sự việc xẩy ra trong đời sống : tội lỗi [Sám Hối], bệnh tật [Xức Dầu], tình yêu gia đình [hôn phối] và tất cả mọi vấn đề khác, từ những chuỵên nhỏ nhất cho đến những chuyện quan trọng nhất [Thánh Thể].
Khi mỗi bí tích được cử hành, thì Thiên Chúa lại tỏ lòng yêu thương con người bằng cách cho Con của Ngài chịu chết và Phục Sinh, để nhắc lại lời giao ước Thiên Chúa ở cùng con người cho đến tận thế.
Như thế, với lòng tin, bí tích là một nguồn cậy trông cho con người trên mọi bước đường đời. Mỗi khi cử hành bi tích, Thiên Chúa và con người cùng “nhắc lại” lời giao ước, cùng “hâm nóng” lên lòng tin tưởng, tình yêu và niềm hy vọng vào nhau. Qua các bí tích, Chúa Giêsu luôn là người bạn đồng hành với con người, Ngài tỏ bầy ơn cứu độ cho con người, trước hết, bằng việc cam kết liên đới với con người bằng cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Người.
Ơn cứu độ như thế không làm cho con người ỷ lại vào Thiên Chúa, cũng không phải là một thứ tương quan tôi tớ với chủ, làm cho con người trở nên hèn hạ, khiếp sợ và mưu tính lợi lộc một cách khôn khéo.
Từ căn bản, các bí tích là nguồn mạch chính yếu của đời sống Kitô hữu. Tuy nhiên, chính vì sợ hãi những tư tưởng “không chính thống” của anh em Tin Lành trong thế kỷ XVI, mà việc cử hành bí tích đã dần dần trở nên những khuôn khổ cứng nhắc và mất mối liên hệ với cuộc sống.
Việc trở về với nguồn mạch bí tích có thể giúp chúng ta nhận ra đường lối cứu độ của Thiên Chúa dành cho những người nghèo, tức những người đang phải sống thật với cuộc đời mình, đang phải đương đầu với bể khổ của đời người. Thiên Chúa đã không muốn lôi con người ra khỏi cuộc sống cách dễ dàng, những muốn con người đảm nhận cuộc sống thật của mình; và chính trong cuộc sống ấy, con người tìm thấy ơn cứu độ đã khởi đầu, đang trở nên viên mãn, con người nhìn thấy ánh sáng cuộc chiến thắng của chính mình nhờ tình yêu thương của Chúa Giêsu.
* Gợi ý suy niệm
- Bạn đã bao giờ thất vọng chán nản ?
- Đời sống đạo, cụ thể các bí tích, có nuôi dưỡng tâm hồn của bạn chưa ?
* Bí tích không phải chỉ là "dấu chỉ hữu hình ban ơn sủng vô hình"; nhưng đùng hơn là mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô chịu chết và sống lại cho mỗi mảnh đời. Bí tích sẽ trở nên biểu tượng rỗng, khi mà người ta chỉ còn thấy nghi thức mà không thấy "mảnh đời" được hội nhập vào cuộc tử nạn và phục sinh của Đức Kitô.
Chú thích:
[1] Chúng ta cũng có thể hiểu tính “bất khả phân ly” của bí tích Hôn Phối trong chiều hướng ấn tích. Giao ước hôn nhân cũng chính là một giao ước giữa hai ngôi vị với nhau, tiếp nối tình yêu giữa Chúa Kitô và Giáo Hội, nên nó cũng là một sự chấp nhận dứt khoát không rút lại, cho tới khi một người qua đời.
[2] Chúng ta cũng có thể hiểu tính “bất khả phân ly” của bí tích Hôn Phối trong chiều hướng ấn tích. Giao ước hôn nhân cũng chính là một giao ước giữa hai ngôi vị với nhau, tiếp nối tình yêu giữa Chúa Kitô và Giáo Hội, nên nó cũng là một sự chấp nhận dứt khoát không rút lại, cho tới khi một người qua đời.