Từ những biểu hiện của tình trạng đạo đức hiện nay, cần trở lại với vấn đề bản chất con người - Phần 1

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Việt Nam đang bước vào giai đoạn hiện đại hóa – công nghiệp hoá đất nước để theo kịp các nền kinh tế trong khu vực; và để, không có cách nào khác, đi vào tiến trình toàn cầu hoá của cả hành tinh. Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế như thế không thể không kéo theo nhiều biến đổi khác, trong đó có sự biến đổi về đạo đức. Trong thời gian gần đây, đất nước Việt Nam đang phải đối diện với nhiều tệ nạn xã hội, hoặc do chính cơ chế kinh tế thị trường; hoặc do việc du nhập nhiều phong cách sống của các nước tư bản; hoặc do những nền tảng “văn hoá xã hội” đã không còn thích hợp nữa trong tình hình mới : tham nhũng, ma tuý, ăn chơi xa sỉ, phung phí, đua xe, thanh thiếu niên đua đòi tại các vũ trường, hiện tượng thanh niên sau giờ, thanh niên lao vào các trang xấu trên Internet....

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Bài này được viết nhân một buổi nói chuyện tại số 43 Nguyễn Thông, vào khoảng năm 2004, với những dữ kiện xã hội của thời kỳ ấy. Tuy nhiên, có lẽ tình trạng xã hội và những ý nghĩa ấy vẫn còn đúng trong giai đoạn hiện nay, nên tôi lấy lại bài viết cũ, sửa đổi chút ít, và gửi đến anh chị em như một tài liệu đọc thêm. NTV

Việt Nam đang bước vào giai đoạn hiện đại hóa – công nghiệp hoá đất nước để theo kịp các nền kinh tế trong khu vực; và để, không có cách nào khác, đi vào tiến trình toàn cầu hoá của cả hành tinh. Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế như thế không thể không kéo theo nhiều biến đổi khác, trong đó có sự biến đổi về đạo đức. Trong thời gian gần đây, đất nước Việt Nam đang phải đối diện với nhiều tệ nạn xã hội, hoặc do chính cơ chế kinh tế thị trường; hoặc do việc du nhập nhiều phong cách sống của các nước tư bản; hoặc do những nền tảng “văn hoá xã hội” đã không còn thích hợp nữa trong tình hình mới : tham nhũng, ma tuý, ăn chơi xa sỉ, phung phí, đua xe, thanh thiếu niên đua đòi tại các vũ trường, hiện tượng thanh niên sau 0 giờ, thanh niên lao vào các trang xấu trên Internet....

Bên dưới tất cả những hiện tượng tiêu cực nổi cộm trong xã hội hiện nay, chúng ta có thể thấy một tình trạng sâu xa hơn : suy thoái giá trị đạo đức mà mức độ của nó có thể nói là một sự khủng hoảng. Hoàn cảnh mới của tình hình kinh tế thị trường vừa cho thấy giá trị đạo đức trong thời kỳ bao cấp trước đây đã không còn đủ, không còn thích hợp cho tình hình mới; đồng thời, cũng cho thấy những quan niệm căn bản của một nền triết học đang chi phối xã hội chúng ta không đủ hay ít là không toàn diện để có thể “đồng hành” cùng dân tộc trong quá trình lịch sử của mình.

Trong những năm gần đây, đã có nhiều tiếng hô báo động về tình trạng đạo đức xuống cấp và chúng ta thấy có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau : giá trị truyền thống Việt Nam, lối sống tôn thờ thần tượng, mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và đạo đức gia đình truyền thống, sự phân hoá giầu nghèo, vai trò của luật pháp, mối tương quan giữa lý trí và tình cảm . . . Quả thật vấn đề đạo đức là một vấn đề sống còn của xã hội Việt Nam hiện nay trên bước đường hiện đại hoá - công nghiệp hoá đất nước; và đây là một thách thức đối với những nhà nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu triết học, trong trách nhiệm xây dựng đất nước.

1. Nhận định tình hình cụ thể

1.1 Xã hội truyền thống và xã hội hiện đại hoá công nghiệp hóa

Khái niệm hiện đại hóa, theo ngôn ngữ đời thường, được hiểu là sự trang bị những máy móc hiện đại với kỹ thuật cao. Nhưng thật ra, ý nghĩa của từ hiện đại hoá, xuất hiện vào cuối những năm 50, đầu những năm 60 của thế kỷ XX, có ý nghĩa triết học xã hội và bao hàm một nội dung rộng lớn hơn nhiều. Hiện đại hoá là bước biến chuyển từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại.

Xã hội truyền thống có những nét đặc trưng như sau:

- Về phương diện sản xuất : đó là một xã hội nông nghiệp, sử dụng lực lượng sản xuất tự nhiên, năng suất chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu thường ngày, tự cung tự cấp;

- Về phương diện tiến bộ : xã hội truyền thống vận động theo chu kỳ lập đi lập lại, trong đó yếu tố truyền thống bao giờ cũng quan trọng hơn và có ưu thế hơn những nhân tố mới;

- Về phương diện tương quan xã hội : các quan hệ trong xã hội truyền thống đề cao tính cộng đồng, làng xã, huyết thống; mang tính chất “sự đồng nhất nhóm” (công xã, làng, dòng họ . . .); trong đó cá nhân luôn phải phụ thuộc vào tập thể . . .

Nét tinh thần được đề cao là đạo đức truyền thống, cá nhân không được nhìn nhận và cảm thông trong hoàn cảnh riêng, nhưng phải chấp nhận những nguyên tắc đạo đức, quan hệ ứng xử, trật tự thứ bậc của đời sống cộng đồng. Nói chung là các yếu tố quyền bính, kinh tế, chính trị, tôn giáo gắn chặt thành một khối không phân chia.

Trong khi đó, những nét tiêu biểu của xã hội hiện đại là:

Công nghiệp và thương nghiệp chiếm ưu thế so với nông nghiệp. Ngay nông nghiệp cũng đã được công nghiệp hoá và đạt đến trình độ kỹ thuật cao. Công nghiệp trở thành xương sống của nền sản xuất xã hội cùng với những hiện tượng liên hệ : cụm dân cư mới, trường dạy nghề, quan hệ hàng hoá, tiền tệ, thị trường . . .

Tính chất “chu trình” lặp đi lập lại của đời sống truyền thống bị đẩy lùi và được thay thế bằng tính biến đổi, mới mẻ, sáng tạo. Trong lãnh vực kinh tế, nền sản xuất của xã hội công nghiệp là nền tái sản xuất mở rộng và tích luỹ thặng dư. Đời sống xã hội được điều chỉnh chủ yếu bằng những yếu tố mới. Xã hội hiện đại khuyến khích những sáng kiến, nhạy bén với thị trường, gia tăng sáng tạo để đạt hiệu năng, thích ứng với những biến đổi mau lẹ.

Về phương diện quan hệ xã hội, yếu tố phân quyền và chuyên môn hoá là nét đặc trưng; mỗi người không tìm cách tồn tại theo kiểu “tự cung tự cấp”, nhưng tìm cách nâng cao tay nghề chuyên môn của mình. Nhờ việc phân quyền và chuyên môn hóa, con người có nhiều quan hệ gián tiếp và ít lệ thuộc hơn các cộng đồng phân cấp, các quan hệ hàng dọc. Đời sống hiện đại hóa có một mạng lưới các “quan hệ hàng ngang” chằng chịt.

Trong xã hội hiện đại, vai trò cá nhân được hình thành và được tôn trọng. Mỗi cá nhân có thể tự “bứt phá” những hệ thống phân cấp để lao vào cuộc “chạy đua xã hội”. Tính thụ động, tính đồng nhất nhóm không còn là yếu tố chính; nhưng tính cá nhân, độc lập càng ngày càng được đề cao. Tinh thần cầu tiến, cung cách làm việc hiệu năng, có chuyên môn cao . . dần dần trở thành những yếu tố “cạnh tranh” với tinh thần chỉ đề cao đạo đức cũng như “nề nếp gia phong”.

Tóm lại, xã hội hiện đại hoá là xã hội đang chuyển biến từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại mà yếu tố công nghiệp hoá là yếu tố nổi bật. Công nghiệp hoá là tiêu chuẩn để phân định “xã hội truyền thống” và “xã hội hiện đại”. Có thể nói công nghiệp hóa là chuẩn mực công nghệ – kỹ thuật, trên đó nẩy sinh những tiêu chuẩn khác trong toàn bộ cơ cấu xã hội.

1.2 Nền đạo đức nước ta thời kỳ hiện đại hoá công nghiệp hóa

Sự biến đổi mau lẹ của nền kinh tế công nghiệp ở nước ta đã mang lại nhiều thành quả, cả về mức sống của dân chúng cũng như trong thái độ “đạo đức”. Đó là điều không ai có thể chỗi cãi: số hộ nghèo giảm đi, cung cách làm việc trì trệ bị phê phán, thói đạo đức giả càng ngày càng lộ rõ bộ mặt xấu xa; ngay các người thành đạt trong xã hội cũng được kêu gọi để sống tinh thần tương trợ nhiều hơn so với thái độ dửng dưng ỉ lại vào nhà nước của thời kỳ bao cấp. . . Tuy nhiên, những hệ quả xấu của bước biến chuyển này cũng là điều ai cũng có thể nhận thấy, đặc biệt là sự sa sút về nhiều phương diện đạo đức trong đời sống thường ngày, được phản ảnh trên mặt báo mỗi ngày. Nền kinh tế thị trường đang làm chao đảo nhiều giá trị tinh thần nói chung giá trị đạo đức nói riêng và người ta nói nhiều đến sự xuống dốc của nền đạo đức. Chỉ riêng qua báo chí thôi, chúng ta cũng nhận ra những hiện tượng báo động về sự giảm sút đạo đức trong mọi khía cạnh căn bản của đời sống xã hội.

Trước hết, trong phạm vi gia đình, chúng ta nhận thấy có nhiều triệu chứng của một sự khủng hoảng. Gia đình, cùng với nền giáo dục gia đình, luôn là nền tảng của đời sống xã hội. Gia đình là nơi cung cấp nền giáo dục đầu tiên và căn bản cho một con người. Vì thế, nếu “gia giáo” bị bỏ quên thì người ta sẽ phải hứng chịu những hậu quả, chẳng những trong chính gia đình, nhưng còn trong mức độ toàn xã hội. Hiện nay, chúng ta thấy có tình trạng các bậc cha mẹ lao vào đời sống kinh tế, coi việc thăng tiến địa vị xã hội là quan trọng hơn đời sống gia đình. Tình trạng và buông lỏng việc giáo dục con cái không còn là điều hiếm thấy. Vẫn có nhiều bậc làm cha mẹ cho rằng việc giáo dục là của nhà trường và tự bào chữa cho mình bằng sự bận rộn của công việc; tự giới hạn trách nhiệm của mình trong việc cung cấp cho con cái những phương tiện vật chất. Từ đó, chúng ta thấy tình trạng đổ vỡ trong đời sống hôn nhân càng ngày càng tăng, để lại những hậu quả nặng nề cho những tâm hồn trẻ thơ và thanh thiếu niên. Tình trạng con cái hành hung cha mẹ, anh em từ bỏ nhau, kiện tụng và tranh giành phần gia sản . . . cũng cho thấy sự khủng hoảng nề nếp gia đình.

Trong phạm vi nhà trường, hiện trạng đạo đức cũng cần phải lên tiếng báo động. Căn bệnh chạy theo thành tích đã phá huỷ tất cả mọi nỗ lực cải tổ, mọi chương trình cải tổ. Thậm chí, ngay các nhà giáo dục đã không còn giữ được phẩm chất của mình (chạy theo thành tích, đôi khi còn “nhũng nhiễu” học sinh trong việc thu nhận học sinh, dạy thêm, học hè. . . .) thì sự xuống cấp nói chung của tình trạng giáo dục và của học sinh nói riêng, có thể nói, là một hệ quả tất yếu. Tác giả Mạc Lâm kể ra “Thập nạn” trong sinh viên như sau :

“Tiêu cực trong thi cử, cờ bạc, quan hệ tình dục phóng túng, mê tín dị đoạn, uống rượu say, nghiện hút, cắm quán, trộm cướp, ham mê văn hoá phẩm đồi truỵ, vô kỷ luật, mất trật tự vệ sinh, đua đòi, chạy theo lối sống tiêu dùng”.

Cùng với ngành giáo dục, ngành y tế vẫn được coi là biểu tượng đặc biệt của giá trị nhân văn; nhưng ngành y gần đây lại bị vạch trần và lộ ra những cung cách “bất nhân” : việc kê toa theo sự thúc bách của trình dược viên và những mập mờ của cơ quan chuyên trách làm tăng giá thuốc một cách “bóc lột”. . . Thật sự đó không phải là chuyện mới có, nhưng là những chuyện mới bị tiết lộ. Dù có nhiều tiếng nói biện minh cho rằng chỉ một bộ phận nhỏ trong ngành y đã làm “rầu nồi canh”; nhưng thực sự hầu hết người dân đều từng đến các bệnh viện, các cơ sở y tế đều đã được thấy, không phải là ít, những hiện tượng tiêu cực nơi những người mang danh là “lương y như từ mẫu”.

Trong phạm vi kinh tế, ta có thể thấy quá nhiều những sai phạm qui tắc tài chính trong mọi lãnh vực sản xuất, kinh doanh, ngân hàng, xây dựng, dầu khí, nông nghiệp, thể dục thể thao, điện lực, giao thông . . . Tác động của động tiền đã thúc đẩy những tệ nạn tham ô, buôn lậu, buôn bán ma tuý, mại dâm . . . nhưng nguy hiểm hơn là nó còn làm cho nhiều chiến sĩ anh hùng trên mặt trận bom đạn bị quỵ ngã. Vì đồng tiền, nhiều người chà đạp danh dự, bán rẻ tình nghĩa gia đình, bán rẻ cả nhân phẩm . . .

Trong phạm vi văn hóa, chúng ta thấy một sự yếu kém trong bản lĩnh văn hoá, yếu kém trong năng lực “nội sinh”. Do đó, phim ảnh, thời trang, đồ dùng của các nước khác đã có thể xâm nhập tràn lan và tác hại nguy hiểm đến sự ổn định tinh thần và xã hội. Tình trạng coi nhẹ giá trị truyền thống, sùng bái phong thái nước ngoài, đã dẫn tới hàng loạt các vi phạm thuần phong mỹ tục và những giá trị tinh thần căn bản của dân tộc. Lối sống cá nhân ích kỷ trở thành một điều bình thường của những người “chịu chơi” và “tiến bộ”.

Ngành công an và hải quan là những lãnh vực mà việc mua quan bán chức nhằm kiếm được những chỗ làm có nhiều thu nhập bất chính đã trở thành điều thường lệ, ai cũng biết và người dân dễ dàng kiểm nghiệm được trong sinh hoạt thường ngày. Báo chí đã phanh phui, không phải chỉ là những sai phạm ngẫu nhiên của một vài thành phần, nhưng có nhiều dấu hiệu cho thấy đây là những sai phạm của cả một nhóm, một hệ thống, dính dáng đến nhiều người, ngay cả những thành phần lãnh đạo cao cấp.

Trong phạm vi toàn xã hội, người ta thấy tình hình tội phạm hình sự càng ngày càng gia tăng và đang ở mức độ nghiêm trọng. Có một số tội danh mới nguy hiểm như : khủng bố cá nhân, tống tiền, bắt cóc trẻ em, buôn bán phụ nữ, buôn bán chất nổ, chất ma tuý với số lượng lớn, tổ chức xã hội đen, đâm thuê chém mướn, môi giới mạn dâm…. Tình hình phụ nữ phạm tội và các vụ tôi phạm do người chưa thành niên thực hiện có chiều hướng gia tăng. Một số các thanh thiếu niên rơi vào lối sống bạo lực, phi nhân tính.

Đặc biệt, tình trạng biến chất, xuống cấp về đạo đức biểu lộ trong việc chính những cơ quan chuyên trách đã có những vi phạm nghiêm trọng trong trách nhiệm đặc biệt được nhân dân trao phó: cán bộ chống ma túy lại đi buôn bán ma tuý, cán bộ hành chánh nhũng nhiễu người dân,…

Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VIII xác nhận :

“Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng bản thân, phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, sa đoạ về đạo đức và lối sống”.

Tóm lại, những biểu hiện về sự xuống cấp của tình trạng đạo đức thể hiện ở mọi lãnh vực : trong đảng và quần chúng, trong những cơ quan chức năng và những ngành nghề khác nhau; người lớn tuổi và giới trẻ. Đặc biệt, chúng ta thấy đáng buồn với sự xuống cấp đạo đức của hai ngành nghề cao quí diễn tả tâm hồn và lương tri của bản chất người, đó là ngành giáo dục và y tế.

2. Nỗ lực giải thích khủng hoảng đạo đức

2.1 Theo xã hội học

Sự khủng hoảng xuất hiện như một hậu quả của sự thay đổi đột ngột mà quá trình đang diễn ra bình thường không thích ứng được. Trong sự khủng hoảng, ta ghi nhận hai yếu tố chính: - sự thay đổi - và khả năng chống đỡ.

Khi sự thay đổi có tính cấu trúc, tức là thay đổi toàn bộ cơ cấu và những nguyên lý chi phối, thì đó là một sự thay đổi toàn diện, chẳng hạn như một cuộc cách mạng, thì sẽ gây nên một sự biến dạng căn bản toàn bộ kiến trúc, gồm cả pháp luật, đạo đức, những khái niệm căn bản của cuộc sống và các hệ thống khác. Trong sự khủng hoảng toàn diện này, không có yếu tố nào có khả năng chống đỡ, không một lực lượng nào đủ lớn để thể hiện như một lực đối trọng cân bằng. Trong khi đó, sự thay đổi cục bộ thì lại khác, những yếu tố căn bản vẫn còn, vẫn có một sức mạnh có khả năng trụ lại để giữ những biến đổi khác. Chỉ có sự thay đổi căn bản mà không có lực lượng đối trọng cân bằng nào có khả năng chống đỡ thì mới gọi là khủng hoảng.

Người ta có thể tính toán về một sự khủng hoảng lớn hay nhỏ bằng cách đo độ sâu, độ lớn, tốc độ thay đổi, sự không cân bằng cả về số lượng lẫn chất lượng, ảnh hưởng trên xã hội và điều sau cùng, nhưng không phải là điều nhỏ nhất, là chính khả năng chống đỡ của các thành viên trong xã hội. Người ta có thể phân biệt một sự khủng hoảng do quá trình thay đổi để phát triển hay một sự khủng hoảng do mất định hướng; khủng hoảng do mất định hướng hay do mất năng lực; khủng hoảng do thiếu phương tiện hay thiếu khả năng. . . .

Giáo sư Trần Văn Đoàn nêu lên một vài nét căn bản của khủng hoảng đạo đức như sau :

1/ Khủng hoảng đạo đức được hiểu như là sự suy thoái của quyền lực nhằm duy trì các trật tự trong thực tại, hay nói rõ hơn, đó là khả năng đối phó với những vấn đề liên quan đến con người. Khủng hoảng đạo đức phản ảnh sự suy thoái của năng lực con người trong nhận thức và lựa chọn cái tốt, cái đúng để thực hiện hành vi của mình phù hợp chuẩn mực xã hội.

2/ Khủng hoảng đạo đức thường xuất hiện dưới dạng “mất định hướng”, “mất ý nghĩa cuộc sống”; đó là một sự hụt hẫng đột ngột trong tập quán do tiếp cận với quá trình hiện đại hoá : khủng hoảng tự thân, bất đồng với cách thức suy nghĩ và sinh hoạt của một nhóm người nào đó.

3/ Khủng hoảng đạo đức thể hiện tính tự thân qua quá trình giao thoa không bình thường. Nó trái với các ứng xử thông thường trong các tình huống xảy ra, nó được cảm nhận theo chiều hướng khác, được xử lý bằng một phương pháp sai lầm, một lối sống khó chấp nhận; cách thức phản đứng ấy không chỉ là bất hợp lý mà còn là ngoan cố.

4/ Khủng hoảng đạo đức có thể sinh ra trong việc lựa chọn phương pháp hay hành động, khi các phương pháp này mâu thuẫn với mục đích hành động hoặc làm phương hại đến mục đích; chẳng hạn lựa chọn bạo lực để bình định nhân dân.

5/ Khủng hoảng đạo đức sẽ kéo theo những hậu quả không tốt trong một thời gian dài, các tác hại thường vượt qua lợi ích và thảm hoạ của nó, và làm mai một đi những phẩm chất căn bản.

Trong hiện tình đất nước, chúng ta phải công nhận đó là một sự khủng khoảng thật sự, vì sự đổ vỡ giá trị đạo đức diễn ra khắp nơi, và đặc biệt diễn ra một cách nghiệm trọng ở chính hai “cơ năng” chính, đó là tâm hồn và lương tri, tức ngành giáo dục và y tế. Hơn nữa, chúng ta còn thấy biểu hiện một sự lúng túng của những người có trách nhiệm : có nhiều bài nghiên cứu trong các tạp chí, có nhiều biện pháp đã được đề nghị. . . nhưng hình như chẳng đem lại biến chuyển tích cực nào!

2.2 Theo triết học

Về phương diện triết học, ta có thể diễn tả một cách đơn giản ý nghĩa của khủng hoảng là: ở đỉnh cao minh triết thì “siêu hình” và “luân lý” hoà nhập với nhau; còn ở mức độ la đà thì siêu hình và luân lý trở thành hai con đường riêng biệt chẳng dính dáng gì tới nhau. Mức độ “la đà” đó chính là nguồn cơn của khủng hoảng. Đây là “qui luật” của lịch sử nhân loại. Sự huỷ hoại sâu xa nhất của một tôn giáo, một tổ chức, một tập thể,… không phải là sự huỷ hoại tự bên ngoài, nhưng chính là một tình trạng mất căn tính từ bên trong, khi mà những đường nét “tinh thần” căn bản không còn là nguồn mạch của những phương sách cụ thể, nhưng chính những thứ “thích ứng” rẻ tiền đã lèo lái tất cả.

Thái độ thích ứng, kiểu giải quyết vấn đề bằng những biện pháp mà không phải là những thể hiện đương nhiên, phát xuất từ một nền tảng siêu hình chân chính sẽ làm cho tình hình càng ngày càng trở nên vá víu, mất phương hướng, giải quyết chỗ này lại nẩy sinh vẫn đề chỗ khác; bịt được điều này thì lại xì ra chỗ lủng ở điều khác. Chúng ta có thể thấy tình trạng lúng túng ấy trong vấn đề đạo đức của xã hội Việt Nam hôm nay.

Nói cách khác, qua một sự biến chuyển nào đó, cụ thể là sự biến chuyển của một nền kinh tế Việt Nam hiện nay, chúng ta có thể thấy những thiếu sót hay những chỗ lủng trong quan niệm về bản chất con người, một quan niệm mà có thể đã có một số thành công trong thời kinh tế chỉ huy. Việc triển khai những nền tảng tư tưởng duy vật và vô thần và triển khai một cách bắt buộc, rộng khắp đã không còn có thể tạo nền tảng cho tinh thần và sức sống của con người, đặc biệt trong lãnh vực luân lý, trong xã hội hôm nay.

Chú thích:

[1] Xin coi danh mục những đề tài nghiên cứu trong phần tham khảo.

[2] Xc. Lương Việt Hải, Về khái niệm “Hiện đại hoá xã hội”, Triết Học, số 1/2003, trang 14-15.

[3] Tâm Mạc, Làm gì để khắc phục “thập nạn” trong sinh viên ?, Tạp chí Phát triển giáo dục số 1, 1995; trích lại trong Nguyễn Đình Tường, Sđd, trang 19

[4] ĐCS Việt Nam, Văn Kiên Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996 tr. 137.

[5] Trần Văn Đoàn, Đại Học Tổng Hợp quốc gia Đài Loan, {An Anatomy of the moral crisis in the process of modernization, international journal of philosophy, vol 30, N.I.2001.p.1-17}; Trích lại trong Tài liệu : Trung Tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Nghiên Cứu Con Người, Trở Lại Với Con Người, Nxb Khoa Học Xã Hội , Hà Nội 2003.

[6] Xc. Hồ Sĩ Quý, Mấy Tư Tưởng Lớn của C. Mác về Con Người, Triết Học 6/2003, Viện Triết Học, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, trang 12-18.

[7] Xin tạm dùng từ “siêu nghiệm”, không phải theo nghĩa của “những siêu nghiệm” của Aristote, cũng không phải theo nghĩa của E. Kant…; không chỉ đối lập chủ trương duy nghiệm phê phán, nhưng cũng khác biệt với lập trường của triết học Mác,… để chỉ những phẩm tính căn bản của bản chất người, những phẩm tính trường tồn, nhưng chỉ được được lộ ra qua những biến chuyển của dòng lịch sử. Xin dùng từ “siêu nghiệm” ở đây với sắc thái hơi giống như lập trường “Duy thực ôn hòa” của Thánh Thomas trong vấn đề “các ý niệm phổ quát”.

Xem tiếp Phần 2 (phần cuối)